SKKN-Phương pháp dạy học Từ ngữ - Pdf 45

 Phương pháp dạy học từ ngữ ---- Trang 1
PHÒNG GIÁO DỤC CHÂU THÀNH
TRƯỜNG THCS NINH ĐIỀN

Người thực hiện:
Nguyễn Thò Thu Phượng
Tổ: Xã Hội.
NĂM HỌC: 2007 – 2008.
GV: Nguyễn Thò Thu Phượng
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TỪ
NGỮ
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TỪ
NGỮ
Tên đề tài:
 Phương pháp dạy học từ ngữ ---- Trang 2
BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
- Tên đề tài: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TỪ NGỮ
- Họ và tên tác giả: NGUYỄN THỊ THU PHƯNG
- Đơn vò công tác: Trường THCS Ninh Điền.
1. Lý do chọn đề tài:
- Ngôn ngữ là một yếu tố cơ bản cấu thành dân tộc, duy trì và phát
triển truyền thống văn hoá dân tộc.
- Phát huy năng lức giao tiếp và khả năng tư duy của học sinh.
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu là học sinh khối lớp 6.
- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu các tài liệu, đưa ra giải pháp
và tiến hành giảng dạy thí điểm, sau đó đánh giá, rút ra kinh nghiệm cho bản
thân.
3. Đề tài đưa ra giải pháp mới:
- Học sinh rèn luyện được nhiều kỹ năng giao tiếp, tăng vốn từ.
- Học sinh biến mình thành người tự khám phá ra kiến thức, tự tìm

phổ thông. Nên bản thân tôi và nhóm chuyên môn
của đònh thực hiện đề tài này: “ Phương pháp dạy học từ
ngữ ” .
2. Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh, giáo viên dạy ngữ văn trường THCS
Ninh Điền.
- Các phương pháp dạy từ ngữ.
3. Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu trong phạm vi dạy - học trường THCS
Ninh Điền.
4. Phương pháp nghiên cứu.
- Nghiên cứu tài liệu.
- Điều tra qua dự giờ, đàm thoại, kiểm tra đối
chiếu.
GV: Nguyễn Thò Thu Phượng
 Phương pháp dạy học từ ngữ ---- Trang 4
PHẦN II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
Trong hệ thống ngôn ngữ, từ ngữ là đơn vò tín
hiệu đích thực. Bản chất tín hiệu là tạo điều kiện cho
ngôn ngữ trở thành công cụ giao tiếp của loài người.
Từ vựng là một trong các bộ phận của hệ thống
ngôn ngữ, thiếu từ vựng thì không có bất kỳ ngôn
ngữ nào. Thành phần ngữ âm, thành phần ngữ
pháp cũng được thể hiện trong từ. Như vậy, dạy học
từ ngữ là bộ phận không thể thiếu trong chương trình
Tiếng việt ở trường phổ thông nói chung, và trường
THCS nói riêng.
Việc dạy học từ ngữ ngày càng có ý nghóa
cấp thiết vì tiếng Việt đương trong giai đoạn phát triển

quen ỉ lại hay sao?”. Vì vậy giáo dục phải giữ vai trò
quan trọng trong việc chuẩn hoá từ ngữ tiếng Việt
hiện đại.
Từ những điều trình bày trên có thể kết
luận một lần nữa rằng việc dạy từ ngữ là vô cùng
cần thiết và quan trọng, không những cần thiết cho
mục đích giáo dục ngôn ngữ, giáo dục thẩm mỹ mà
còn là điều kiện không thể thiếu để rèn luyện tư
duy, tạo cơ sở thuận lợi cho việc tiếp thu các môn học
khác trong nhà trường.
2. Cơ sở thực tiễn:
- Hiện trạng nắm và sử dụng từ ngữ của học
sinh chưa khả quan lắm. Khảo sát qua bài kiểm tra, bài
thi của học sinh ta còn thấy có quá nhiều lỗi về
dùng từ: lỗi lặp từ, sai chính tả, lỗi diễn đạt, dùng
từ không đúng nghóa, đặc biệt là lỗi dập khuôn theo
mẫu có sẵn. Điều đó đã phản ánh tình trạng nghèo
từ ngữ trong nhận thức, trong diễn đạt của học sinh.
- Tình trạng trên đáng lo ngại, nên đòi hỏi ta
phải có sự giáo dục ngôn ngữ kòp thời và chu đáo.
Trong đó việc dạy học từ ngữ trong nhà trường phổ
thông là hết sức cần thiết và quan trọng.
3. Nội dung vấn đề:
* Nguyên tắc dạy học từ ngữ: Trong phần cơ sở lý
luận chúng ta đã bàn đến các nguyên tắc dạy học
tiếng Việt. Các nguyên tắc đó là cơ sở lý thuyết
chung, chi phối toàn bộ việc dạy học tiếng Việt tuy
vậy mỗi phân môn ( từ vựng, ngữ pháp, làm văn….)
có những đặc trưng riêng, đòi hỏi một cách tiếp cận
thích hợp.

vấn đề và phát triển được năng lực tư duy. Vì nguyên
tắc này thường gắn liền với thực tiễn khách quan.
b) Nguyên tắc chức năng: Từ đảm bảo chức năng
gọi tên, chỉ quan niệm và thái độ tình cảm của
người nói hoặc người viết. Dạy từ cần làm cho học
sinh nắm được các chức năng này của chúng được
thể hiện như thế nào trong ngôn ngữ và trong lời nói.
Mặt khác, việc sử dụng từ ngữ còn tuỳ thuộc vào
lónh vực giao tiếp, mục đích giao tiếp, tức là phụ thuộc
các phong cách chức năng của ngôn ngữ. Khi dạy từ
phải gắn liền với đặc điểm phong cách chức năng
phải thấy sự chi phối của phong cách chức năng đối
với việc sử dụng lựa chọn sử dụng từ ngữ.
Ví dụ: Học sinh đọc các câu văn, câu thơ sau và cho
biết ý nghóa của nó, từ ngữ nào là trọng tâm biểu
đạt nội dung ý nghóa đó? Từ ngữ đó có chức năng gì
trong câu văn, câu thơ đó?
A. Bác đã đi rồi sao Bác ơi!
B. Thương thay thân phận con rùa
Ở đình đội hạc, ở chùa đội bia.
Trả lời:
A. Biểu lộ cảm xúc buồn, thương tiếc khi biết
Bác đã chết. Từ ngữ trọng tâm: “ đi rồi”; “ sao … ơi ! ”.
Chức năng: biểu cảm.
B. Thương cảm, đồng cảm với số phận con rùa
luôn chòu thiệt thòi. Từ ngữ trong tâm: “ thương thay”.
Chức năng biểu cảm.
GV: Nguyễn Thò Thu Phượng
 Phương pháp dạy học từ ngữ ---- Trang 7
Lưu ý: Trong ngôn bản này thì nó có chức năng

mượn đồng thời tích luỹ thêm vốn từ. Trong chương
trình có phân bổ các tiết dạy từ Hán Việt.
Ví dụ: khi dạy bài Từ Mượn ( Ngữ văn 6 / tập 1) cần
làm rõ cho học sinh biết được các nguồn gốc mượn từ
như n u, Hán Việt. Và cho biết vì sao ta mượn từ ?
Khi nào cần sử dụng từ mượn, khi nào không làm
giàu cho ngôn ngữ tiếng Việt và giữ gìn sự trong sáng
của tiếng Việt.
“ Đời sống xã hội ngày càng phát triển và đổi
mới. Có những chữ ta không có sẵn và khó dòch
đúng, thì cần mượn chữ nước ngoài. Ví dụ độc lập, tự do,
GV: Nguyễn Thò Thu Phượng
 Phương pháp dạy học từ ngữ ---- Trang 8
giai cấp, cộng sản… còn những tiếng ta có vì sao không
dùng mà cũng mượn chữ nước ngoài? Ví dụ:
Không gọi xe lửa mà gọi “ hoả xa”; máy bay mà
gọi là “ phi cơ”…
Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và
vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn
nó, quý trọng nó và làm cho nó ngày càng rộng
khắp. Của mình có mà không dùng, lại đi mượn của
nước ngoài, đó chẳng phải là đầu óc quen ỷ lại hay
sao?”
Hồ Chí Minh toàn tập.
* Phương pháp dạy học từ ngữ : Bàn về cách dạy lý
thuyết tiếng Việt nói chung, về tri thức từ vựng nói
riêng thật khó mà có một mẫu, và cũng không nên
có một mẫu duy nhất ứng dụng cho mọi trường hợp, vì
cách dạy học phải tuỳ theo đối tượng, tuỳ theo đặc
điểm của nội dung tri thức cần cho học sinh lónh hội,

các đơn vò tri thức và kỹ năng cần rèn luyện giáo
viên xác đònh các phương pháp, hình thức thích hợp cho
mỗi đơn vò tri thức. Sau những công việc trên giáo
viên bắt tay vào soạn giáo án để thức hiện đònh
hướng đã được dự đònh.
b) Giới thiệu bài mới tạo tâm thế tiếp nhận của học
sinh: Có nhiều cách giới thiểu bài mới nhưng chủ yếu
nhất là phương pháp thông báo – giải thích. Để thực
hiện phương pháp này, giáo viên có thể dùng hình
thức diễn giảng thông báo cho học sinh nắm được vấn
đề kiến thức nghiên cứu và ý nghóa của nó. Khi
thuuyết giảng, cần căn cứ vào các tri thức đã có
của học sinh rồi trên cơ sở đó mà hướng học sinh
tiếp cận tới vấn đề sẽ được nghiên cứu trong bài
học.
Ví dụ: Giới thiệu bài chữa lỗi dùng từ ( tiết
24 – Ngữ văn 6), giáo viên có thể giới thiệu như sau:
Qua quá trình học từ trước tới nay và qua bài làm của
các em, cô đã nhận thấy các em còn một số hạn
chế trong cách dùng từ, diễn đạt: lỗi chính tả, lỗi
cấu trúc, lỗi lặp từ…. Hôm nay các em sẽ tìm hiểu
nguyên nhân, cách khắc phục và cách chữa lỗi.
Cũng có thể vào bài bằng cách tạo ra một
tình huống có vấn đề có chứa đựng nhiệm vụ học
tập của bài học. Để tạo ra tình huống GV có thể sử
dụng hình thức diễn giảng, nêu vấn đề hoặc có thể
dùng hình thức đàm thoại với học sinh. Ví dụ: Để dạy
bài nghóa của từ ta có thể giới thiệu: Mỗi từ đều
có ý nghóa biểu đạt riêng. Vậy nghóa của từ là gì?
Muốn hiểu nghóa của từ ta phải làm gì? Có những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status