THỰC TRẠNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TÀI TRỢ SẢN XUẤT KINH DOANH
TẠI NHĐT & PT CHI NHÁNH ĐỒNG THÁP – PGD SA ĐÉC:
2.1 Khái quát Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Đồng Tháp (BIDV Đồng Tháp):
BIDV Đồng Tháp được thành lập theo quyết định số 284/GPUB của UBND tỉnh Đồng
Tháp ngày 26/06/1993: Trụ sở chính đặt tại số 12A Đường 30/4 – Phường 1 – Thành phố
Cao Lãnh – Tỉnh Đồng Tháp. BIDV Đồng Tháp có 03 đơn vị trực thuộc gồm: Phòng giao
dịch Sa Đéc, Phòng giao dịch Tháp Mười, Điểm giao dịch Hồng Ngự.
Về công tác huy động vốn, BIDV Đồng Tháp đã phải vượt qua rất nhiều khó khăn,
đặc biệt là sự cạnh tranh với các ngân hàng thương mại địa bàn. Thực hiện chỉ đạo của
ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, BIDV Đồng Tháp tích cực triển khai các chương
trình khuyến mãi cho huy động vốn như chương trình “ Tiết kiệm dự thưởng”, “ Ô trứng
vàng”, “ Kỳ phiếu BIDV” … cùng nhiều hình thức tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn, trái
phiếu… đặc biệt từ năm 2000 trở lại đây, chi nhánh mở thêm việc huy động ngoại tệ… nên
đã thu hút được một lượng lớn khách hàng tham gia gửi tiền.
Trong hoạt động tín dụng, BIDV Đồng tháp chú trọng mở rộng đối tượng vay đối với
các thành kinh tế, trong đó tập trung đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa, kết gắn với các
phương trình phát triển kinh tế - xã hội và định hướng kế toán của tỉnh trên cơ sở tư vấn,
thu xếp vốn và dịch vụ cho các dự án trên nguyên tắc an toàn, hiệu quả và cùng có lợi. Tích
cực tìm kiếm, hợp tác có lựa chọn đầu tư ngay từ đầu, trong đó tập trung các dự án mở
rộng, nâng cao năng lực thiết bị, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh…
2.2 Khái quát về chi nhánh ngân hàng Đầu tư và Phát triển Đồng Tháp Phòng giao
dịch Sa Đéc:
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của PGD Sa Đéc:
- Phòng giao dịch Sa Đéc được thành lập theo Quyết định số 485/QĐ - HĐQT của Hội
đồng quản trị NHĐT & PTVN ngày 26/11/2006 (tiền thân của nó là chi nhánh Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển khu vực Sa Đéc được thành lập theo quyết định số 3394/QĐ - HĐQT
của Hội đồng quản trị ngày 04/11/2002). Phòng giao dịch Sa Đéc là một đơn vị hạch toán
phụ thuộc, được sử dụng con dấu riêng trong giao dịch với khách hàng, chính thức đi vào
hoạt động ngày 15/11/2002 với chức năng của một ngân hàng thương mại hoạt động kinh
doanh trên địa bàn các huyện thị phía nam trên tỉnh Đồng Tháp gồm thị xã Sa Đéc, huyện
Châu Thành, huyện Lai Vung, huyện Lấp Vò. Trụ sở chính đặt tại 290A Nguyễn Sinh Sắc –
- Thực hiện chức năng quản lý lực lượng cán bộ công nhân viên trong biên chế
cũng như hợp đồng làm việc tại Chi nhánh. Chăm lo đời sống, vật chất, tinh thần cho toàn
thể cán bộ công nhân viên tại Chi nhánh.
- Thực hiện các chính sách chế độ, quy chế quy định của Nhà nước.
- Lập các thủ tục cần thiết trình lên giám đốc ra quyết định khen thưởng, nâng bậc
lương.
- Thực hiện các nghiệp vụ văn thư và các công tác hành chính khác.
- Tổ chức hạch toán, theo dõi, cân đối thu chi và các nghiệp vụ phát sinh hàng
ngày theo đúng chế độ pháp lệnh kế toán thống kê của Nhà nước.
- Thu thập số liệu để lập bảng cân đối hàng ngày, báo cáo tiền tệ hàng tháng, hàng
quý, báo cáo quyết toán cuối năm.
- Có trách nhiệm kiểm soát tồn quỹ tiền mặt hàng ngày.
- Kết hợp với các phòng ban trong NH xây dựng kế hoạch kinh doanh, thu chi tài
chính quý, năm.
Tổ DVKH & TTKQ:
- Chịu trách nhiệm giao dịch trực tiếp với khách hàng, giữ tiền và đưa tiền ra lưu
thông theo lệnh của Giám đốc, thực hiện giải ngân theo hợp đồng tín dụng.
- Nghiêm chỉnh chấp hành thực hiện theo đúng quy trình, thể lệ hướng dẫn của NH
cấp trên.
- Tất cả các loại tiền thu vào quỹ đều qua các thiết bị để kiểm tra phát hiện tiền
nghi giả, lập biên bản báo về cơ quan chức năng theo đúng quy trình hướng dẫn.
- Phối hợp với tổ kế toán thực hiện điều chuyển quỹ nghiệp vụ với BIDV Đồng
Tháp, các TCTD khác trên địa bàn, máy rút tiền tự động an toàn, đúng chế độ trên cơ sở
đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu tại NH.
- Luôn chấp hành đúng quy định của ngành, khi có nhu cầu vận chuyển tiền mặt
đều sử dụng ô tô vận chuyển.
Tổ Quan hệ khách hàng:
- Chịu trách nhiệm quan hệ với khách hàng, hướng dẫn khách hàng vay vốn, lập hồ
sơ vay vốn và giám sát quá trình sử dụng vốn của khách hàng.
- Trực tiếp điều tra thẩm định các khoản vay của khách hàng.
- Giấy đề nghị vay vốn.
- Hồ sơ pháp lý về khách hàng.
- Giấy phép thành lập, giấy đăng ký kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền xác
nhận.
- Các báo cáo tài chính như: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh
doanh…của các kỳ và các năm ( 2 năm ) gần nhất so với ngày đề nghị vay.
- Hồ sơ về dự án vay vốn, phương án sản xuất kinh doanh: trong phương án sản
xuất kinh doanh phải tính toán được hiệu quả kinh tế và xác định được nguồn tài trợ,
trường hợp cấp thiết phải có sự chấp nhận của cơ quan chủ quản cấp trên.
- Các tài liệu chứng minh hợp pháp và giá trị các tài sản đảm nợ vay.
Bước 2: Ngân hàng thẩm định hồ sơ vay vốn và khả năng trả nợ:
Ngân hàng nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng gửi tới, ngân hàng tiến hành thẩm
định hồ sơ.
- Ngân hàng xây dựng quy trình xét duyệt cho vay theo nguyên tắc đảm bảo tính
độc lập, phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm liên đới giữa khâu thẩm định
và quyết định cho vay.
- Ngân hàng tiến hành kiểm tra các tài liệu khách hàng gửi tới, đồng thời tiến hành
thẩm định tính khả thi, hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh và khả năng hoàn trả
nợ vay.
Thẩm định hồ sơ vay vốn là quá trình xem xét, phân tích các thông tin, số liệu đã
thu nhập trong hồ sơ của khách hàng. Mục đích là xác định giới hạn an toàn của quan hệ
tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng vay vốn.
Trong thời gian theo quy định của quy chế cho vay, kể từ khi ngân hàng nhận được
đầy đủ hồ sơ cho vay vốn hợp lệ và thông tin cần thiết của khách hàng theo yêu cầu của
ngân hàng, ngân hàng phải thẩm định xong hồ sơ vay vốn, quyết định và thông báo việc
cho vay, ngân hàng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản, trường hợp nếu không
cho vay thì ngân hàng phải nêu rõ căn cứ từ chối cho vay.
Trường hợp ngân hàng quyết định cho vay, giữa ngân hàng và khách hàng vay ký
hợp đồng thế chấp tài sản đảm bảo nợ vay.
Bước 3: Ngân hàng xác định các chỉ tiêu cho vay ký kết hợp đồng tín dụng
+ Do nguyên nhân khách quan, khách hàng có văn bản giải trình xin gia hạn nợ,
ngân hàng có thể xét cho gia hạn nợ. Theo quy định trong quy chế cho vay hiện hành của
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, thời hạn gia hạn nợ tối đa bằng một kỳ hạn nợ. nhưng do
nguyên nhân khách quan thì thời hạn quá hạn nợ tối đa không quá 12 tháng đối với cho vay
ngắn hạn và trung hạn tối đa nửa thời hạn cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
+ Do nguyên nhân chủ quan, ngân hàng sẽ chuyển nợ quá hạn và phạt theo mức lãi
suất nợ quá hạn. Theo quy định hiện hành, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay.
+ Nếu không có thỏa thuận gia hạn nợ nêu trên và khách hàng không có thiện chí trả
nợ cho ngân hàng thì ngân hàng có quyền bán tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi nợ. Việc
chuyển nhượng, bán tài sản thế chấp, cầm cố để thu hồi vốn trong một thời gian nhất định
theo quy định của pháp luật.
+ Nếu ba trường hợp trên hai bên không thỏa thuận để giải quyết được, ngân hàng
sẽ khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng.
Việc tính lãi, thu lãi được tiến hành hàng tháng hoặc thu một lần cùng với nợ gốc
tùy theo kỳ hạn nợ thích hợp giữa ngân hàng và khách hàng thỏa thuận. Trường hợp cho
vay theo hạn mức thì việc tính lãi và thu lãi được thực hiện hành tháng vào ngày cuối
tháng. Nếu khách hàng vay chưa trả được lãi khi đến hạn và có đề nghị gia hạn thì ngân
hàng tính và hạch toán vào tài khoản ngoại bảng để thu dần vào kỳ sau, không nhập lãi vào
nợ gốc. Trong trường hợp khách hàng vay gặp khó khăn về tài chính do nguyên nhân
khách quan thì tổng giám đốc ngân hàng cho vay có thể quyết định cho giảm hoặc miễn lãi
đối với khách hàng vay. Việc giảm hoặc miễn lãi của khách hàng tùy theo khả năng tài
chính của ngân hàng cho vay.
Bước 6: Kết thúc hợp đồng tín dụng:
- Tất toán tài khoản.
- Thanh lý hợp đồng tín dụng.
- Giải chấp tài sản bảo đảm tiền vay.
- Lưu hồ sơ.
2.3 Thực trạng nguồn vốn tại BIDV chi nhánh Đồng Tháp – PGD Sa Đéc giai đoạn
(2008 – 2010):
2.3.1 Phân tích tình hình nguồn vốn:
nguồn
vốn
241.21
7
100
249.33
4
100 358.709 100 8.171 3,39 109.371 43,87
(Nguồn: Tổ tín dụng PGD Sa Đéc)
Từ bảng số liệu ta có thể thấy được tổng nguồn vốn năm 2008 là 241.217 triệu đồng,
sang năm 2009 tăng thêm 8.117 triệu đồng đạt 249.334 triệu đồng, tương đối tăng 3,39%
so với năm 2008. Qua năm 2010 tổng nguồn vốn lại tăng từ 249.334 triệu đồng lên
385.709 triệu đồng, giá trị tăng tuyệt đối là 109.371 triệu đồng tương đối tăng 43,87% so
với 2009.
Nguồn vốn điều chuyển là nguồn vốn mà ngân hàng trung ương để chuyển cho các
ngân hàng chi nhánh trong cùng hệ thống của mình tại PGD Sa Đéc – BIDV chi nhánh
Đồng Tháp, năm 2008 nguồn vốn điều chuyển đạt 136.812 triệu đồng. Chiếm tỷ trọng
56,73% trong tổng nguồn vốn của PGD, sang 2009 lại giảm 54.419 triệu đồng, chỉ đạt
82.393 triệu đồng, chỉ chiếm 33,04% trong tổng nguồn vốn của PGD tức giảm 39,78% so
với năm 2008. Nguồn vốn huy động tại chỗ của ngân hàng qua số liệu cho thấy có sự tăng
lên qua hai năm. Năm 2008 vốn huy động đạt 104.355 triệu đồng. sang năm 2009 đạt
166.945 triệu đồng. Điều đó cho thấy hoạt động huy động vốn của PGD tăng trưởng sang
năm 2009, thu hút được nhiều khách hàng gửi tiết kiệm vào PGD với việc mở rộng hình
thức và đa dạng loại hình huy động, có nhiều khuyến mại hấp dẫn, đáp ứng được với
những nhu cầu của khách hàng.
Đến năm 2010 đã có sự ảnh hưởng trong cơ cấu nguồn vốn của PGD, vốn điều
chuyển chiếm tỷ trọng thấp hơn vốn huy động là 45,37% trên tổng nguồn vốn 162.732
triệu đồng, nhưng lại cao hơn 80.339 triệu đồng, tức tăng 97,51% so năm 2009. Tuy nguồn
vốn huy động của PGD năm 2010 có tăng lên so với năm 2009 là 29.032 triệu đồng tương
đối tăng 17,39% nhưng lại thấp hơn nhiều với tốc độ tăng của vốn điều chuyển. Qua số
trọng
(%)
Số tiền
Tỷ
trọng
(%)
Số
tiền
% Số tiền %
1. Tiền gửi
của TCTD
400 0,38 173 0,1 319 0,16 - 227 -57,76 146 83,39
2. Tiền gửi
thanh toán
36.814 35,28 52.362 31,36 28.828 14,71 15.548 42,23 -23.534 -44,94
3.Tiền gửi
không kỳ
hạn
327 0,31 214 0,13
95
0,05 -113 -34,56 -119 -55,61
4. Tiền gửi
có kỳ hạn
9.000 8,62 8.000 4,79 42.000 21,43 -1.000 -11,1 34.000 425
5. Tiền gửi
tiết kiệm
dưới 12
tháng
46.753 44,8 95.719 57,34 109.569 55,91 48.966
104,7
Tiền gửi thanh toán:
Năm 2009 tiền gửi thanh toán đạt 52.362 triệu đồng tăng so với năm 2008 là 15.548
triệu đồng tương đương 42,23%. Trong năm 2010 đạt 28.282 triệu đồng, giảm 23.534 triệu
đồng tương đương 44,94% so với năm 2009.
Tiền gửi không kỳ hạn:
Năm 2009 tiền gửi không kỳ hạn đạt 214 triệu đồng, giảm 113 triệu đồng, tỷ lệ
giảm 34,56% so với năm 2008. Trong năm 2010 đạt 95 triệu đồng, giảm 119 triệu đồng, tỷ
lệ giảm là 55,61% so năm 2009.
Cả hai loại hình tiền gửi thanh toán và tiền gởi không kỳ hạn là nguồn tiền gửi
không ổn định do đó khi sử dụng Ngân hàng cần có một tỷ lệ dự trữ thích đáng. Trong năm
2010 hai loại hình trên đều giảm là do lãi suất tiền gửi thấp hơn các loại hình tiền gửi khác
nên khách hàng ít chọn loại hình tiền gửi này, chủ yếu khách hàng có gửi chỉ dùng cho việc
thanh toán tiền trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mua bán hàng.
Tiền gửi có kỳ hạn:
Năm 2009 tiền gửi có kỳ hạn đạt 8.000 triệu đồng, giảm 1.000 triệu đồng, ứng với
tỷ lệ giảm 11,1% so với năm 2008. Trong năm 2010 đạt 42.000 triệu đồng, tăng 34.000
triệu đồng, tỷ lệ tăng 425% so với năm 2009.
Năm 2009 tiền gửi có kỳ hạn giảm hơn so với năm 2008 là do lãi suất huy động tiền
gửi giảm nên khách hàng hạn chế gởi tiền vào ngân hàng, mà khách hàng lại chuyển sang
loại hình kinh doanh khác bằng việc mua vàng, vì giá vàng trong thời điểm đó giá vàng
tăng mà lãi suất Ngân hàng lại có xu hướng giảm. Qua năm 2010 tiền gửi có kỳ hạn tăng
vượt bậc chiếm tỷ lệ 425% so với năm 2009, là do nền kinh tế có sự tăng trưởng, dẫn đến
thu nhập của khách hàng tăng lên, tỷ lệ vốn nhàn rỗi cũng tăng, nên khách hàng chọn gửi
tiền vào Ngân hàng, trong khi đó lãi suất huy động Ngân hàng tăng mà giá vàng đã bình ổn
trở lại.
Tiền gửi tiết kiệm dưới 12 tháng:
Tính đến cuối năm 2009 tiền gửi tiết kiệm đạt 95.719 triệu đồng, tăng 48.966 triệu
đồng tương đương tỷ tăng là 104,73% so với năm 2008. Cuối năm 2010 đạt 109.569 triệu
đồng, tăng so với 2009 với số tiền là 13.850 triệu đồng, tỷ lệ tăng 14,47%.
Tiền gửi tiết kiệm trên 12 tháng: