MỤC LỤC
trang
MỞ BÀI……………………………………………………………………..
NỘI DUNG…………………………………………………………………
1.Một số vấn đề lý luận về kết hôn có yếu tố nước ngoài……………….
1.1. Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài……………………………....
1.2. Nguyên tắc áp dụng Luật và thẩm quyền giải quyết kết hôn có
yếu tố nước ngoài…………………………………………………………….
1.2.1. Nguyên tắc áp dụng Luật…………………………………………......
1.2.2. Thẩm quyền giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài…………..
1.3. Điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài…………………………………
1.4. Nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài………………………………..
1.5. Ý nghĩa việc kết hôn có yếu tố nước ngoài …………………………….
2. Một số vấn đề thực tiễn của việc kết hôn có yếu tố nước ngoài……...
2.1.Thực tiễn áp dụng pháp luật về việc kết hôn có yếu tố nước ngoài…..
2.1.1. Ưu điểm……………………………………………………………….
2.1.2. Nhược điểm…………………………………………………………...
2.2. Thực tiễn việc kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay…………………………………………………………………
2.2.1.Khái quát chung……………………………………………………......
2.2.2.Nguyên nhân ………………………………………………………......
3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiểu quả điều chỉnh việc kết hôn
có yếu tố nước ngoài……………………………………………………......
3.1. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật về kết
hôn có yếu tố nước ngoài……………………………………………………
3.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc kết hôn có yếu tố nước
ngoài ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay…………………………………
KẾT LUẬN…………………………………………………………………..
ngày càng phát triển đa dạng và phong phú. Việc nghiên cứu vấn đề lý luận
cũng như thực tiễn của việc kết hôn có yếu tố nước ngoài có yếu tố hết sức
quan trọng. Nhận thức được tầm quan trọng này, em chọn đề tài “Kết hôn có
yếu tố nước ngoài – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm bài tập lớn học
kỳ môn Luật hôn nhân và gia đình của mình.
NỘI DUNG
1.Một số vấn đề lý luận về kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.1. Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài
Theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 2000:
“Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp
luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Tiếp đó, khoản 14 Điều 8 Luật
hôn nhân
gia đình năm 2000 thì ta có thể hiểu kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc
xác lập quan hệ vợ chồng giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài,
giữa những người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam hoặc giữa
những người công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan
đến quan hệ đó ở nước ngoài.
Theo Điều 103 Luật hôn nhân gia đình 2000: “Trong việc kết hôn giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật
của nước mình về điều kiện kết hôn”. Như vậy, việc đăng ký kết hôn giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài dù việc đăng ký kết hôn được tiến
hành ở Việt Nam hay ở nước ngoài cũng phải tuân theo pháp luật Việt Nam
về điều kiện kết hôn. Cũng theo Điều 103, thì việc kết hôn giữa những người
nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước cơ quan thẩm quyền tại Việt Nam
cũng phải tuân theo các quy định của Luật hôn nhân gia đình về điều kiện
kết hôn.
Kết hôn có yếu tố nước ngoài là lĩnh vực khá phức tạp bởi liên quan
tới nhiều quốc gia có các hệ thống pháp luật khác nhau, với những phong tục
không đồng nhất. Việc giải quyết quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
luật Việt Nam về điều kiện kết hôn.
Trong trường hợp có sự vi phạm pháp luật Việt Nam về kết hôn,
nhưng vào thời điểm yêu cầu công nhận việc kết hôn, hậu quả của sự vi
phạm đó là có lợi cho việc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, thì hôn
nhân đó cũng được công nhận tại Việt Nam. Đây thực sự là quy định mang
tính nhân đạo, là sự thể hiện của nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích của
công dân trong lĩnh vực kết hôn có yếu tố nước ngoài.
1.2.2. Thẩm quyền giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài
Trong các văn bản pháp luật về hôn nhân gia đình hiện hành quy định
về thẩm quyền giải quyết việc hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài thì
thẩm quyền giải quyết việc kết hôn được xác định tại khoản 1 Điều 102 Luật
hôn nhân gia đình 2000 cùng với khoản 1 Điều 3 và điều 12 Nghị định
68/2002/NĐ-CP. Ngoài ra, thẩm quyền đăng ký kết hôn còn được quy định
tại các văn bản khác như Nghị định 69/2006/NĐ-CP, Nghị định
158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch.
Theo các văn bản này thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc kết
hôn có yếu tố nước ngoài như sau:
-Trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài
thì UBND tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam có thẩm quyền đăng
ký kết hôn
-Trường hợp kết hôn người nước ngoài với nhau tại Việt Nam thì cơ
quan có thẩm quyền là UBND tỉnh nơi cư trú của người nước ngoài.
-Đối với việc kết hôn giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên
giới với công dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt
Nam thì sẽ do Chính phủ quy định.
-Trường hợp công dân Việt Nam với nhau kết hôn ở nước ngoài hoặc
giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ở nước đó thì cơ quan có
thẩm quyền giải quyết là cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của
Việt Nam ở nước sơ tại.
1.3. Điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài.
1.4. Nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài
Xuất phát từ bản chất giai cấp của nhà nước, từ phong tục tập quán mà
pháp luật các nước có quy định nghi thức kết hôn khác nhau. Ở Việt Nam
theo quy định tại Điều 11 Nghị định 68/2002/NĐ-CP và điều 57 Bộ luật dân
sự 2005 thì việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thực hiện theo nghi thức pháp luật quy định. Mọi nghi thức kết hôn
không theo các quy định của pháp luật về đăng ký kết hôn đều không có giá
trị pháp lý.
Theo Nghị định số 68/2002/NĐ-CP và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP
sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 68/2002/NĐ-CP về hôn nhân có
yếu tố nước ngoài quy định về trình tự, thủ tục giải quyết việc kết hôn có
yếu tố nước ngoài được thực hiện như sau:
Bước 1, Các bên đương sự chuẩn bị đầy đủ hồ sơ theo quy định của
pháp luật. Hồ sơ gồm: giấy đăng ký kết hôn theo quy định, giấy xác nhận
tinh trạng hôn nhân của mỗi bên, giấy xác nhận của tổ chức y tế, bản sao có
công chứng hoặc chứng thực giấy chứng minh thư nhân dân (hoặc hộ chiếu
hay giấy tờ thay thế), bản sao có công chứng, hoặc chứng thực sổ hộ khẩu
hoặc giấy tờ chứng nhận nhân khẩu hay thẻ thường trú. Ngoài ra còn một số
giấy tờ khác theo quy định của pháp luật.