Bài tập lớn học kỳ bình luận điều 44,45 luật thương mại 2005 - Pdf 23

Bài tập học kỳ
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong giai đoạng hội nhập mạnh mẽ với các nước trong
khu vực và quốc tế, vì vậy nền kinh tế của nước ta có những thay đổi hết sức
căn bản để đáp ứng được nhu cầu hội nhập. Sự phát triển nhanh chóng của
khu vực kinh tế tư nhân và sự cải cách mạnh mẽ của khu vực kinh tế nhà
nước đã thúc đẩy việc cải cách pháp luật của công ty ở Việt Nam. Quốc hộ đã
ban hành Luật Doanh Nghiệp 2005 để tạo ra sân chơi bình đẳng cho các
thành phần kinh tế. Ở Việt Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm số lượng
rất lớn. Do vậy, loại hình công ty TNHH chiếm vị trí quan trọng và là sự lựa
chọn hàng đầu của nhà đầu tư. Việc nhượng bán phần vốn góp trong công ty
TNHH là một vấn đề pháp lý và kinh tế có ý nghĩa lớn hiện nay, bởi nó là một
tài sản kinh doanh phụ thuộc nhà đầu tư và nhà đầu tư rất linh động khi sử
dụng quyền này để tiến hành hoạt động kinh doanh. Trong khi đó pháp luật
Việt nam hiện nay còn khá nhiều bất cập liên quan. Vì vậy, em chọn đề bài:
“Bình luận điều 44, điều 45 của Luật doanh nghiệp 2005” để làm đề bài cuối
kỳ của mình.
B. NỘI DUNG
I. Khái niệm về phần vốn góp của thành viên trong công ty TNHH
Luật Thương Mại Module 1 Page 1
Bài tập học kỳ
Trong công ty TNHH, ta thấy được rằng có sự tách bạch giữa tài sản của
người góp vốn và tài sản của công ty TNHH, tài sản của người góp vốn sau
khhi góp vào để thành lập công ty thì tài sản dó thuộc quyền sở hữu của công
ty TNHH chứ không còn thuộc quyền sở hữu của người góp vốn. Những
người đã góp vốn thành lập công ty trở thành đồng chủ sở hữu công ty. Mỗi
người trong số họ chiếm một phần trong tổng số vốn góp của công ty và được
gọi là phần vốn góp của người góp vốn. Vậy phần vốn góp là gì?
Theo khoản 5 điều 4 Luật Doanh Nghiệp 2005: “Phần vốn góp là tỷ lệ vốn
mà chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công ty góp vào vốn điều lệ”.

thuận hoặc do pháp luật quy định. Các điều khoản này làm phát sinh quyền
và nghĩa vụ của các bên. Trong khoa học pháp lý, điều khoản của hợp đồng
được chia làm 3 loại: điều khoản căn bản, điều khoản thông thường, điều
khoản tùy nghi. Định đoạt phần vốn góp thông qua hình thức chuyển nhượng
thì phải có thêm những nội dung như sau:
- Giá và phương thức thanh toán. Giá cả do các bên tự do thỏa thuận.
Giá của phần vốn góp phụ thuộc rất nhiều vào tình hình hoạt động của
công ty. Về phương thức thanh toán các bên có thể thỏa thuận thanh
toán bằng tiền đồng Việt Nam, hoặc đồng ngoại tệ, bằng vàng
- Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên: đây là nội dung không thể thiếu trong
hợp đồng, nó quyết định một hợp đồng có hình thành và thực hiện
được hay không
II. Nội dung điều 44, điều 45 Luật Doanh Nghiệp và một số
vướng mắc cần sửa đổi
Luật Thương Mại Module 1 Page 3
Bài tập học kỳ
Điều 44, 45 Luật Doanh nghiệp quy định một số hình thức định đoạt phần
vốn góp của thành viên trong công ty TNHH. Trong đó, điều 44 quy định về
vấn đề chuyển nhượng phần vốn góp, điều 45 quy định một số hình thức xử lý
tài sản góp vốn khác
1. Bình luận Điều 44 Luật Doanh nghiệp: “Chuyển nhượng phần vốn góp”
“Trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 45 của Luật này, thành viên công
ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một
phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau
đây:
1. Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng
với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện;
2. Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các
thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời
hạn ba mươi ngày, kể từ ngày chào bán.”

Từ quy định của điều luật, ta thấy xuất phát từ bản chất “tính đóng” của
công ty TNHH nên việc tiếp nhận thành viên mới rất hạn chế, do đó thành
viên không được tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người
khác không phải là thành viên. Tuy nhiên, xét dưới góc độ bản chất của quyền
sở hữu, rõ ràng quy định hạn chế khả năng chuyển nhượng phần vốn góp của
thành viên như trên là chưa thỏa đáng. Bản chất của chuyển nhượng vốn là
một giao dịch mua bán phần vốn góp, đối tượng của giao dịch là quyền sở
hữu phần vốn góp - một loại quyền sở hữu tài sản theo pháp luật dân sự. Do
vậy, nhà làm luật không nên “định hướng” cho thành viên về đối tượng nhận
chuyển nhượng phần vốn góp là ai, thành viên phải chuyển nhượng cho ai
trước, ai sau Đây là một giao dịch mua bán, và do vậy nhà làm luật hy vọng
để cho người bán, người mua tự tìm thấy nhau đề thực hiện giao dịch với tất
cả ý chí tự do của mình. Mặt khác, nguyên tắc “thừa trong nhà mới ra người
ngoài” quy định tại điều 44 Luật Doanh Nghiệp cũng không triệt để, bởi
Luật Thương Mại Module 1 Page 5
Bài tập học kỳ
thành viên chuyển nhượng có thể đưa ra giá mua phần vốn góp rất cao để
loại trừ khả năng mua của các thành viên hiện hữu, khi đó thành viên chuyển
nhượng sẽ đạt được mục đích là chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho
cá nhân, tổ chức bên ngoài công ty với giá “ưu đãi” hơn giá chào bán cho các
thành viên hiện hữu ban đầu. Ở đây, rõ ràng nhà làm luật không thể định
hướng luôn cả về giá chuyển nhượng phần vốn góp, do vậy thành viên chuyển
nhượng có toàn quyền quyết định giá chuyển nhượng phần vốn góp của mình
trong từng trường hợp chuyển nhượng cụ thể. Như vậy, Luật Doanh Nghiệp
2005 (và cả Luật Doanh Nghiệp 1999) tuy không còn quy định việc thành viên
công ty muốn chuyển nhượng vốn phải được sự đồng ý của các thành viên
còn lại, nhưng với quy định điều kiện chuyển nhượng quá chặt chẽ như trên
phần nào gây cản trở quyền định đoạt phần vốn góp của thành viên. Xuất
phát từ quan điểm cá nhân, em cho rằng, nhà làm luật nên để các thành viên
tự thỏa thuận về việc chuyển nhượng phần vốn góp trong từng trường hợp

một cách mà người nhận thanh toán có quyền sử dụng phần vốn góp đó là
chào bán và chuyển nhượng phần vốn góp đó theo quy định tại điều 44 của
Luật Doanh Nghiệp”. Với quy định của pháp luật như vậy, thực tiến áp dụng
có nhiều lúng túng khi trường hợp người nhận thanh toán muốn chào bán và
chuyển nhượng phần vốn góp theo quy định tại điều 44 nhưng lại bị chính
điều 44 không cho phép.
2. Bình luận Điều 45 Luật Doanh Nghiệp: Xử lý phần vốn góp trong các
trường hợp khác
“1. Trong trường hợp thành viên là cá nhân chết hoặc bị Toà án tuyên bố là
đã chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của thành viên đó
là thành viên của công ty.
Luật Thương Mại Module 1 Page 7
Bài tập học kỳ
2. Trong trường hợp có thành viên bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi
dân sự thì quyền và nghĩa vụ của thành viên đó trong công ty được thực hiện
thông qua người giám hộ.
3. phần vốn góp của thành viên được công ty mua lại hoặc chuyển nhượng
theo quy định tại Điều 43 và Điều 44 của Luật này trong các trường hợp sau
đây:
a) Người thừa kế không muốn trở thành thành viên;
b) Người được tặng cho theo quy định tại khoản 5 Điều này không được Hội
đồng thành viên chấp thuận làm thành viên;
c) Thành viên là tổ chức bị giải thể hoặc phá sản.
4. Trường hợp phần vốn góp của thành viên là cá nhân chết mà không có
người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa
kế thì phần vốn góp đó được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân
sự.
5. Thành viên có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của
mình tại công ty cho người khác.
Trường hợp người được tặng cho là người có cùng huyết thống đến thế hệ

Trường hợp người được tặng cho là người có cùng huyết thống đến thế hệ
thứ ba thì họ đương nhiên là thành viên của công ty. Trường hợp người được
tặng cho là người khác thì họ chỉ trở thành thành viên của công ty khi được
Hội đồng thành viên chấp thuận”.
Từ quy định này ta thấy còn một vướng vắc đó là cơ sở pháp lý và cơ sở
thực tiễn nào dẫ đến quy định như vậy. Việc chỉ sử dụng căn cứ huyết thồng”
để xác định phạm vi người được tặng cho rõ ràng không hợp lý khi pháp luật
thừa nhận nguyên tắc bình đảng giữa cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi. Việc giới
hạn phạm vi huyết thống đến thế hệ thứ ba như vậy cũng không có cơ sở
pháp lý. Vì quyền tặng cho là quyền của mỗi người (chủ sở hữu). Để tránh
Luật Thương Mại Module 1 Page 9
Bài tập học kỳ
ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp, cần thiết lập cơ chế kiểm soát
chứ không phải là quy định giới hạn phạm vi người được tặng cho.
Theo quy định của pháp luật, nếu ngưới được tặng cho là người có cùng
huyết thống đến thế hệ thứ 3 thì người được tặng cho đương nhiên là thành
viên mà không cần phải có sự chấp thuận của Hội đồng thành viên. Còn nếu
người được tặng cho không phải là người có cùng huyết thống đến thế hệ thứ
ba thì cần phải được sự chấp thuận của Hội đồng thành viên mới trở thành
thành viên của công ty
Ví dụ tình huống cụ thể:
Một thành viên sở hữu 70% vốn điều lệ cảu Công ty TNHH X. Thành viên
này tặng cho phần vốn góp cho vợ và con nuôi mình. Vấn đề đặt ra là: Việc
chuyển nhượng có phải được Hội đồng thành viên chấp thuận không? Nếu
phải được Hội đồng thành viên chấp thuận thì người được tặng cho có quyền
biểu quyết không? Nếu phải được Hội đồng thành viên chấp thuận thì tỷ lệ
biểu quyết là bao nhiêu phần trăm?
Vì vợ và con nuôi của thành viên không phải là người có cùng huyết thống
đến thế hệ thứ 3 nên theo quy định tại Khoản 5 Điều 45 Luật Doanh nghiệp
2005 về việc chuyển nhượng phải được Hội đồng thành viên chấp thuận. Điều

người nhận thanh toán có thể trở thành thành viên của công ty nếu được Hội
đồng thành viên chấp thuận hoặc chào bán và chuyển nhượng phần vốn góp
đó theo quy định tại điều 44 của Luật doanh nghiệp nếu không muốn trở
thành thành viên của công ty hoặc không được hội đồng thành viên chấp
thuận trở thành thành viên của công ty. Ở đây ta thấy có sự mâu thuẫn trong
việc áp dụng điều luật. Theo quy định điều 44 thì loại trừ những trường hợp
quy định tại khoản 6 điều 45, còn khoản 6 điều 45 lại dẫn chiếu ngược lại
điều 44. Theo phân tích ở trên ta thấy việc yêu cầu công ty mua lại phần vốn
góp và chuyển nhượng theo điều 44 là rất khó khăn. Vật liệu có người nhận
thanh toán nào dám nhận phần vốn góp để thay cho nghĩa vụ trả nợ không.
Luật Thương Mại Module 1 Page 11
Bài tập học kỳ
Vì vậy, khoản 6 điều 45 dẫn chiếu ngược lại điều 44 Luật doanh nghiệp là
không hợp lý.
Qua việc bình luận ở trên, xuất phát từ quan điểm cá nhân, em thấy cần hoàn
thiện quy định của pháp luật về chuyển nhượng phần vốn góp và sửa đổi quy
định về thừa kế phần vốn góp.
- Thứ nhất, đối với việc hoàn thiện quy định của pháp luật về chuyển
nhượng phần vốn góp: ta thấy quy định tại điều 44 Luật Doanh nghiệp
2005 còn một số vướng mắc, nên trong thực tiên áp dụng có nhiều lúng
túng vì điều 44 loại trừ khoản 6 điều 45, nhưng khoản 6 điều 45 lại dẫn
chiếu ngược lại điều 44. Do đó Luật Doanh nghiệp nên laoij bỏ quy định
loại trờ tại điều 44
- Thứ 2, về sửa đổi quy định về thừa kế phần vốn góp: Theo quy định tại
điều 634 Bộ Luật dân sự thì di snar thừa kế là tài sản của người chết để
lại. Tài sản bao gồm tiền, vật trị giad được bằng tiền, quyền tài sản. Tuy
nhiên khoản 1 điều 45 Luật Doanh nghiệ quy định trường hợp thành
viên là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật
của thành viên đó là thành viên công ty. Với quy định như vậy thì tư
cách thành viên chính là di sản thừa kế, trái với quy định của Bộ luật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status