Bài tập lớn học kỳ Luật Hình sự Việt Nam - Pdf 27

Bài tập lớn học kỳ Luật Hình sự Việt Nam module 2
LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội ngày càng phát triển thì tình hình tội phạm cũng ngày càng gia tăng.
Những tội phạm thực hiện hành vi trái pháp luật gây ra những hậu quả nguy
hiểm cho các quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ thì đều phải chịu trách
nhiệm hình sự trước pháp luật. Để hiểu rõ hơn về loại tội phạm xâm phạm sở
hữu – một loại tội phạm khá phổ biến, trong đó tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản là một ví dụ điển hình, từ đó có những giải pháp làm giảm thiểu tiến
tới loại bỏ nó ra khỏi đời sống xã hội, sau đây em sẽ phân tích làm rõ tình huống
trong đề bài số 1 như sau:
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Hãy xác định tội danh cho hành vi của A
Hành vi của A cấu thành “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
(Điều 140 BLHS):
• Về dấu hiệu pháp lý:
Điều 140 BLHS quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao gồm
hai loại trường hợp sau:
* Thứ nhất, bằng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn, chiếm đoạt tài sản của người
khác đã được giao cho mình trên cơ sở hợp đồng vay mượn, thuê,…
* Thứ hai, sử dụng tài sản của người khác đã được giao cho mình trên cơ sở hợp
đồng vay, mượn, thuê,… vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng
trả lại tài sản.
Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cấu thành tội khi thỏa mãn
một trong các dấu hiệu sau:
- Tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên;
- Gây hậu quả nghiêm trọng;
Vi Thị Hồng Duyên 1 MSSV : 351953
Bài tập lớn học kỳ Luật Hình sự Việt Nam module 2
- Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt;
- Đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
 Chủ thể của tội phạm:

cho người khác thì tùy từng trường hợp người phạm tội còn bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích, hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác.
Trong tình huống này thì khách thể của tội phạm chính là lượng dầu mà A đã
chiếm đoạt được sau nhiều lần thực hiện hành vi gian dối, tổng tài sản chiếm đoạt
trị giá 100 triệu đồng.
 Mặt khách quan của tội phạm:
• Hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi
chiếm đoạt toàn bộ hay một phần tài sản đã được giao trên cơ sở hợp đồng đã
được ký kết giữa chủ tài sản và người có hành vi chiếm đoạt.
Hành vi chiếm đoạt ở đây là những hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ
cam kết. Những hành vi đó là những hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ cam
kết:
- Không trả lại tài sản bằng thủ đoạn bỏ trốn hoặc bằng thủ đoạn gian dối (như giả
tạo bị mất, đánh tráo tài sản, rút bớt tài sản,…) hoặc
- Không trả lại được tài sản do không có khả năng vì đã sử dụng tài sản vào mục
đích bất hợp pháp (như dùng vào việc buôn lậu, buôn bán hàng cấm hay đánh
bạc...)
Hành vi gian dối của A đã được miêu tả kỹ trong đề bài : “Khi nhận được dầu
A chạy xe tới điểm thu mua dầu của B và nhanh chóng rút dầu ra bán cho B mỗi
Vi Thị Hồng Duyên 3 MSSV : 351953
Bài tập lớn học kỳ Luật Hình sự Việt Nam module 2
lần 200 lít. Sau đó A đổ đầy nước vào chiếc thùng phuy không mang sẵn đúng 200
lít. Đến địa điểm giao hàng, chiếc xe được cân đúng trọng lượng quy định nên
được nhập dầu vào kho. Trong thời gian chờ đợi cân trọng lượng của xe sau khi
giao dầu, A đã bí mật đổ hết số nước đã chất lên xe để khi cân chỉ còn đúng trọng
lượng của xe”. Ban đầu sau khi nhận được dầu thật, A bí mật đem bán, sau đó A
đổ nước vào thùng với khối lượng tương đương, đem tới công ty nhập kho, cuối
cùng đổ nước đi và ra khỏi kho dầu.

* Trong tình huống này, hành vi của A có thể nhầm lẫn với tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 BLHS. Tuy nhiên giữa tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản và tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản có một điểm khác nhau cơ bản đó
là: thời điểm phát sinh ý định chiếm đoạt.
Nếu như trước khi ký hợp đồng vận chuyển dầu cho công ty X, A đã có ý định
chiếm đoạt tài sản thì A phạm tội “tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; còn nếu sau khi
A có được lượng dầu một cách hợp pháp (thông qua hợp đồng vận chuyển) mới
nảy sinh ý định chiếm đoạt thì hành vi của A cấu thành tội “tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Có thể thấy trong tình huống nêu rằng “Sau vài lần vận chuyển, A đã học được thủ
đoạn lấy bớt dầu vận chuyển của công ty X”; Mặt khác, hợp đồng vận chuyển dầu
nhiều lần thì thường là hợp đồng vận chuyển dài hạn, nên ý định phạm tội của A
có thể coi là phát sinh sau khi ký được hợp đồng.
Như vậy, A phạm đã phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định
tại điểm d, khoản 2, Điều 140 BLHS với khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm
tù.
Vi Thị Hồng Duyên 5 MSSV : 351953


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status