THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VAY TRẢ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA CHÍNH PHỦ TRONG THỜI GIAN QUA - Pdf 63

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VAY TRẢ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA
CHÍNH PHỦ TRONG THỜI GIAN QUA
I/ QUAN HỆ TÍN DỤNG CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC TỔ CHỨC
TÀI CHÍNH QUỐC TẾ .
1./ Quá trình hình thành và phát triển của mối quan hệ tín dụng của
Việt Nam với các Tổ chức Tài chính Quốc tế .
a) Với Quỹ tiền tệ Quốc tế(IMF).
* Giới thiệu sơ lược.
Quỹ tiền tệ Quốc tế là một tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế, được thành lập
từ hội nghị Bretton Wood năm 1945. Đây là một tổ chức tiền tệ lớn nhất bao gồm
176 nước thành viên và đóng vai trò quan trọng trong quan hệ tài chính tiền tệ quốc
tế. Quỹ tiền tệ Quốc tế được thành lập và hoạt động trên cơ sở hoạt động của các
nước hội viên qua hình thức hiệp định . Hoạt động và giao dịch của Quỹ được
thông qua hai vụ:
- Vụ tổng hợp : Vụ điều hành hoạt động của Quỹ.
- Vụ SDR (Special Drawing Rigts): Xác định quyền và nghĩa vụ của các
nước hội viên( quyền rút vốn đặc biệt). Đây là vụ quan trọng bởi nó xác lập được
quyền của các nước hội viên trong việc sử dụng số SDR cho phép (số SDR được
sử dụng phụ thuộc vào sự đóng góp cổ phần khi tham gia vào Quỹ của hội viên).
Việc thanh toán trên thị trường quốc tế sẽ dựa vào đồng SDR - là đồng tiền không
bị mất giá ( bởi nó được xác định từ rổ tiền tệ với 5 đồng tiền mạnh trên thế giới,
bao gồm: đô-la Mỹ, Mác Đức, Bảng Anh, France Pháp và Yên Nhật).
Khác với Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển Châu á (sẽ được
trình bày ở phần sau), mục đích trực tiếp của Quỹ tiền tệ Quốc tế không phải là
phát triển mà là :
- Khuyến khích hợp tác tiền tệ quốc tế ( sử dụng một đơn vị tiền tệ chung
hay cùng sử dụng một đơn vị ngang giá với các đơn vị tiền tệ của tất cả các nước
hội viên thông qua một tổ chức . Chẳng hạn như liên minh tiền tệ Châu âu và sự ra
đời của đồng tiền chung Châu á trong tương lai.
- Tạo điều kiện phát triển cân đối mậu dịch quốc tế, tạo điều kiện để phát
triển các nguồn lực sản xuất của các nước hội viên, giải quyết công ăn việc làm,

Mặc dù Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng phát triển Châu á là hai tổ chức
khác biệt song do đều là hai tổ chức tài chính - phát triển do vậy ta sẽ xem xét nội
dung , các nguyên tắc và đặc điểm cho vay chung của cả hai tổ chức này(dưới đây
xin được gọi với một tên khác là các Ngân hàng ).
- Nội dung cơ bản trong chiến lược phát triển của WB và ADB là tăng
cường đầu tư vào các nước đang phát triển, giúp những nước này thay đổi tình
trạng kinh tế nghèo nàn, nâng cao mức sống của đông đảo quần chúng nghèo khổ.
Chiến lược phát triển này chủ yếu biểu hiện ở những nước, những khu vực được
trợ vốn và các dự án xây dựng, đặc biệt là với các dự án phát triển nông nghiệp và
nông thôn ngày càng thể hiện rõ tư tưởng chiến lược phát triển này. Nhiều năm
gần đây, việc trợ vốn cho các nước đang phát triển vẫn bảo lưu các dự án xây dựng
đã trở thành truyền thống nhưng Ngân hàng luôn điều chỉnh những dự án này mục
đích là nhằm đặt trọng điểm vào các dự án xây dựng trực tiếp liên quan tới lợi ích
của tầng lớp nghèo khổ nhất trong các nước đang phát triển (WB cung cấp cho 163
nước thànhviên và ADB cung cấp cho các nước đang phát triển của khu vực Châu
á).
- Nguyên tắc cho vay : Căn cứ vào quy định trong hiệp định ngân hàng, WB
và ADB có một số nguyên tắc cho vay chung sau:
+ Ngân hàng chỉ cho vay với các nước thành viên. WB và ADB chỉ cung cấp
các khoản cho vay đối với Chính phủ các nước thành viên có thu nhập thấp hoặc
đối với các tổ chức công cộng và tư nhân được Chính phủ, Ngân hàng Trung ương
của nước thành viên bảo trợ. Các nước mới độc lập, dù dự tính chẳng bao lâu nữa
sẽ trở thành thành viên, cũng chỉ có thể xin vay sau khi đã chính thức trở thành
nước thành viên. Tuy nhiên trên thực tế vẫn có những trường hợp ngoại lệ, chẳng
hạn như trước khi Niu Ghinê giành được độc lập vào tháng 9 năm 1975, WB đã
cấp cho họ 5 khoản vay, đều do Chính phủ Oxtơraylia bảo trợ.
+ Thông thường các khoản vay của WB và ADB phải được dùng cho các dự
án cụ thể của nước vay nợ, các dự án này phải được Ngân hàng thẩm định và phê
chuẩn là có tính khả thi về kỹ thuật và kinh tế, phải được bàn bạc và thống nhất với
nước vay nợ đó, phải là những dự án thật sự ưu tiên nhất trong chương trình phát

* Quá trình hình thành và phát triển mối quan hệ.
Trước năm 1998, WB chỉ cung cấp cho chúng ta một khoản tín dụng cho dự
án Thuỷ lợi Dầu Tiếng trị giá 60 triệu USD (vào 24/8/1978). Số lượng dự án do
ADB cung cấp nhiều hơn của WB: 7 dự án với tổng trị giá 27,385 triệu USD và đã
rút được 24 triệu USD
Tháng 10 năm 1998 ngay sau khi quan hệ vay vốn giữa Việt Nam và IMF
được trở lại bình thường, WB và ADB đã khẩn trương cùng phía Việt Nam chuẩn
bị đàm phán các hiệp định theo một số dự án. Ngân hàng Nhà nước đã chủ trì và
phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan tiến hành đàm phán và ký kết các hiệp định
vay. Kết quả là WB đã cho vay hai dự án về giáo dục tiểu học và dự án quốc lộ 1A
trị giá là 218 triệu đô-la Mỹ ( được ký kết vào ngày 1/11/1998)
Trong tài khoá năm 1998, 1999, IMF, WB, ADB dự kiến cho Việt Nam vay
khoảng từ 1 đến 1,5 tỷ đô-la Mỹ chi cho tài khoá. Tháng 10 năm 1998 các đơn vị
đứng đầu các tổ chức này đã thăm chính thức Việt Nam để cam kết việc bình
thường hoá quan hệ với Việt Nam , để có thể cho Việt Nam vay trong những năm
tiếp theo, đồng thời khẳng định những thành quả của Việt Nam đã đạt được trong
công cuộc đổi mới kinh tế và Việt Nam đã hoà nhập vào cộng đồng tài chính quốc
tế.
Tiếp đó ngày 8 - 10 /11/1998 tại thủ đô Paris, trung tâm chính trị và văn hoá
nổi tiếng trên thế giới đã chứng kiến một sự kiện vô cùng quan trọng đối với Việt
Nam là Hội nghị quốc tế đầu tiên của các nước và các Tổ chức Tài chính Quốc tế
tài trợ cho Việt Nam với sự có mặt của đông đảo các đạI diện của 24 quốc gia và
17 tổ chức quốc tế. Các nước và các tổ chức quốc tế đã tuyên bố tài trợ cho Việt
Nam tài khoá năm 1999là 1,86 tỷ đô-la Mỹ để giúp Việt Nam phát triển kinh tế -
xã hội. Đây là một sự kiện vô cùng quan trọng đối với Việt Nam trong công cuộc
đổi mới kinh tế đất nước
Và tới ngày 13,14/12/1998, chúng ta đã đủ điều kiện để giải quyết nợ qua
câu lạc bộ Paris với số tiền là 1 tỷ USD. Đây là một bước ngoặt lớn đánh dấu một
giai đoạn mới với nhiều triển vọng trong quan hệ vay nợ nước ngoài của Việt
Nam, là điều kiện để ta giải quyết nợ qua Câu Lạc Bộ London ( tới nay chúng ta đã

thường được tài trợ cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng làm thay đổi cơ cấu kinh
tế, các công trình phúc lợi xã hội với quy mô lớn. Do vậy hình thức giải ngân (cho
rút vốn) của Tổ chức cho vay được áp dụng với nước đi vay gồm 4 hình thức:
a) Thanh toán trực tiếp ( Direct Payment).
Theo hình thức này, bên vay sẽ yêu cầu bên cho vay thanh toán trực tiếp cho
người cung cấp hàng. Bên vay phải chỉ rõ trong đơn xin rút vốn vay ngày đến hạn
phải thanh toán với người cung cấp hàng. Hình thức này nói chung thích hợp với
việc thanh toán theo tiến độ thi công các công trình xây lắp lớn, các chi phí về tư
vấn và các khoản nhập khẩu nhỏ gọn không cần thiết phải mở thư tín dụng .
Khi nhận được thông báo để thanh toán của bên cho vay gửa trở lại, phải
kiểm tra xác nhận và gửi cho Bộ Tài chính (bản sao) để theo dõi quá trình rút vốn
và nhận nợ với nước ngoài.
b) Phương thức hoàn vốn (Reimbursement Procedure)
Phía bên vay đã thanh toán trước các chi phí phát sinh cho người nhận thầu
và cung ứng hàng hóa hoặc các khoản mua sắm , chi phí xây lắp nhỏ , lặt vặt mà
người vay đã đứng ra chi trước mà những chi phí này được Tổ chức cho vay chấp
nhận thuộc chi phí tài trợ của dự án.
Chủ dự án được Bộ Tài chính uỷ quyền có trách nhiệm làm các đơn xin hoàn
lại vốn, cũng như các chứng từ chứng minh đã thanh toán cho người nhận thầu và
cung cấp hàng hoá để gửi cho bên cho vay. Các thủ tục thanh toán và hoàn vốn
được thực hiện qua một ngân hàng thương mại được Bộ Tài chính và Ngân hàng
Nhà nước chỉ định và thông báo với phía cho vay.
Chủ dự án phải mở tài khoản riêng để theo dõi các chi phí đã ứng trước,
đồng thời căn cứ vào báo có của bên cho vay ( đã hoàn trả vốn ) để lập báo cáo chi
và thu hoàn vốn gửi cho Bộ Tài chính và Ngân hàng Thương mại được chọn (nếu
chi phí đó có liên quan tới vốn của Ngân hàng Thương mại).
c) Phương thức cam kết (Commitment Procedure).
Thủ tục cam kết được áp dụng rộng rãi trong việc thanh toán hàng nhập
khẩu bằng thư tín dụng thương mại (L/C) . Thư tín dụng do bên vay mở tại các
ngân hàng của nước cung cấp hàng phải được phía cho vay cam kết thanh toán

Theo nghị định 58/CP ngày 30/8/1998, việc quản lý các khoản vay nợ nước
ngoài của Chính phủ được giao cho Bộ Tài chính có trách nhiệm phối hợp với các
Bộ, ngành liên quan xây dựng hạn mức trả nợ nước ngoài của Chính phủ. Mọi
nguồn vốn vay đều phải nộp vào Ngân sách Nhà nước, Bộ Tài chính có trách
nhiệm bố trí ngân sách hàng năm để trả nợ, trả phí, lãi đến hạn.
Tuy nhiên, do đặc điểm của vay nợ nước ngoài (bằng ngoại tệ, bằng hàng
hóa) cũng như vai trò của Ngân hàng Nhà nước với tư cách đại diện Chính phủ tại
các Tổ chức cho vay(IMF, WB, ADB...) có ảnh hưởng, liên quan trực tiếp tới
nhiệm vụ điều hành chính sách tiền tệ, quản lý ngoại hối, tỷ giá..., Chính phủ đã
xác định Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm tham gia quản lý và sử dụng các
khoản vay nợ nước ngoài của Chính phủ cùng với Bộ Tài chính như đã được đề
cập trong thông tư liên bộ số 09/ NH-TC ngày 30/5/1999. Theo thông tư này, Ngân
hàng Nhà nước là người đại diện Chính phủ Việt Nam nhận nợ trước các Tổ chức
cho vay thông qua tài khoản vay đứng tên Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
1./ Cơ chế rút vốn các khoản vay của Chính phủ
Để phù hợp với thông lệ quốc tế, việc rút vốn vay nước ngoài (thuộc các
khoản vay của Chính phủ) cũng được thực hiện theo những phương thức khác nhau
tuỳ thuộc vào đặc điểm của các hợp đồng giao dịch hay từng giao dịch thanh toán:
(I) Thủ tục tạm ứng /tài khoản đặc biệt ; (ii) Thủ tục thanh toán trực tiếp; (iii) Thủ
tục phát hành thư cam kết ; (iv) Thủ tục hoàn vốn .
Việc rút vốn vay phải tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản như : Số tiền rút ra
từ tài khoản vay phải được sử dụng cho những mục đích đã đề ra trong hiệp định
vay, có lưu ý đến tính hiệu quả và tiết kiệm ; Nước đI vay phải được sự chấp thuận
của bên cho vay để rút vốn thanh toán cho những chi tiêu liên quan đến dự án khi
chúng thực sự phát sinh .
Tuy nhiên, ở đây chúng ta không đề cập tới khái niệm về các thủ tục mà đI
sâu xem xét việc áp dụng những thể thức này và các điều kiện để rút vốn hiện đang
được áp dụng theo quy định trong thông tư liên bộ số 09 / NH-TC . Theo quy định
này, trong 4 thể thức rút vốn thì Ngân hàng Nhà nước trực tiếp quản lý các khoản
rút vốn bằng tiền (thể thức tạm ứng) .Các thể thức còn lại do Bộ Tài chính, Ngân

Khi nhận được báo có của Cục dự trữ liên bang, Ngân hàng Nhà nước xuất
ngoại tệ từ Tài khoản tạm ứng sang Tài khoản dự án tại Ngân hàng Thương mại
phục vụ. Ngân hàng Thương mại phục vụ tiến hành chuyển từ ngoại tệ sang nội tệ
để chuyển cho chủ dự án.
* Rút vốn bổ sung tài khoản tạm ứng: Thực hiện trên cơ sở bổ sung các
khoản đã thực chi tiêu. Việc bổ sung tài khoản tạm ứng được tiến hành thường
xuyên để duy trì một khối lượng tiền định mức trong tài khoản tạm ứng . Điều này
có nghĩa là giả sử định mức trong tài khoản tạm ứng là 5 triệu USD. Do chi tiêu
cho công việc hết một triệu , chủ dự án làm đơn rút vốn bổ sung 1 triệu USD để
duy 5 triệu USD định mức trên tài khoản tạm ứng. Tuy nhiên tới cuối thời hạn rút
vốn thì lượng tiền định mức này giảm dần và khi hết thời hạn rút thì lượng định
mức này bằng không ( rút hết vốn của dự án ).
Thủ tục cụ thể như sau:
Chủ đầu tư lập hồ sơ xin rút vốn bổ sung tài khoản tạm ứng (ADB) / đặc biệt
(WB) chuyển tới Bộ Tài chính .
Hồ sơ gồm có :
- Công văn đề nghị rút vốn
- Đơn rút vốn (theo mẫu)
- Bảng sao kê chi tiêu
- Sao kê tài khoản dự án tại Ngân hàng Thương mại phục vụ
- Các chứng từ kèm theo chứng minh các khoản chi tiêu là hợp lệ.
Tiếp đó Bộ Tài chính xem xét hồ sơ xin rút vốn bổ sung tài khoản tạm ứng
gửi Ngân hàng Nhà nước. Nhận được văn bản này Ngân hàng Nhà nước tiến hành
các nghiệp vụ như đối với trường hợp rút vốn lần đầu vào tài khoản tạm ứng.
2.2 Thể thức Ngân hàng Nhà nước không trực tiếp quản lý.
a) Thể thức trực tiếp.
Người cung cấp phải hoàn thành hợp đồng hoặc từng hạng mục hợp đồng,
gửi đề nghị thanh toán kèm theo các chứng từ cần thiết cho chủ đầu tư.
Chủ đầu tư nhận được chứng từ trên phải lập hồ sơ xin rút vốn gửi tới Bộ
Tài chính.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status