MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG - Pdf 63

ch¬ng I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG HỆ
THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC HÌNH THỨC TRẢ LƯƠNG
1. Cơ sở lý luận và bản chất của tiền lương.
Tiền lương là một trong những động lực kích thích con người làm việc
hăng hái, nhưng đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân gây trì trệ, bất
mãn hoặc từ bỏ công ty mà ra đi. Tất cả đều tuỳ thuộc vào trình độ và năng lực của
các cấp quản trị. Trong nền kinh tế thị trường và sự hoạt động của thị trường sức
lao động, sức lao động là hàng hoá do đó tiền lương là giá cả cuả sức lao động.
Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nơi mà các quan hệ thị trường thống trị mọi quan hệ
kinh tế, xã hội khác, C.Mác viết:” Tiền công không phải là giá trị hay giá cả của
lao động mà chỉ là một hình thái cải trang của giá trị hay giá cả sức lao động”.
Trước hết tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người
lao động. Điều đó thể hiện quan hệ kinh tế của tiền lương. Mặt khác do tiền lương
là loại hàng hoá sức lao động đặc biệt nên nó không chỉ thuần tuý là vấn đề kinh tế
mà còn là một vấn đề xã hội rất quan trọng, liên quan tới đời sống và trật tự xã hội,
đó là quan hệ xã hội. Đối với người lao động, tiền lương là thu nhập chủ yếu đối
với đa số lao động trong xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của họ. Mục
đích của người lao động là phấn đấu nâng cao tiền lương. Điều này đã tạo động lực
để người lao động phát triển trình độ và khả năng của mình. Tiền lương không chỉ
là vấn đề quan trọng đối với người lao động mà trong hoạt động kinh doanh, tiền
lương là một phần chi phí cấu thành chi phí sản xuất-kinh doanh. Vì vậy tiền lương
luôn được tính toán và quản lý chặt chẽ.
2. Hình thức trả lương theo thời gian
Hầu hết các công ty tại các nước phát triển trên thế giới đều áp dụng theo
phương pháp này. Tiền lương trả theo thời gian chủ yếu áp dụng đối với những
người làm công tác quản lý, còn đối với công nhân sản xuất chỉ áp dụng ở những
bộ phận không thể tiến hành định mức một cách chặt chẽ và chính xác, hoặc vì tính
chất của sản xuất hạn chế, nếu thực hiện trả công theo sản phẩm sẽ không bảo đảm
được chất lượng sản phẩm, không đem lại hiệu quả thiết thực.
Hình thức tiền lương trả theo thời gian có hai chế độ: theo thời gian đơn

công việc phục vụ như công nhân sửa chữa, điều chỉnh thiết bị... Ngoài ra, còn áp
dụng đối với những công nhân chính làm những khâu sản xuất có trình độ cơ khí
hoá cao, tự động hoá hoặc những công việc tuyệt đối phải đảm bảo chất lượng.
Tiền lương của công nhân được tính bằng cách lấy lương trả theo thời gian(mức
lương cấp bậc) nhân với thời gian làm việc thực tế, sau đó cộng với tiền thưởng.
3. Chế độ bảo hiểm xã hội
3.1 Khái niệm:
Bảo hiểm xã hội là một trong những nội dung quan trọng của chính sách xã
hội mà nhà nước bảo đảm trước phát luật cho mỗi người dân nói chung và mỗi
người lao động nói riêng. Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm về mặt vật chất cho người
lao động trong và ngoài khu vực quốc doanh khi ốm đau, thai sản, tai nạn, hưu trí
hoặc chết để góp phần ổn định đời sống của người lao động và gia đình, trên cơ sở
đongd góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự bảo hộ của Nhà
nước.
3.2 Quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ sự đóng góp của người sử sụng
lao động, người lao động và hỗ trợ của Ngân sách Nhà nước. Quỹ dùng để chi trả
các chế độ bảo hiểm xã hội(theo nguyên tắc có đóng góp có hưởng, mức hưởng tuỳ
thuộc vào sự đóng góp), thời gian tham gia bảo hiểm xã hội và thực hiện chức năng
điều hoà xã hội.
3.3 Các chế độ BHXH
Có 5 chế độ sau :
a. Chế độ trợ ốm đau.
b. Tai nạn nghề nghiệp.
c. Thai sản :
d. Hưu trí:
e. Chế độ tử tuất.
Tóm lại: Chế độ bảo hiểm xã hội quy định quỹ bảo hiểm xã hội được hình
thành từ 2 nguồn sau đây:
− Trích vào chi phí sản xuất kinh doanh hàng tháng của các đơn vị bằng

thông tin trong một tập các ràng buộc được gọi là môi trường.
Nó được thể hiện bởi những con người, các thủ tục, dữ liệu và thiết bị tin
học hoặc không tin học. Đầu vào của hệ thống thông tin được lấy từ các nguồn và
được xử lý bởi hệ thống sử dụng nó cùng với các dữ liệu đã được lưu trữ từ trước.
Kết quả xử lý được chuyển đến các đích hoặc cập nhật vào kho lưu trữ dữ liệu.
Mô hình hệ thống thông tin
Xử lý v là ưu giữ
Kho dữ liệu
Thu nhập
Phân phát
Đích
Nguồn
1.2 Hệ thống thông tin quản lý MIS
Là hệ thống trợ giúp các hoạt động quản lý của tổ chức, các hoạt động này
nằm ở mức điều khiển tác nghiệp, điều khiển quản lý hoặc lập kế hoạch chiến lược.
Chúng dựa vào các cơ sơ dữ liệu được tạo ra bởi các hệ xử lý giao dịch cũng như
từ các nguồn dữ liệu ngoài tổ chức để tạo ra các báo cáo cho các nhà quản lý một
cách định kỳ hoặc theo yêu cầu. Các báo cáo này tóm tắt tình hình về một mặt đặc
biệt nào đó của tổ chức. Từ các báo cáo này chúng ta có thể so sánh các dữ liệu
hiện thời của các doanh nghiệp trong cùng một ngành công nghiệp, dữ liệu hiện
thời và các dữ liệu lịch sử. Hệ xử lý giao dịch vận hành tốt hay xấu có ảnh hưởng
rất lớn đến chất lượng thông tin mà các hệ thống thông tin quản lý sản sinh ra. Các
hệ thống thông tin quản lý như: hệ thống phân tích năng lực bán hàng, theo dõi chi
tiêu, theo dõi năng suất hoặc vắng mặt của nhân viên, nghiên cứu về thị trường…
1.3 Hệ thống thông tin kế toán
Hệ thống thông tin kế toán là tập hợp các nguồn lực như con người, thiết
bị máy móc được thiết kế nhằm biến đổi dữ liệu tài chính và các dữ liệu khác thành
thông tin
Mô hình hệ thống thông tin tự động hoá
Dữ liệu kế toán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status