MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ CỦA TRUNG QUỐC
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC CỦA TRUNG
QUỐC
2.1.1. Khái niệm và vai trò của tập đoàn kinh tế đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất giữa các quốc gia về TĐKT.
Tuỳ theo điều kiện, trình độ phát triển kinh tế, môi trường xã hội và hệ thống luật
pháp, TĐKT cũng khác nhau về hình thức tổ chức, cũng như trình độ và cấp độ
liên kết nội bộ. Tuy nhiên tựu chung lại, có thể định nghĩa TĐKT như sau: Đó là tổ
hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một ngành hay
những ngành khác nhau, có quan hệ với nhau về vốn, tài chính, công nghệ, thông
tin, đào tạo, nghiên cứu và liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các doanh nghiệp
tham gia liên kết, trong đó thường có một “công ty mẹ”nắm quyền lãnh đạo, chi
phối hoạt động của “công ty con” về tài chính và chiến lược phát triển .
Thực tế cho thấy TĐKT đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế
của mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Vai trò đó được thể
hiện trên các mặt sau:
- Sự hình thành và phát triển của các TĐKT làm tăng khả năng kinh tế của
cả tập đoàn và các công ty thành viên, nó cho phép các nhà quản lý kinh doanh huy
động được tất cả các nguồn lực trong xã hội để phục vụ việc phát triển kinh tế, việc
tập trung các công ty vào trong một đầu mối làm cho họ có điều kiện thuận lợi khi
cạnh tranh với các tập đoàn nước ngoài.
- Đối với các nền kinh tế mới phát triển, nền công nghiệp trong nước còn
manh mún thì các TĐKT là một biện pháp hữu hiệu để chống sự thâm nhập một
cách ồ ạt của các công ty khổng lồ trên thế giới và giúp cho sản xuất trong nước có
thể đứng vững và từng bước vươn ra được các thị trường khu vực và thế giới.
- Các TĐKT sẽ khắc phục được khả năng hạn chế về vốn của từng công ty
riêng lẻ, việc các tập đoàn có công ty tài chính sẽ cho phép thống nhất trong tích tụ
và tập trung vốn; khi có nguồn vốn lớn các tập đoàn sẽ đầu tư vào các dự án có
hiệu quả cao nhất, từ đó sẽ góp phần tăng nguồn thu và thúc đẩy nền kinh tế phát
triển.
- TĐKT có tác dụng rất lớn trong việc cung cấp trao đổi thông tin và những
sức mạnh, thông tin thông suốt, nhanh nhạy hơn”. Muốn nâng cao tố chất chỉnh thể
của DNNN thì không những phải cải cách từng doanh nghiệp riêng lẻ, mà còn phải
căn cứ vào yêu cầu xã hội hoá, để liên hiệp các doanh nghiệp lại với nhau, lập ra
các tập đoàn kinh tế, tạo ra cơ cấu tổ chức tốt hơn giữa các doanh nghiệp. Nếu nói
rằng kinh doanh theo chiều sâu mà chủ yếu là nâng cao trình độ kinh doanh trong
nội bộ doanh nghiệp thì liên kết các doanh nghiệp lại với nhau, đặc biệt là thành
lập ra các tập đoàn kinh tế là nâng cao trình độ tổ chức lực lượng sản xuất trong
phạm vi xã hội. Chỉ có phát triển theo hướng tập đoàn hoá thì các DNNN mới thực
sự trở thành vật tải lực lượng sản xuất hiện đại, mới trở thành chủ thể thứ nhất của
nền kinh tế thị trường, mới có thể triệt để phát huy được lợi thế của mình.
Trung Quốc cho rằng đổi mới về thể chế tổ chức doanh nghiệp, hình thành
nên các TĐKT có thể khắc phục được các bất cập của thị trường trong quá trình
chuyển đổi kinh tế, do quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ở Trung Quốc vẫn
đang tiếp tục, nên các chức năng của thị trường vẫn còn yếu kém và đôi khi phải
chịu nhiều phí tổn. Bằng việc hình thành các tập đoàn kinh tế, mỗi doanh nghiệp
thành viên có thể tận dụng các thông tin tốt hơn, có khả năng đối phó với những rủi
ro đi kèm với cơ cấu thị trường chưa phát triển và có khả năng tiếp cận với các
khoản tín dụng mà bình thường phải rất tốn kém hoặc không thể có được. Điều
quan trọng hơn là việc thành lập các tập đoàn kinh tế có thể tạo điều kiện cho quá
trình cải cách DNNN khi việc tư nhân hoá hàng loạt không phải là giải pháp được
lựa chọn. Đồng thời các tập đoàn có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp Trung Quốc so với các tập đoàn đa quốc gia khi tham gia vào tổ
chức thương mại thế giới (WTO).
Nền kinh tế Trung Quốc là nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, với sự
hoạt động của nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong đó thành phần kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo. Muốn làm được điều này phải có các doanh nghiệp nhà
nước thực sự lớn mạnh, hoạt động theo mô hình tập đoàn kinh tế thay thế cho hình
thức tổ chức doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả đã tồn tại trong một thời gian
dài. Do vậy cần phải xây dựng các tập đoàn kinh tế theo hướng đa sở hữu trong đó
sở hữu nhà nước chiếm tỷ trọng lớn.
được bố trí sắp xếp thích đáng trong phạm vi tập đoàn mà còn được nhiều thực lợi
hơn, như những sự đãi ngộ về tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi, bảo hộ lao động…
dần được nâng cao.
Đặc điểm thứ ba, là mục đích của việc thành lập TĐKT của nhà nước, của
các đơn vị thành viên và của công nhân, viên chức về cơ bản là thống nhất với
nhau. Đặc điểm này xuất phát từ tính chất của chế độ XHCN ở Trung Quốc. Chính
quyền các cấp căn cứ vào đòi hỏi khách quan của sự phát triển kinh tế để hướng
dẫn các DNNN tăng cường liên kết, hợp tác, lấy dài bù ngắn, bổ sung lợi thế cho
nhau, phát huy tốt hơn nữa tác dụng của các yếu tố lực lượng sản xuất, nâng cao
hiệu quả kinh tế, nâng cao đời sống công nhân viên chức. Chính quyền các cấp là
người đại biểu cho quyền sở hữu tài sản tại các doanh nghiệp có vai trò quan trọng
trong việc giao dịch quyền sử dụng tài sản trên thị trường quyền sử dụng tài sản.
Một là, căn cứ vào quy hoạch phát triển kinh tế và xã hội để định ra chính sách
ngành nghề, hướng dẫn việc lưu động và phân phối hợp lý tài nguyên, thúc đẩy
việc tổ chức lại các yếu tố sản xuất một cách hợp lý. Hai là, căn cứ vào nguyên tắc
xác định quyền tài sản để định ra quy tắc quản lý thị trường, cung cấp các dịch vụ
pháp luật, công chức quản lý hành chính, bảo đảm cho giao dịch diễn ra bình
thường. Ba là, cung cấp thông tin, thúc đẩy hạ giá thành giao dịch, thúc đẩy giao
dịch có kết quả, giúp cho việc nâng cao hiệu qủa và ngạch giao dịch. Bốn là, khi
cần thiết thì dùng các biện pháp hành chính, pháp luật và kinh tế để điều tiết giao
dịch quyền sử dụng tài sản, bảo vệ lợi ích của nhà nước, ngăn chặn các hành vi làm
tổn hại đến lợi ích của nhà nước.
* Đặc điểm về mô hình tổ chức.
Hình thức thứ nhất, là TĐKT tổng hợp nhiều cấp: Đây là loại TĐKT nắm
trong tay nhiều lĩnh vực: khoa học công nghệ, thương mại, tài chính, dịch vụ và lấy
vốn làm nút liên kết chủ yếu. Chúng được tổ chức thành 4 cấp, thực hiện nhất thể
hoá kinh doanh bằng cách thôn tính, sáp nhập, xoá bỏ tư cách pháp nhân của các
doanh nghiệp cũ “lập ra TĐKT trong đó công ty có tư cách pháp nhân làm nòng
cốt (tức là công ty mẹ) bằng cách nắm giữ cổ phần khống chế, thầu khoán, thuê các
doanh nghiệp có liên quan, doanh nghiệp nòng cốt sẽ nắm quyền lãnh đạo đối với
phát triển sản phẩm kỹ thuật cao từ đó chế tạo sản phẩm có giá trị cao, nâng cao
năng lực cạnh tranh.
Hình thức thứ năm, là Tập đoàn liên kết mạng lưới cùng ngành: Đây là hình
thức biến tướng của những liên hiệp các xí nghiệp đặc biệt lớn có cùng ngành
nghề, nó xuất hiện khi cải cách thể chế kinh tế kế hoạch. Chúng chính là sản phẩm
của sự cải cách thể chế liên doanh cũ thành Tập đoàn liên kết màng lưới cùng
ngành, gồm nhiều hình thức sở hữu, nhiều khu vực trong đó chế độ công hữu làm
chủ thể.
Hình thức thứ sáu, là Tập đoàn theo mô hình cổ phần: Loại TĐKT này lấy
công ty của nhà nước có thực lực rất mạnh nắm giữ cổ phần khống chế làm nòng
cốt. Doanh nghiệp nòng cốt thể hiện sự khống chế của mình với doanh nghiệp khác
bằng cách mua cổ phần hoặc các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài
nước, các cá nhân khác…tự nguyện tham gia tập đoàn bằng hình thức tham dự cổ
phần. Toàn bộ tập đoàn lấy tài sản dưới hình thức cổ phần làm nút liên kết, hình
thành thể liên hợp các pháp nhân, triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh theo
hình thức cổ phần.
* Đặc điểm về hoạt động kinh doanh và quản lý điều hành của TĐKT
Trung Quốc.
Chiến lược hoạt động tác nghiệp của các TĐKT Trung Quốc là đa dạng hoá,
sản xuất kinh doanh theo chiều sâu và tiến tới quốc tế hoá. Các TĐKT không chỉ là
những Tập đoàn xuyên vùng, xuyên ngành mà còn nhiều hình thức, nhiều chức
năng sản xuất, thương mại, nghiên cứu khoa học, vận tải, tài chính, dịch vụ… Nó
thể hiện khá rõ ở chỗ:
Một là, các doanh nghiệp thành viên được chuyên môn hoá, tổ chức quản lý
phân công sâu sắc với nhiều chi nhánh, nhiều cấp độ. Hai là, sản phẩm đa dạng
hoá, sản xuất hàng loạt, sản xuất các sản phẩm và dịch vụ liên quan xoay quanh
sản phẩm chuyên biệt có lợi thế. Ba là, biện pháp kinh doanh đa dạng với nhiều
hình thức phong phú như: liên kết đầu tư, đầu tư 100% vốn, liên kết kinh doanh,
kinh doanh chặt chẽ, nửa chặt chẽ, lỏng lẻo…
Xu hướng kinh doanh quốc tế hoá, xuyên quốc gia hoá cũng được các
Loại thứ hai: TĐKT có quy mô tương đối lớn, thị trường hướng ngoại,
thường áp dụng thể chế quản lý ba cấp, kết hợp tập quyền và phân quyền,nhưng
trên thực tế các phòng nghiệp vụ là cầu nối công ty mẹ đối với công ty con.
Loại thứ ba: Là những TĐKT quy mô không lớn, thị trường hướng ngoại,
thường áp dụng thể chế quản lý kiểu song song, ở trong nước thì có 2 cấp Công ty
tập đoàn – công ty con; ở nước ngoài thì quản lý kiểu 3 cấp, Công ty tập đoàn –
phòng nghiệp vụ ở nước ngoài – công ty con.
*So sánh mô hình TĐKT của Trung Quốc với TĐKT của một số nước
Châu Á khác.
- Mô hình TĐKT của Hàn Quốc :
Đầu những năm 70 của thế kỷ XX, để thúc đẩy nhanh chóng tiến trình công
nghiệp hoá, Chính phủ Hàn Quốc đã tăng cường đáng kể vai trò can thiệp của mình
vào quá trình kinh tế. Trọng điểm là tập trung đầu tư phát triển các ngành công
nghiệp nặng và hoá chất đồng thời hình thành các tổ hợp công nghiệp lớn (thường
gọi là các Chaebol): Có hai yếu tố dẫn đến sự phát triển của Chaebol là vay nợ
nước ngoài và những ưu đãi đặc biệt của chính phủ. Với nguồn vốn hạn hẹp trong
nước chính phủ Hàn Quốc đã dựa vào nguồn vốn nước ngoài và cấp vốn cho một
số doanh nghiệp để đạt được những mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Sự phát triển
kinh tế ở Hàn Quốc thực chất là dựa vào “ Chủ nghĩa tư bản mệnh lệnh”. Theo
phương thức này, hệ thống doanh nghiệp tự do được chính phủ khuyến khích và
chịu sự can thiệp gián tiếp. Điều đó có nghĩa là chính phủ giành quyền kiểm soát
các dự án và hướng các Chaebol vào thực hiện các dự án đặc biệt. Chính phủ đảm
bảo việc thanh toán nợ nước ngoài trong trường hợp doanh nghiệp đó không giành
được quyền vay nợ từ các ngân hàng trong nước. Hơn nữa, chính phủ còn ưu đãi
giá cả, chính sách thu nhập, chính sách thuế cho các Chaebol. Dưới sự giúp đỡ mở
rộng của chính phủ hầu hết các ngân hàng đều được lệnh cung cấp nhiều vốn hơn
nữa cho các Chaebol. Ngoài ra , những ưu đãi đặc biệt về ngoại thương cũng được
áp dụng, chính phủ còn thực hiện các biện pháp ưu đãi khác như, cho vay bằng
ngoại tệ, trợ cấp tài chính quota xuất khẩu.
Cơ cấu Chaebol: Trước hết, Chaebol là sở hữu gia đình. Hầu hết các
hiểm…
-Mô hình TĐKT của Đài Loan:
Ở Đài Loan phần lớn các công ty, tập đoàn có quy mô vừa và nhỏ là chủ
yếu, chiếm tới 98% về số lượng và 70% lao động, tạo ra hơn 50% GNP. Số lượng
các tập đoàn lớn không nhiều nhưng chúng cũng đã đóng góp những thành tựu
đáng kể cho nền kinh tế phát triển. Đài Loan chủ yếu hình thành “Thể chế trung
tiểu doanh nghiệp ” lấy trung tiểu doanh nghiệp làm trung tâm của tăng trưởng
kinh tế. Như vậy, thể chế doanh nghiệp vừa và nhỏ xuất hiện ở Đài Loan mang tính
lịch sử tất yếu, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Cơ cấu sản xuất trong thời gian dài
sau chiến tranh đều là lấy loại hình sản xuất tập trung lao động làm chủ yếu trong
phát triển, thích ứng với vốn và kỹ thuật thấp, thích hợp với quy mô tương đối nhỏ
của Đài Loan lúc đó, tức là không cần nhiều vốn và kỹ thuật mà vẫn xây dựng
được nhà xưởng, đầu tư sản xuất và xuất khẩu. Phần lớn các xí nghiệp, tập đoàn
Đài Loan đều thuộc gia tộc. Hiện nay có khoảng trên 100 xí nghiệp gia tộc lớn,
được xây dựng trong quan hệ huyết thống. Riêng tổng doanh thu của 4 tập đoàn:
Lâm Viên, Hoà Tín, Đài Tố, Tâm Quang đã đạt 25.000 tỷ đài tệ, chiếm 1/3 tổng tài
sản của 100 tập đoàn kinh tế lớn.
Thành công của các xí nghiệp, tập đoàn trên là do họ rất coi trọng vai trò của
việc xây dựng thể chế tập đoàn. Thể chế này có vai trò quyết định sự thành bại đối
với hoạt động kinh doanh của tập đoàn. Điển hình ở Đài Loan là tập đoàn Trung
Cương, được hình thành từ năm 1971, áp dụng cách quản lý theo tinh thần chữ “ái”
kiểu nho gia, và “kỷ luật sắt” kiểu pháp gia đã mang lại kết quả bước đầu trong
hoat động sản xuất kinh doanh. Đặc biệt công tác quản lý theo tinh thần chữ “ái”,
lấy xưởng làm nhà, lấy xưởng làm trường học…và luôn áp dụng 4 phương pháp:
tinh thần quên mình, lấy mình làm gương, quan tâm đến công nhân viên, yêu cấp
dưới như con, đã tạo nên sự gắn bó giữa các thành viên trong tập đoàn. Tuy nhiên
ai vi phạm kỷ luật sẽ bị xử phạt không chút nơi tay và luôn lấy kỷ luật làm nền
tảng quán triệt chấp hành, nên thúc giục mọi người phải làm việc hết mình. Do vậy
tập đoàn đã xây dựng được thể chế quản lý linh hoạt như: chế độ tiền thưởng đã
khuyến khích được công nhân viên, phúc lợi ưu đãi đã hấp dẫn được nhân tài ưu
phát triển các xí nghiệp vừa và nhỏ có mói quan hệ mật thiết với các tập đoàn lớn,
trong đó lấy tập đoàn lớn làm bộ khung và các xí nghệp vừa và nhỏ là chủ thể.
Chính vì vậy trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ vừa qua nền kinh tế Đài
Loan vẫn tăng trưởng 6% và các xí nghiệp vẫn tiếp tục mở rộng sản xuất, ít chịu
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng. Cũng từ những ưu nhược điểm của các mô hình
TĐKT như vậy chính phủ Trung Quốc đã phát triển những TĐKT của nhà nước
đồng thời sử dụng chúng như một chỗ dựa cho hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ
trong nước, đây có thể coi là ưu điểm vượt trội của các TĐKT Trung Quốc.
Tuy nhiên, xét về tiềm lực kinh tế và khả năng cạnh tranh quốc tế thì các
TĐKT của Trung Quốc vẫn thua kém các TĐKT của các nước trên. Do các TĐKT
của nhà nước vốn xuất thân từ một thành phần kinh tế kém năng động nhất lại
được đặt trong môi trường cạnh tranh ngày càng cao nên chưa thể một bước thực
hiện được mục tiêu lý tưởng mà chính phủ Trung Quốc đã đề ra. Hơn nữa ngay
trong quá trình hình thành và phát triển TĐKT ở Trung Quốc cũng tồn tại nhiều
vấn đề cần khắc phục.
2.2. THỰC TRẠNG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC CỦA
TRUNG QUỐC.
2.1.2. Các nguyên tắc thành lập tập đoàn.
Tập đoàn được thành lập với mục đích tăng cường hiệu quả quản lý, nâng
cao khả năng cạnh tranh, tranh thủ những lợi thế về quy mô và kết hợp các ưu thế
của sự chuyên môn hoá với hoạt động kinh doanh da dạng.Với đặc điểm nền kinh
tế thị trường XHCN, Trung Quốc đề ra nguyên tắc thành lập thành lập đoàn là:
+ Trong những ngành, lĩnh vực không mở cửa, không cho phép nước ngoài
hoặc khu vực tư nhân đầu tư thì có thể thành lập một số tập đoàn để tránh độc
quyền và tăng chất lượng sản phẩm, hiệu quả hoạt động tốt, không cho phép chỉ
lập một tập đoàn hoặc một Tổng công ty trong một ngành (vì dẫn đến độc quyền)
+ Trong những ngành, lĩnh vực có tính cạnh tranh cao (tức là cho phép nước
ngoài hoặc khu vực tư nhân cùng đầu tư với DNNN) hoặc ngành, lĩnh vực cần
chiếm lĩnh thị trường nước ngoài thì có thể cho phép thành lập một tập đoàn kinh
tế mà nhà nước giữ địa vị chi phối.
tài sản được xác định rõ ràng; tách bạch DNNN khỏi quản lý nhà nước với cơ cấu
quản lý hiện đại phù hợp với nền kinh tế thị trường”. Theo đó các doanh nghiệp