PHÂN TÍCH LỢI ÍCH CHI PHÍ TRONG KINH TẾ HỌC
MÔI TRƯỜNG
4.1. GIỚI THIỆU VỀ CÔNG CỤ PHÂN TÍCH LỢI ÍCH - CHI PHÍ
4.1.1. Định nghĩa
Để xác định tính hiệu quả của các quá trình kinh tế, chúng ta phải phân tích các yếu tố có liên quan
đến hiệu quả và không hiệu quả của quá trình kinh tế đó (lợi ích đạt được và thiệt hại phải gánh chịu,
thuận lợi và bất lợi...). Cần xem xét đến sự tương quan giữa lợi ích và chi phí của các thành phần, xác định
trách nhiệm và sự can thiệp của chính phủ vào các quá trình kinh tế - xã hội chung cho toàn nền kinh tế.
Như vậy, phân tích lợi ích - chi phí (Cost - Benefit Analysis (CBA)) là một công cụ của chính sách, cho
phép người ra quyết định lựa chọn một trong các giải pháp tương đương nhau, thay thế nhau hoặc thậm chí
có thể là đối lập nhau.
4.1.2. Các bước tiến hành phân tích lợi ích - chi phí
Phân tích lợi ích chi phí có thể được xem như là một quá trình vận hành, trong đó có một số bước nổi
bật; dĩ nhiên không phải bất cứ phân tích nào cũng cần phải thực hiện đầy đủ tất cả các bước này. Chẳng
hạn như một dự án ngắn hạn sẽ không đòi hỏi phải chiết khấu lợi ích trong tương lai. Tuy nhiên, phần lớn
các trường hợp, để cân nhắc có nên triển khai một dự án hay không nên chọn triển khai dự án nào giữa các
dự án được đề xuất, chúng ta cần bám theo các bước phân tích lợi ích - chi phí như sau:
4.1.2.1. Làm rõ vị trí của dự án
Khi bắt đầu phân tích, cần phải làm rõ dự án này là do ai thực hiện, ai sẽ trả chi phí và ai sẽ được
hưởng lợi từ dự án. Chúng ta luôn phải làm rõ và nhất quán trong việc giải quyết những vấn đề này cũng
như tính toán được lợi ích và chi phí cho những người/nhóm người khác nhau.
4.1.2.2. Xác định các phương án thay thế
Một phân tích cần phải nêu rõ được dự án hay các dự án là đối tượng cần xem xét có loại trừ lẫn nhau
hay không và cần phải đưa được các lựa chọn thay thế tương ứng vào trong phân tích. Ngoài ra, cũng cần
phải trả lời câu hỏi nếu chúng ta thay đổi quy mô, thời gian thực hiện của một dự án, chúng ta có thể có
được những thay thế nào tương ứng ?
4.1.2.3. Đưa ra các giả định
Giả định là một phần thiết yếu của phân tích lợi ích - chi phí. Có thể dùng giả định đối với hàng loạt
các yếu tố liên quan đến số lượng hành hóa - dịch vụ, chi phí, điều kiện thị trường, thời gian hay các mức
lãi suất để phân tích.
4.1.2.4. Lập danh sách các tác động của mỗi dự án thay thế
nhầm lẫn, nhưng phương pháp tiếp cận lợi ích - chi phí chính nó đã góp phần đặc biệt quan trọng trong
việc giải quyết những vấn đề có tính chất kinh tế, xã hội và môi trường như hiện nay.
Việc so sánh và phân định giữa lợi ích và chi phí một cách có hệ thống và việc cân nhắc mọi giải pháp
cho ta thấy rằng phương pháp tiếp cận vấn đề của những nhà kinh tế học có thể khác so với phương pháp
tiếp cận của các nhà chuyên môn khác. Chúng tôi biên soạn chương này vì chúng tôi cho rằng việc phân
tích tương tự như vậy sẽ đem lại sự thành công đáng kể khi được áp dụng cho những vấn đề đặc biệt có
liên quan đến khoa học về môi trường.
4.2. NGUYÊN TẮC QUYẾT ĐỊNH
4.2.1. Nguyên tắc quyết định của cá nhân
Trước khi tìm hiểu về nguyên tắc quyết định của cá nhân, chúng ta xem xét 2 khái niệm cơ bản sau:
- Lợi ích cá nhân chính là các yếu tố làm tăng sự thỏa mãn nhu cầu của cá nhân (gia tăng ý thích).
- Chi phí là tất cả các yếu tố làm giảm sự thỏa mãn nhu cầu của cá nhân (thiệt hại mà cá nhân phải
gánh chịu).
Cơ sở quyết định của các cá nhân chính là vấn đề tăng thỏa mãn nhu cầu của chính bản thân họ. Nếu
một cá nhân nào đó thích tình trạng A hơn tình trạng hiện tại thì lợi ích từ việc dịch chuyển tình trạng hiện
tại sang tình trạng A là dương.
Trước khi cá nhân đưa ra quyết định đầu tư thực sự, họ cần phải tiến hành phân tích lợi ích - chi phí
thông qua 4 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: lựa chọn đối tượng và công nghệ sản xuất phù hợp với năng lực sản xuất, có tính đến
xu thế phát triển trong tương lai bởi nhiều phương án.
- Giai đoạn 2: xem xét khả năng và chi phí có liên quan đến việc cung cấp các yếu tố đầu vào như:
lao động, nguyên vật liệu, mặt bằng sản xuất... cũng như vấn đề tiêu thụ các sản phẩm đầu ra tương
ứng với đối tượng và công nghệ được lựa chọn.
- Giai đoạn 3: xác định chi phí để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của các phương án, cùng với việc
tính toán các yếu tố về giá cả được hình thành trên thị trường.
- Giai đoạn 4: so sánh lợi ích và chi phí của các phương án đưa ra để đi đến quyết định cuối cùng cho
phương án lựa chọn của mình.
Đối với phương án A được lựa chọn thì phải thỏa mãn điều kiện B
A
> C
- Trường hợp 4: một số người không quan tâm, phần còn lại chống đối với việc chuyển sang tình
trạng A hoặc tất cả mọi người đều không thích chuyển sang tình trạng A vì họ cảm thấy không được
bất cứ lợi ích gì khi chuyển.
Mặc dù, rất nhiều người phản đối việc so sánh thỏa mãn của từng cá nhân với nhau; nhưng trong thực
tế, chúng ta vẫn thường dùng giải pháp so sánh này bởi vì không thể tìm thấy một giải pháp nào cho
nguyên tắc quyết định xã hội mà không cần đến sự so sánh như thế và cũng khó có thể có một chính sách
nào mà mọi thành viên trong xã hội đều có lợi (không một ai bị hại) và ngược lại.
Như vậy, nguyên tắc quyết định của xã hội phải dựa vào cơ sở tổng hợp các ý thích của mọi người
trong xã hội tuân theo một hệ thống thể chế, pháp luật và mang tính đạo đức.
4.2.3. Giá sẵn lòng trả và đường cầu xã hội
4.2.3.1. Giá sẵn lòng trả
Giá sẵn lòng trả hay bằng lòng trả tiền (Williness to pay - WTP) là thước đo được các nhà kinh tế học
cũng như các nhà kinh tế học môi trường sử dụng để đo lường lợi ích và thiệt hại môi trường trong xã hội.
Bằng lòng trả tiền phản ánh cường độ ý thích cơ bản của cá nhân về hàng hóa - dịch vụ trên thị
trường. Dĩ nhiên là trong nền kinh tế hiện nay có rất nhiều loại hàng hóa - dịch vụ để lựa chọn; do vậy, họ
có quyền trả chi phí để tiêu thụ loại hàng hóa – dịch vụ này thay vì loại hàng hóa - dịch vụ khác. Trong
trường hợp này, ta có thể nói rằng người ta sẵn lòng trả tiền cho một mối lợi và phải chịu đựng với một
mối lợi khác.
Như vậy, WTP là rất cần thiết để giải quyết vấn đề một cá nhân hay một số cá nhân thích chuyển sang
tình trạng A, còn một số cá nhân khác lại không thích (và thậm chí là chống đối) việc chuyển sang tình
trạng A này.
Ví dụ, khi xem xét việc chuyển sang tình trạng A của một số cá nhân, ta thu được các dữ liệu sau:
- Cá nhân thứ nhất: WTP để chuyển sang tình trạng A là 100 đồng.
- Cá nhân thứ hai: WTP để chuyển sang tình trạng A là 70 đồng.
- Cá nhân thứ ba: WTP để chịu đựng việc chuyển sang tình trạng A là 50 đồng.
- Cá nhân thứ tư: WTP để chịu đựng việc chuyển sang tình trạng A là 20 đồng.
Xem xét ví dụ trên ta thấy cá nhân thứ nhất và cá nhân thứ hai có lợi, trong khi đó cá nhân thứ ba và
cá nhân thứ tư có hại (phải chịu đựng cho việc chuyển sang tình trạng khác). Nếu gọi TB (total benefits) là
tổng lợi ích xã hội (giá trị của TB có thể dương, cũng có thể là âm), thì:
TB = WTP
Đường cong tính từ trái sang phải biểu diễn sự bằng lòng trả tiền cận biên cho một đơn vị tiếp theo
được tiêu thụ. Ví dụ, bằng lòng trả tiền để tiêu thụ đơn vị hàng hóa - dịch vụ thứ hai là 9 đồng, đơn vị
hàng hóa - dịch vụ thứ 3 là 7 đồng.
Trong khi đó, toàn bộ sự bằng lòng trả tiền lại được tính bằng tổng số tiền mà cá nhân đó bỏ ra chi
tiêu cho các đơn vị hàng hóa - dịch vụ cần tiêu thụ.
Đối với ví dụ trên thì toàn bộ sự bằng lòng trả tiền sẽ là:
TWP = TWP
1
+ TWP
2
+ TWP
3
+ TWP
4
+ TWP
5
+ TWP
6
= 10 + 9 + 7 + 5 + 4 + 3 = 38.
Ở một số trường hợp, sự bằng lòng trả tiền để tiêu thụ thêm một đơn vị sản phẩm có thể bằng không.
Chẳng hạn như, một cá nhân nào đó khi đã tiêu thụ đủ lượng thực phẩm cần thiết, nếu ta thêm bất cứ một
đơn vị thực phẩm nào cho họ thì không những họ không bằng lòng trả tiền cho đơn vị thực phẩm tiêu thụ
thêm đó mà họ còn cảm thấy khó chịu cho vấn đề này.
4.2.3.2. Đường cầu xã hội
Trong kinh tế học môi trường, chúng ta có thể dùng khái niệm đường cầu xã hội để biểu diễn cho tổng
các đường cầu cá nhân trong xã hội. Do đặc điểm chi trả cho hàng hóa - dịch vụ của mỗi cá nhân trong xã
hội là khác nhau (do có sự khác biệt về thu nhập, sở thích tiêu thụ, nhu cầu tiêu thụ...) nên đường cầu của
từng cá nhân cũng không giống nhau.
Chẳng hạn như, đường cầu xã hội trong trường hợp xã hội chỉ có 3 thành viên tham gia vào tiêu thụ
giới khả năng - tiện ích). Khi đạt được một phân bổ mà không còn cách nào khác để đạt thêm sự cải thiện
Pareto, cách phân bổ đó gọi là hiệu quả Pareto hoặc tối ưu Pareto.
4.2.4.1. Phân tích lý thuyết kinh tế phúc lợi của Pareto
Giả thuyết:
- Nền kinh tế đơn giản chỉ có 2 cá nhân A và B tham gia.
- Khả năng sản xuất của nền kinh tế đã đạt đến ranh giới khả năng - tiện ích.
Định lý 1: với những điều kiện nhất định, một nền kinh tế cạnh tranh sẽ đạt đến điểm nào đó trên
đường cong khả năng - tiện ích (đường cong biểu diễn mức độ tiện ích có được của một cá nhân khi biết
trước mức độ tiện ích của một cá nhân khác) tại điểm cân bằng của thị trường.
Hình 4.2. Mô ph ng ng c u xã h i cho vi c tiêu th hàng hóa – d chỏ đườ ầ ộ ệ ụ ị
vụ
UB
UBE’
UBE
E’
E
I’
I
UAE UAE’ UA0
●
●
●
●
Hình 4.3. Đường cong khả năng - tiện ích
Định lý 2: Một nền kinh tế cạnh tranh có thể đạt đến mọi điểm trên đường cong khả năng - tiện ích với
điều kiện là phải tuân thủ hoàn toàn sự điều khiển của sức mạnh của thị trường cạnh tranh ngay từ sự phân
phối nguồn lực ban đầu cho đến kết quả phân phối nguồn lực này; hoặc là chỉ tác động đến sự phân phối
nguồn lực ban đầu, phần còn lại phải dành cho sự phân phối do cơ chế thị trường phi tập trung hóa.
Cạnh tranh lý tưởng (có hiệu quả Pareto) chỉ dẫn dắt nền kinh tế đến ranh giới chứ không phải là điều
kiện phúc lợi tốt nhất về mặt xã hội. Ngoài ra, cạnh tranh có hiệu quả Pareto không có nghĩa là tự bản thân
phải không âm thì mới xuất hiện sự chuyển dịch nền kinh tế.
Có nghĩa là:
∑i(Bi - Ci) ≥ 0
Khi tổng lợi ích và tổng chi phí đối với sự dịch chuyển bằng nhau (sự đền bù bằng không) thì sự dịch
chuyển của nền kinh tế sẽ không còn ý nghĩa nữa.
Như vậy, để thực hiện sự chuyển dịch nền kinh tế từ tình trạng I sang tình trạng I’ thì phần lợi ích tăng
thêm của các cá nhân này phải đủ bảo đảm mức đền bù cao hơn cho phần lợi ích giảm đi của các cá nhân
khác.
4.3. NHẬN DẠNG LỢI ÍCH VÀ CHI PHÍ
4.3.1. Lợi ích
Lợi ích (Benefits) là một thuật ngữ mà các nhà kinh tế thường sử dụng. Tuy nhiên, trong thời gian gần
đây nó vẫn được sử dụng rộng rãi trong các ngành khoa học, đặc biệt là khoa học môi trường. Nhận dạng
lợi ích trong kinh tế học môi trường, bao gồm những phần lợi mà con người nhận được không là ngoại lệ.
Chẳng hạn như, trồng rừng, làm sạch môi trường, chương trình xóa đói giảm nghèo... sẽ đem lại lợi ích
cho cộng đồng, tuy nhiên, phá rừng, gây ô nhiễm môi trường lại lấy lợi ích ra khỏi cộng đồng (gây thiệt
hại cho cộng đồng).
Về mặt kinh tế thì một cá nhân có được lợi ích thì họ sẵn sàng hy sinh hoặc vui lòng trả tiền để có nó.
Như vậy, lợi ích thu được chính là số tiền mà họ bằng lòng chi trả để có nó.
Giới hạn cận biên của lợi ích chính là phần diện tích nằm phía dưới đường cong cận biên (đường cầu).
●
I1
I2
D2P
D1
0 Q1 Q2 Q
Hình 4.5. Đường cong cận biên giới hạn về lợi ích
Với 2 đường cầu khác nhau thì lợi ích thu được sẽ khác nhau. Trong trường hợp này, lợi ích thu được
được giới hạn bởi đường cầu D
2
lớn hơn lợi ích thu được được giới hạn bởi đường cầu D
của các dự án đầu tư môi trường.
4.3.2.1. Chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội là một thuật ngữ được sử dụng để xem xét khả năng lựa chọn trong các quyết định sản
xuất. Chi phí cơ hội để đầu tư vào một dự án A nào đó bao gồm trị giá tối đa của các dự án khác có thể
được đầu tư nếu chúng ta không dùng các nguồn lực để đầu tư vào dự án A đó.
- Đối với nhà sản xuất hay nhà đầu tư, chi phí cơ hội là việc quyết định sử dụng tài nguyên hay nguồn
lực cho mục đích này thay vì cho mục đích khác.
- Đối với người tiêu dùng, chi phí cơ hội để tiêu thụ sản phẩm A là sự hy sinh tiêu thụ sản phẩm B.
Chẳng hạn như, cá nhân A quyết định mua xe hơi với giá rẻ (sử dụng nhiều nhiên liệu) thì chi phí
cơ hội của cá nhân đó chính là sự hy sinh khoản tiền để mua chiếc xe hơi với giá cao (tiêu thụ ít
nhiện liệu).
- Đối với chính phủ: chi phí cơ hội của một chính sách nhất định nào đó là giá trị thực của các chính
sách khác mà lẽ ra chính phủ có thể theo đuổi. Chẳng hạn như, chi phí cơ hội của việc khắc phục
(a)
(b)
25
0 1 2 3 4 5 Q 0 Qa Qb Q
hậu quả sau trận lũ lụt miền Trung năm 2009 là sự hy sinh các khoản tài chính lẽ ra được dùng để
xây dựng một bệnh viện hay một trung tâm khoa học ngang tầm cỡ Quốc tế.
Lượng giá chi phí cơ hội là một việc làm rất khó khăn vì chúng ta không đủ các thông tin về những
sản phẩm có thể thay thế. Tuy vậy, chúng ta vẫn có thể lượng giá bằng cách tính tổng phí các yếu tố đầu
vào để sản xuất, cũng như các ảnh hưởng về mặt xã hội, môi trường được quy đổi thành tiền. Như vậy,
tổng giá trị của chúng (được quy đổi thành tiền) có thể được xem là chi phí cơ hội của sản xuất.
4.3.2.2. Đường cong chi phí
Đường cong chi phí được xây dựng dựa trên cơ sở mô tả hình học của chi phí sản xuất. Chẳng hạn
như, công ty A sản xuất một loại mặt hàng - dịch vụ với chi phí cận biên như sau:
- 1 sản phẩm : giá 7 đồng.
- 2 sản phẩm : giá 10 đồng.
- 3 sản phẩm : giá 14 đồng.
- 4 sản phẩm : giá 19 đồng.
Pa
7
10
14
19