Cơ sở lý luận về tạo động lực trong lao động - Pdf 63

Cơ sở lý luận về tạo động lực trong lao động
1. Động lực lao động và các yếu tố ảnh hưởng đến động cơ lao động
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Về động cơ và động lực
Động cơ là một bộ phận quyết định sự chuyển động của cỗ máy hay
những hành động của con người. Có động cơ thì cỗ máy mới có thể chuyển
động theo mong muốn của con người và cũng như thế, có động cơ thì con người
mới làm việc theo những điều mà con người mong muốn.
Động cơ lao động bắt nguồn từ nhu cầu cơ bản của bản thân, gia đình xã
hội. Một khi con người có những nhu cầu khác nhau thì họ phải làm việc để có
thể đáp ứng được nhu cầu của bản thân, nuôi sống gia đình và có những đóng
góp cho lợi ích của xã hội. Đây là yếu tố bên trong để tạo động lực cho người
lao động.
Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm
việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Động lực được
biểu hiện qua sự nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu mà tổ chức
đưa ra cũng như bản thân người lao động.
Động lực lao động là sự khát khao tự nguyện của người lao động để tăng
cường sự nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Người lao
động khi có động lực thúc đẩy họ thì họ sẽ có thể làm việc hết với những khả
năng của mình, họ sẽ cố gắng vươn tới những điều mà họ muốn, có thể là thăng
tiến trong công việc hay có thể tăng thu nhập để đảm bảo cuộc sống gia đình,
nâng cao đời sống vật chất trong sinh hoạt hàng ngày.
Bản chất của động lực lao động được thể hiện qua nhiều khía cạnh:
Thứ nhất, động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trường làm
việc. Các công việc có thể khác nhau trong những tổ chức khác nhau sẽ tạo ra
các môi trường làm việc khác nhau. Người lao động từ đó mà có động lực làm
việc một cách hiệu quả hơn, năng suất lao động cao hơn.
Thứ hai, động lực lao động không phải đặc điểm mang tính cá nhân.
Động lực lao động ở đây đó là tạo động lực cho cả một tập thể làm việc có hiệu
quả, từ tập thể hiệu quả mà cả các cá nhân đều muốn cống hiến hết mình cho tập

thể nhất định. Nó chính là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần mà người
lao động nhận được trong tồ chức doanh nghiệp.
Lợi ích vật chất:
Giữ một vai trò hết sức quan trọng vì nó trực tiếp đáp ứng nhu cầu của
người lao động, nó khơi dậy và kích thích tính tích cực của người lao động làm
việc.
Khi xã hội càng phát triển thì sự phân công lao động xã hội càng sâu, mối
quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các cá nhân trong xã hội ngày càng chặt chẽ,
vai trò của lợi ích xã hội ngày càng trở lên quan trọng. Nếu quá đề cao lợi ích xã
hội mà không chú trọng lợi ích cá nhân, tức là lợi ích chính đáng của cá nhân
không được thoả mãn thì sẽ dẫn đến việc mất đi tính hăng hái, tích cực của
người lao động. Trái lại khi lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích tập thể thì sẽ không
có lợi cho tổ chức doanh nghiệp. Một khi lợi ích của cá nhân được thoả mãn
một cách chính đáng thì người lao động sẽ tích cực hơn và tạo ra năng suất lao
động tăng lên. Do đó mà giá trị của sức lao động sẽ tăng lên, lợi ích của người
sử dụng lao động cũng tăng lên.
Chính vì thế mà ta phải giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích giữa cá nhân và
tập thể, tức là trước hết phải quan tâm đến lợi ích cá nhân là cơ sở động lực trực
tiếp cho sự phát triển của con người và xã hội. Tôn trọng và đảm bảo lợi ích xã
hội cũng là điều cần thiết để đảm bảo lợi ích cá nhân và tập thể.
Lợi ích tinh thần:
Các doanh nghiệp vừa phải đảm bảo lợi ích vật chất cho người lao động
thì cũng phải quan tâm đến lợi ích tinh thần của người lao động bởi vì khi tinh
thần của con người được thoải mái thì con người sẽ hoạt động tốt hơn. Khi họ
được hoạt động trong một tổ chức có điều kiện lao động tốt có chính sách thi
đua khen thưởng và kỷ luật rõ ràng…Đạt được lợi ích vật chất và lợi ích tinh
thần thì tính tích cực chủ động sáng tạo của họ sẽ được phát triển và trở thành
động lực thúc đẩy người lao động làm việc cho doanh nghiệp, làm cho nền kinh
tế xã hội ngày càng phát triển.
1.2. Mối quan hệ giữa động lực, nhu cầu và lợi ích

của riêng mình nên họ có những cách sống của riêng họ, không ai giống ai. Do
đó mà thái độ và biểu hiện trong công việc của họ khi làm việc cũng hoàn toàn
khác nhau.
Năng lực của từng người quyết định đến mức độ hiệu quả của công việc
mà họ đang làm có cao hay không? Năng suất làm việc của họ có đạt được như
mong muốn của chính họ và chính tổ chức đề ra hay không? Đây cũng là một
điều quyết định đến sự thăng tiến trong công việc để có thể thỏa mãn hơn về
chính bản thân mình.
1.3.2. Yếu tố thuộc môi trường làm việc
Yếu tố về công việc:
Bản chất đặc điểm công việc: khi công việc phù hợp với người lao động
thì điều đó sẽ giúp cho người lao động làm việc tốt hơn, hăng hái hơn. Ngược
lại công việc không phù hợp sẽ làm cho người lao động chán nản và không
hứng thú với công việc thậm chí không mún làm việc. Như thế sẽ làm cho
doanh nghiệp gặp phải nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh.
Hệ thống công nghệ: Nếu có một hệ thống máy công nghệ thiết bị tốt và
hoàn chỉnh sẽ làm giảm mức độ nặng nhọc cho người lao động đỡ hao tốn sức
lực để có thể làm việc đạt năng suất cao nhất.
Kỹ năng về nghề nghiệp trong công việc thì đòi hỏi lớn nhất trong khi
làm việc là các thao tác cũng như kỹ năng làm việc. Phải có được một tay nghề
tốt để có thể đảm bảo được công việc mà mình phải làm.
Mức độ chuyên môn hóa công việc phải được đề cao để có thể nâng cao
được những sản phẩm đạt chất lượng tốt, các nhân công lao động làm đúng với
nghề nghiệp của họ, không bị trái ngành. Mặt khác, họ còn được chuyên sau vào
một lĩnh vực cụ thể được coi là chuyên môn của họ.
Mức độ phức tạp công việc được biểu hiện qua các độ khó của các công
việc khác nhau, các giai đoạn khác nhau trong cùng một công việc. Những lao
động lành nghề và có trình độ cao được làm những công việc phức tạp hơn để
đảm bảo tính chính xác của các chi tiết, các sản phẩm.
Mức độ về rủi ro được biểu hiện qua từng công việc khác nhau,có người

thần, nhu cầu vật chất để có thể nuôi sống bản thân và chính gia đình họ có một
cuộc sống ấm no sung túc và hạnh phúc,cũng từ đây mà tinh thần của họ cũng
được cải thiện để phù hợp với cách sống hiện tại của con người.Họ muốn được
thoả mãn những gì mà họ đã bỏ công sức ra. Những gì mà họ cống hiến sẽ
thuộc về họ.
Lợi ích của người lao động là rất quan trọng, các nhà quản lý đã kích
thích họ làm việc bằng cách kích thích tinh thần và cả vật chất. Có như thế thì
con người mới có được động lực để làm việc với tất cả những khả năng của
mình. Họ có tinh thần làm việc thoải mái, lợi ích mà họ thu được đủ để trang
trải cuộc sống hàng ngày của gia đình.
Tất cả những việc người lao động đã làm thì họ chỉ mong được thoả mãn
nhu cầu và lợi ích từ các công tác tạo động lực từ cấp lãnh đạo. Bởi cấp lãnh
đạo luôn là người hoạch ra cho họ con đường giúp họ đến sự thành công trong
cuộc sống cũng như trong công việc.
2. Các học thuyết tạo động lực trong lao động
2.1. Hệ thống nhu cầu của Maslow
Maslow cho rằng con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau mà họ khao
khát được thoả mãn. Maslow chia các nhu cầu đó thành năm loại và sắp xếp
theo thứ bậc như sau:
- Các nhu cầu sinh lý là các đòi hỏi cơ bản về thức ăn, thức uống, chỗ ở và
ngủ và các nhu cầu cơ thể khác.
- Nhu cầu an toàn là nhu cầu được ổn định, chắc chắn, được bảo vệ khỏi
các điều bất trắc hoặc nhu cầu tự bảo vệ.
- Nhu cầu xã hội đó là nhu cầu được quan hệ với những người khác để thể
hiện và chấp nhận tình cảm, sự chăm sóc và sự hợp tác. Hay nói cách
khác là nhu cầu bạn bè, giao tiếp.
- Nhu cầu được tôn trọng: là nhu cầu có địa vị, được người khác công nhận
và tôn trọng, cũng như nhu cầu tự tôn trọng mình.
- Nhu cầu tự hoàn thiện là nhu cầu được trưởng thành và phát triển, được
biến các năng lực của mình thành hiện thực, hoặc nhu cầu đạt được các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status