Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
Mục lục
Lời nói đầu
Trong những năm bắt đầu công cuộc đổi mới, khi nguồn viện trợ nước
ngoài bị cắt giảm đột ngột, nguồn đầu tư từ ngân sách eo hẹp, các doanh nghiệp
nhà nước gặp nhiều khó khăn, vốn tiềm ẩn trong dân chưa huy động được nhiền,
1
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một chủ trương cấp
thiết. Luồng vốn FDI đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, đưa
đất nước ta ra khỏi khủng hoảng, ổn định và phát triển kinh tế.
Ngày nay, trước những đòi hỏi bức xúc của giai đoạn công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước, nguồn vốn FDI đã trở thành một bộ phận không thể
tách rời trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, không chỉ của riêng nước
ta, mà của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Trong cuộc cạnh tranh này, moi
quốc gia đều đã nhận thức được vai trò của các hoạt động xúc tiến đầu tư
trong việc thu hút vốn FDI và không ngừng phát triển cac hoạt động này.
Cạnh tranh trong lĩnh vực xúc tiến đầu tư cũng chính là cạnh tranh thu hút
vốn FDI. Với ý nghĩa quan trọng như vậy, nội dung của khoá luận này xin
được trình bày về thực trạng hoạt động xúc tiến đầu tư tại Việt Nam và đề
xuất một số biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả của các hoạt động này.
Xin được gửi lời cảm ơn trân trọng tới Tiến sỹ Vũ Thị Kim Oanh – Bộ
môn Đầu tư, Khoa kinh tế ngoại thương, Trường Đại học Ngoại Thương –
người đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành khoá luận.
Xin chân thành cảm ơn các thày cô giáo Bộ môn Đầu tư và các thày cô
giáo khoa Kinh tế ngoại thương – những người đã trang bị cho em những kiến
thức thiết thực và bổ ích cho quá trình viết khoá luận cũng như công tác sau này.
Xin trân trọng cảm ơn !
2
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
Chương 1
10% cổ phần phổ thông hoặc 15% quyền biểu quyết.
[2]
Điểm mấu chốt trong
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài chính là quyền kiểm soát hoạt động của
doanh nghiệp. Tuy nhiên, không phải mọi quốc gia đều sử dụng ngưỡng 10%
để xây dựng định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bởi vậy các số liệu thống
kê lượng vốn FDI của các tổ chức khác nhau có thể không giống nhau.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm 3 phần
V
Vốn cổ phần, bao gồm cả vốn điều lệ của chi nhánh và các
khoản góp vốn khác.
k
Lợi nhuận tái đầu tư dưới dạng cổ phần hoặc chuyển nợ liên
công ty.
c
Các khoản vốn tương ứng với các khoản chuyển nợ liên công
ty.
Có 2 hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
C
Đầu tư mới - Greenfield Investment (thành lập mới doanh
nghiệp liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài)
4
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
K
Mua lại và sáp nhập -Merger & Acquisition (mua lại và sáp
nhập một doanh nghiệp hiện có hoặc mua cổ phiếu của các công
ty cổ phần hoặc đã được cổ phần hoá)
ở nhiều quốc gia, mua lại và sáp nhập là một hình thức quan trọng của
đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, hình thức này chưa phổ biến ở Việt
Nam do những quy định hạn chế cổ phần nước ngoài trong doanh nghiệp nội
động trong khu vực này cũng đang tăng lên nhanh chóng so với tổng
lao động xã hội.
l
Tăng thu ngân sách - FDI đóng góp vào ngân sách nhà nước thông
qua các khoản thuế. Ngay cả khi các doanh nghiệp liên doanh được
miễn hoàn toàn thuế thu nhập của doanh nghiệp liên doanh, nhà
nước vẫn có thể tăng thu ngân sách từ thuế thu nhập cá nhân nhà đầu
tư và các loại thuế gián tiếp khác. Đóng góp vào ngân sách Nhà nước
của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam trong thời kỳ 1996-2000 là
khoảng 1,45 tỉ USD, chiếm 6-7% tổng ngân sách.
[12]
Tại Trung
Quốc, tổng số thuế thu được từ khu vực FDI trong năm 2001 đã tăng
30% so với năm 2000, chiếm 19% tổng số thuế thu được vào ngân
sách trong năm.
[18]
[
ảnh hưởng tích cực đến đầu tư trong nước- Dòng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài sẽ kích thích đầu tư nội địa và các công ty này có thể
trở thành các kênh phân phối hoặc trở thành công ty cung ứng của
các doanh nghiệp nước ngoài. Bên cạnh đó, sức ép cạnh tranh từ các
6
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
công ty nước ngoài cũng kích thích các công ty nội địa tăng cường
đầu tư.
đ
Chuyển giao công nghệ - FDI có thể giúp nước tiếp nhận đầu tư tiếp
cận được với công nghệ mới trên thế giới qua thông qua việc đầu tư
hoàn toàn dây chuyền sản xuất mới tại các doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài hoặc góp vốn bằng công nghệ trong doanh nghiệp liên
tăng cường được sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
t
Tăng cường cạnh tranh nền kinh tế - FDI góp phần kích thích tăng
trưởng chung của một nền kinh tế nhờ đẩy mạnh cạnh tranh trong
những ngành mà có chỉ một số ít các công ty nội địa đang chiếm vị
trí độc tôn.
1.1.3. Các nhân tố tác động đến dòng chảy FDI.
1.1.3.1. Toàn cầu hoá
Trong xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, các
công ty đều có khả năng chọn lựa địa điểm sản xuất thích hợp nhất nhằm
giảm giá thành sản xuất.
Tiến trình toàn cầu hoá đã đem lại cho các quốc gia có nguồn lao động
rẻ như Việt Nam khả năng phát huy lợi thế cạnh tranh của mình và thu hút
nhiều hơn nguồn vốn FDI. Điều quan trọng là các quốc gia này phải đảm bảo
giảm thiểu các rào cản trong quá trình xâm nhập và hoạt động của nhà đầu tư,
các chi phí hoạt động khác phải ở mức hợp lý, và những hạn chế mang tính
quan liêu trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh phải dần được dỡ bỏ.
Nếu các quốc gia không tận dụng tốt những cơ hội này, họ sẽ đánh mất tính
cạnh tranh và tụt lại phía sau làn sóng phát triển toàn cầu.
8
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
1.1.3.2. Khu vực hoá
Quá trình toàn cầu hoá đã đưa đến sự hình thành các liên kết khu vực
như EU, ASEAN, APEC,… Các liên kết này nhằm tạo ra các khu vực kinh tế
rộng lớn hơn trong đó lợi thế tương đối cũng như lợi thế kinh tế quy mô được
phát huy tối đa.
1.1.3.3. Các sự kiện tác động tới nền kinh tế Việt Nam trong
tương lai gần.
Có 3 sự kiện lớn đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới nền kinh tế Việt
Nam cũng như chiến lược thu hút và xúc tiến đầu tư của Việt Nam.
công ty Mỹ trong các lĩnh vực dịch vụ, thương mại, viễn thông. Vấn đề bảo
vệ quyền sở hữu trí tuệ cũng được chú trọng. Việt Nam sẽ phải xoá bỏ các
biện pháp đầu tư trong thương mại ( Trade-related Investment Measures). Hai
nước cam kết sẽ thực hiện các nghĩa vụ của mình trong vấn đề bảo vệ Quyền
sở hữu trí tuệ trong thương mại
( Trade-related Intellectual Property Rights).
[4]
Các quy định về đầu tư cũng sẽ được ban hành rõ ràng và kịp thời sau
khi đã có sự bàn bạc tham khảo ý kiến, do đó làm tăng tính rõ ràng của hệ
thống các quy định pháp lý về hoạt động đầu tư.
t
Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam
10
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
Việt Nam đưa ra các điều khoản cam kết cụ thể vào tháng 1 năm 2002.
Phiên họp thứ 5 của nhóm làm việc về vấn đề gia nhập của Việt Nam vào
tháng 4/2002 đã xem xét các đàm phán thỏa thuận song phương của Việt Nam
và kế hoạch hành động đối với một số hiệp định của WTO. Phiên họp thứ 6
vào tháng 12/2002 đã đánh đấu sự khởi đầu của quá trình đàm phán trở thành
thành viên của WTO.
Thực hiện tiến trình gia nhập WTO, Việt Nam sẽ phải cam kết thực hiện
các điều khoản sau:
[5]
[
Không phân biệt đối xử: Tất cả các thành viên WTO đều phải áp
dụng nguyên tắc tối huệ quốc trong chính sách thương mại của mình,
không phân biệt đối xử giữa hàng hoá dịch vụ nội địa với nước ngoài
và không phân biệt đối xử giữa các quốc gia.
v
Từng bước dỡ bỏ các rào cản thương mại qua các vòng đàm phán
Toàn cảnh đầu tư FDI của thế giới giai đoạn 1991-2001 được tổng hợp
trong bảng dưới đây:
12
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
Bảng1 - Tình hình đầu tư FDI của thế giới 1991-2001(Đơn vị: tỉ USD)
1991-1995 1996-2000 1999 2000 2001
Thế giới 1124,2 4626 1320,4 1632,7 851,9
Mỹ 349,1 647,1 155,4 152,4 156
Nhật 103,4 127,9 22,3 31,5 38,5
Châu Âu 642 2660,2 762,4 1011,7 394,1
NICs châu á 34,3 72,1 12,6 16 8,1
Nguồn: Báo cáo đầu tư thế giới 2002,UNCTAD. (World Investment Report 2002)
Sự suy giảm trong đầu tư quốc tế cho thấy sự đi xuống của nền kinh tế
toàn cầu. Trong bối cảnh đó, sức ép cạnh tranh gay gắt càng thúc giục các
công ty tìm kiếm địa điểm đầu tư có giá thành sản xuất rẻ hơn nữa. Những
nền kinh tế có giá cả đầu tư thấp sẽ là điểm tìm đến của các nhà đầu tư. Bên
cạnh đó, dòng vốn FDI cũng sẽ bắt nguồn từ các nước có thị trường nội địa
tăng trưởng chậm hơn so với thị trường ngoài nước.
Theo Báo cáo đầu tư thế giới (World Investment Report 2002) do
UNCTAD thực hiện, đã có một sự phân phối lại nguồn vốn FDI tới các nước
đang phát triển cũng như khu vực Đông và Tây Âu. Đây là những nơi có tốc
độ tăng trưởng nhanh hơn so với các nước phát triển.
Năm 2001, vốn FDI vào các khu vực này chiếm 28% (các nước đang
phát triển) và 4% (Đông - Trung Âu) tổng vốn FDI toàn thế giới so với 18%
và 2% của 2 năm trước đó. Cùng với xu hướng suy giảm đầu tư nói chung, sự
phân phối lại nguồn vốn FDI này đã gây nên mức tụt giảm kỉ lục trong đầu tư
vào các nước phát triển năm qua. Điều này thể hiện rất rõ trong biểu đồ thống
kê dòng vốn đầu tư nước ngoài vào 10 nền kinh tế lớn của thế giới trong hai
13
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
cầu, 79% số công ty được điều tra vẫn cho thấy kế hoạch mở rộng đầu tư trực
tiếp nước ngoài trong những năm tới. Các doanh nghiệp sản xuất chiếm ưu
thế hơn về đầu tư FDI so với các doanh nghiệp dịch vụ.
[7]
Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) cũng đưa ra kết quả tương
tự trong cuộc điều tra tiến hành vào tháng 7, 8 năm 2001. 72% các TNCs
Nhật Bản nói rằng họ sẽ tăng cường mở rộng hoạt động tại nước ngoài (con
số này của các năm trước chỉ là 55%.
[8]
Các nước đang phát triển và các thị trường đang mở rộng giành được sự
chú ý của các nhà đầu tư và chiếm tới hơn một nửa trong số 20 điểm đầu tư
được ưa thích nhất. Việt Nam cũng nằm trong số đó. Mỹ và Tây Âu vẫn được
đánh giá là địa điểm ưa thích của các nhà đầu tư nước ngoài.
[9]
1.1.4.2. Xu hướng đầu tư khu vực những năm tới
Châu á là khu vực đang ngày càng có vị trí quan trọng thu hút mạnh mẽ
nguồn vốn FDI. Năm 2002, Châu á đã vượt qua châu Mỹ La Tinh chiếm vị trí
thứ 3 trong số các khu vực hấp dẫn đầu tư nước ngoài nhiều nhất, sau Bắc Mỹ
và Châu Âu. Theo điều tra của A.T Kearney năm 2002, hơn một nửa trong số
10 nước có những bước tiến tích cực nhất về thu hút đầu tư so với năm trước
đó nằm ở khu vực Châu á Thái Bình Dương.
[9]
Biểu đồ dưới đây cho thấy 10 nước đang phát triển thuộc nhóm những
điểm đầu tư được TNC lựa chọn nhiều nhất trong giai đoạn 2002 – 2005 theo
điều tra của UNDTAD trong Báo cáo đầu tư thế giới 2002. Trung Quốc là
nước có được tỉ lệ lựa chọn cao nhất bởi các TNC : 22%, tiếp đến là hai nước
Đông Nam á Malaixia và Thái Lan với tỉ lệ là10%.
[10]
Mỹ là nước liên tiếp đứng đầu 5 năm trước đó để trở thành nước hấp dẫn đầu
tư số 1 trên thế giới. Các nhà đầu tư ngày nay có cái nhìn lạc quan đối với thị
trường Trung Quốc hơn những năm trước đây và hơn bất cứ quốc gia nào
khác. Nhiều công ty chưa từng đầu tư vào Trung Quốc trước đó có ý định thử
đầu tư vào đây trong vòng 3 năm tới. Nhân tố quyết định cho sự thành công
đầy ấn tượng này của Trung Quốc chính là tình hình tương đối ổn định về
16
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
chính trị, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và sự kiện Trung Quốc đã chính thức
trở thành thành viên của WTO năm 2002.
[9]
Cũng theo điều tra của Kearney, bên cạnh Indonesia là nước kể từ năm
1998 đã liên tục có FDI ròng dưới 0-đầu tư FDI ra nước ngoài vượt quá đầu
tư FDI vào trong nước, các nước ASEAN trong đó có Singapo, Malaixia,
Thái Lan và Philippin tiếp tục đánh mất dần sức hấp dẫn đối với các nhà đầu
tư. Việt Nam là nước duy nhất nằm ngoài xu hướng ảm đạm này.
Biểu đồ 3 - Vốn FDI ròng vào một số quốc gia Đông Nam á
-6000
-4000
-2000
0
2000
4000
6000
8000
trieu USD
85-95 1997 1998 1999 2000 2001 Giua
2002
Vietnam
Philippines
rất quan trọng của cuộc điều tra này là Trung Quốc gia nhập WTO sẽ tăng sức
hấp dẫn đầu tư cho khu vực ASEAN và các nước Châu á khác (đây là nhận
định của 48% công ty được điều tra).
[9]
18
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
1.2. Hoạt động xúc tiến đầu tư
1.2.1. Khái niệm xúc tiến đầu tư
Vốn đầu tư FDI không tự nhiên đến với quốc gia nào. Trong bối cảnh
các quốc gia đều thực hiện tự do hoá đầu tư, các công ty đa quốc gia chỉ bị
hấp dẫn bởi nơi nào có điều kiện phù hợp nhất. Bởi vậy sự cạnh tranh giữa
các quốc gia để thu hút nguồn vốn FDI ngày càng gay gắt, nhất là trong điều
kiện đầu tư quốc tế có xu hướng suy giảm trong những năm sắp tới.
Cũng vì lẽ đó, thay vì đưa ra các quy tắc, luật lệ đối với các nhà đầu tư,
các quốc gia giờ đây lại tìm đến giải pháp xúc tiến để thu hút họ. Trọng tâm
của giải pháp này là khái niệm xúc tiến đầu tư và các kĩ thuật xúc tiến đầu tư
cũng như việc đề ra các chiến lược phù hợp với các yêu cầu và điều kiện đầu
tư. Vai trò ngày càng quan trọng của vốn FDI đã khiến hoạt động xúc tiến đầu
tư trở nên sôi nổi hơn bao giờ hết, không chỉ đối với các nước phát triển mà
đối với cả các nước đang phát triển.
Hoạt động xúc tiến đầu tư ngày càng trở nên phức tạp, nó không chỉ đơn
thuần là mở cửa thị trường nội địa cho các nhà đầu tư nước ngoài và tiến hành
vận động chung chung. Không có một cách định nghĩa nhất quán cho khái
niệm xúc tiến đầu tư, song theo nghĩa hẹp, xúc tiến đầu tư được coi là một
loạt các biện pháp nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua một
chiến lược marketing hỗn hợp bao gồm chiến lược sản phẩm (Product
strategy), chiến lược giá cả (Pricing strategy) và chiến lược xúc tiến
(Promotional strategy).
19
[19]
, cung cấp cho họ lượng thông tin kịp thời, chính
xác, tạo điều kiện cho họ nhanh chóng tính toán sổ sách, mức độ sinh lợi, rủi
ro để đi đến quyết định đầu tư.
Bên cạnh đó, các dịch vụ đầu tư giúp các chủ đầu tư có được thông tin
về thị trường nội địa, được tư vấn về lực lượng nhân công cũng như về thủ tục
đăng ký, cấp phép, được giúp tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực hiện dự
án… để chủ đầu tư có thể nhanh chóng đi vào hoạt động một cách thuận lợi
và hiệu quả.
Với ý nghĩa đó, xúc tiến đầu tư đã trở thành nội dung chính của hoạt
động thu hút vốn FDI. Cạnh tranh giữa các quốc gia trong thu hút vốn FDI
cũng chính là cạnh tranh trong lĩnh vực xúc tiến đầu tư.
1.2.3. Các bộ phận của chương trình xúc tiến đầu tư
Các bộ phận của chương trình xúc tiến đầu tư bao gồm :
h
Các chính sách và môi trường đầu tư
Các chiến lược xúc tiến đầu tư
Cơ quan thực thi các chiến lược này.
Thành công của mỗi bộ phận đều ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng thu
hút FDI của quốc gia đó.
1.2.3.1. Chính sách đầu tư.
Chính sách đầu tư là một tập hợp các chính sách thương mại và các
chính sách kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, các nhà đầu tư lại thường đặc biệt quan
tâm đến các nhân tố như điều kiện cho phép đầu tư, các chế độ ưu đãi, tỉ giá
21
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
hối đoái, chính sách hỗ trợ vốn, luật đất đai, cơ sở hạ tầng, các quy định về
hồi hương hay xung công tài sản.
các dịch vụ trước khi cấp phép, cấp phép và sau cấp phép. Yêu cầu
của hoạt động này là phải thiết thực và năng động.
Chiến lược xúc tiến đầu tư phải kết hợp được tất cả các kĩ thuật trên sao
cho phù hợp với các yêu cầu cũng như tiềm năng của mỗi quốc gia. Ttrọng
tâm của các hoạt động này thay đổi tuỳ theo từng quốc gia và tuỳ theo từng
giai đoạn để thích ứng với các điều kiện và nhu cầu ưu tiên khác nhau. Thông
thường một chiến lược xúc tiến đầu tư có thành công hay không phụ thuộc rất
nhiều vào chất lượng các dịch vụ đầu tư bởi điều quan trọng là những dự án
tiềm năng phải được hiện thức hoá thành hành động đầu tư thực tế và nếu các
nhà đầu tư cảm thấy thoả mãn thì điều đó cũng có nghĩa là quốc gia đó sẽ thu
hút được thêm nhiều nhà đầu tư khác nữa.
Để thực sự đạt được hiệu quả, các chiến lược xúc tiến đầu tư đều phải
có mục tiêu rõ ràng, phù hợp với mục tiêu chung. Xác định mục tiêu của
chiến lược liên quan đến việc lựa chọn quốc gia, lĩnh vực cũng như các công
ty để tiến hành chương trình xúc tiến. Việc này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu
và hoạch định một cách chi tiết, cụ thể.
23
Hoàng Hải Châu - Nhật 3K38F, KTNT Khoá luận tốt nghiệp
1.2.3.3. Cơ quan thực thi chính sách xúc tiến đầu tư.
Ngày nay, hầu hết các quốc gia đều đã chuyển từ giai đoạn đầu của xúc
tiến đầu tư - chủ yếu liên quan đến việc mở cửa thị trường đối với các nhà đầu
tư nước ngoài - sang giai đoạn thứ 2 là tích cực thu hút nguồn vốn FDI chảy
vào trong nước. Xu hướng này biểu hiện rõ rệt qua việc các quốc gia đều
thành lập Uỷ ban xúc tiến đầu tư (Investment Promotion Agency).
Theo Báo cáo đầu tư thế giới 2002 của UNCTAD , số lượng các Cơ
quan xúc tíên đầu tư trên thế giới ngày càng tăng nhanh kể từ thập kỷ 1990.
Hiện nay, trên thế giới đã có 164 Uỷ ban xúc tiến đầu tư quốc gia và hơn 250
Cơ quan xúc tiến đầu tư địa phương.
[10]
Xúc tiến đầu tư không phải là hoạt động không có thể lấy thu bù chi.
trường nhỏ hơn và nguồn tài nguyên không mấy phong phú thì điều tối quan
trọng là phải tập trung xây dựng một chiến lược xúc tiến năng động cùng với
một cơ quan hoạt động hiệu quả nhằm thực thi tốt chiến lược đó.
Thực tiễn đã cho thấy một chính sách đầu tư hợp lý đi cùng với một chiến
lược xúc tiến năng động và được tiến hành một cách chuyên nghiệp sẽ làm nên
thành công của hoạt động xúc tiến đầu tư. Kinh nghiệm của các nước phát triển
cũng như các nước đang phát triển trong việc thu hút FDI đều cho thấy rằng
Chính phủ các quốc gia cần phải đảm nhiệm tốt hai nhiệm vụ sau:
25