GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ THỊ TRƯỜNG Ô TÔ VIỆT
NAM VÀ XU HƯỚNG TRÊN THỊ TRƯỜNG TRONG
THỜI GIAN TỚI
2.1 . TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG Ô TÔ TẠI VIỆT NAM VÀ HÀNH VI CỦA
NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG THỜI GIAN QUA:
Khi nước ta trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức thương mại thế
giới WTO vào ngày 01/11/2006 thì một luồng gió mới đã thổi vào nền kinh tế của nước
ta. Việt Nam phải thực hiện hàng loạt các cam kết mở cửa trong mọi lĩnh vực của nền
kinh tế và nền công nghiệp ô tô cũng không là một ngoại lệ. Nhà nước đã và đang
không ngừng nghiên cứu, thực thi các chính sách đổi mới để sự phát triển của ngành trở
nên phù hợp với xu hướng của thị trường trong nước và thế giới.
Đồng thời, sự hội nhập cũng đem đến hàng loạt những khó khăn và thách thức
đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực ô tô. Chiến lược phát triển mà họ
áp dụng trong thời gian qua nay đã trở nên không phù hợp với xu hướng của thị trường
và ẩn chứa nhiều rủi ro đối với hoạt động cùng hình ảnh của doanh nghiệp trên thị
trường. Sự cạnh tranh trong ngành ngày càng khắc nghiệt, đòi hỏi các doanh nghiệp
phải nâng cao khả năng thích ứng và đề phòng rủi ro trong hoạt động kinh doanh của
mình.
Trước khi đi vào nhận diện và phân tích những rủi ro đó, cần nhìn lại toàn cảnh
chặng đường phát triển của thị trường ô tô nước ta nói chung và TP.HCM nói riêng
trong thời gian qua với hai cột mốc quan trọng vào năm 2000 và 2006. Đồng thời xem
xét các đặc điểm tâm lý người tiêu dùng đối với sản phẩm khá đặc biệt này.
Theo Quyết định số 177/2004/QĐ-TTG về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển
ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 thì sản lượng
ô tô đến năm 2010 sẽ như bảng sau :
Bảng1 : Cân đối năng lực, nhu cầu , và bổ sung sản lượng ô tô đến năm 2010.
(ĐV:Xe).
Năng lực năm 2003 Sản lượng yêu cầu
năm 2010 (dự báo)
Sản lượng cần bổ
sung năm 2010
lượng xe tiêu thụ là 42.545 chiếc.
Chín tháng đầu năm 2004 coi như thất bại với hầu hết các doanh nghiệp lắp ráp
ôtô, nhưng 3 tháng cuối năm 2004 sức mua tăng mạnh như thời điểm một năm về trước.
Các liên doanh đang được hưởng lợi nhờ vào cơn sốt xe của người tiêu dùng vì tâm lý
sợ thuế tiêu thụ đặc biệt đầu năm 2005 sẽ được áp dụng. Thị trường vẫn còn rất nhiều
nhu cầu ôtô, những người cần xe thật sự phải chấp nhận đi mua vì không thể tiếp tục
chờ đợi một khung giá thấp.
Đầu năm 2005 mức thuế tiêu thụ đặc biệt đã chính thức được áp dụng đối với
thị trường ôtô trong nước. Phản ứng trước việc này, thị trường ô tô trong quý 3 năm
2004 đã tăng trưởng mạnh so với 6 tháng đầu năm. Trong quý 3 năm 2004, lượng xe
bán ra của 11 liên doanh sản xuất ôtô trong nước là 9.657 xe, trong khi trung bình mỗi
quý lượng xe tiêu thụ chỉ đạt gần 6.400 chiếc. Lo ngại giá xe sẽ tăng khi thuế tiêu thụ
đặc biệt thay đổi vào đầu năm 2005 là nguyên do chính làm nhu cầu mua xe tăng đột
biến. Chính phủ đã quyết định mức thuế suất ờ những mức sau:
Bảng 2: Mức thuế suất tiêu thụ đặc biệt trong ngành công nghiệp ô tô
Thuế ô tô 2003 2004 2005 2006
Thuế nhập khẩu cho bộ linh kiện
CKD của xe 0-15 chỗ
20% 25% 25% 25%
Thuế nhập khẩu cho bộ linh kiện
CKD của xe 16-24 chỗ
10% 15% 15% 15%
Thuế Tiêu thụ đặc biệt cho xe 0-5
chỗ
5% 24% 40% 50%
Thuế Tiêu thụ đặc biệt cho xe 6-15
chỗ
3% 15% 25% 30%
Thuế Tiêu thụ đặc biệt cho xe 16-
23 chỗ
thị trường trường đầy tiềm năng này đã chính thức tham gia với mẫu xe Civic - hiện
đang chiếm lĩnh vị trí đứng đầu về doanh số trong dòng xe Sedan hạng trung. Một thế
lực mới cũng dần xuất hiện trên thị trường đó chính là ô tô nhập khẩu. Đồng thời, trên
thị trường đã xuất hiện những tín hiệu đầu tiên của xu hướng mới mà trong tương lai
gần sẽ khiến sự cạnh tranh trong ngành ô tô ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Đó là xu
hướng “ngừng sản xuất – chuyển sang phân phối”, chúng ta có thể nhìn thấy được xu
hướng này thông qua việc 2 thương hiệu BMW, Daihatsu đã rút chân ra khỏi liên doanh
trong VMC (BMW), Vindaco(Daihatsu). Và quay trở lại thị trường thông qua việc chỉ
định một công ty khác làm đại diện phân phối sản phẩm trong thời gian tới.(BMW sẽ
quay lại thị trường VN vào đầu tháng 7/2007 do công ty cổ phần Euro Auto làm đại
diện phân phối).
2.2 DỰ BÁO XU HƯỚNG CỦA THỊ TRƯỜNG VÀ HÀNH VI CỦA NGƯỜI
TIÊU DÙNG TRONG THỜI GIAN TỚI :
Như vậy, bức tranh toàn cảnh về thị trường ô tô trong nước năm 2007 và trong
những năm tiếp theo sẽ có nhiều sự thay đổi đáng kể trong nhiều mặt. Thứ nhất, thị
trường ô tô Việt Nam có thể lành mạnh hơn vì có hai nguồn cung cấp mới, đó là nguồn
xe nhập khẩu được giảm thuế từ 0%- 5% khi Việt Nam tham gia CEPT và AFTA vào
cuối năm 2007, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe sản xuất trong nước được nâng dần lên
90%. Khi đó, người dân sẽ không mua xe trong nước nếu giá vẫn bằng giá xe nhập
khẩu như hiện nay. Thứ hai là, nguồn cung cấp của các doanh nghiệp Việt Nam mới
tham gia đầu tư với công nghệ chủ yếu nhập từ Trung Quốc, giá thành sản phẩm được
hứa hẹn là sẽ rẻ hơn so với giá mà các liên doanh đang bán. Thứ ba, miếng bánh của
thị trường ô tô Việt Nam – vốn dĩ rất “hấp dẫn” do quy mô thị trường ngày càng lớn -
sẽ do 3 nguồn lực cạnh tranh khai thác bao gồm: Các liên doanh sản xuất ô tô trong
nước, các tập đoàn ô tô nước ngoài thông qua các công ty trong nước làm đại diện phân
phối, và cuối cùng là các công ty có quy mô vừa và nhỏ tập trung vào các mẫu xe nhập
khẩu đã qua sử dụng. Có thể nói, mức độ nghiêm trọng của các rủi ro đối với các
doanh nghiệp trong lĩnh vực o tô ngày càng cao với tần suất xuất hiện ngày càng lớn
tương ứng với sự tăng trưởng theo quy mô sắp tới của thị trường. Và các liên doanh,
doanh nghiệp tất yếu phải có sự điều chỉnh chiến lược để có thể tránh trược việc thất