Câu 19: Hình thái, vòng đời, triệu chứng, bệnh tích, phương pháp chẩn
đoán , biện pháp phòng trừ các bệnh giun sán sau:
Sán lá ruột lợn do Fasciolopsis buski:
- Hình thái căn bệnh:
Fasciolopsis buski có hình lá, màu đỏ hồng, phình rộng phía sau,
thon nhỏ dần về phía đầu. Sán dài 20-70 mm, rộng 8- 20 mm, dày 0,5- 3
mm.
Thân có phủ những gai nhỏ, có 2 giác bám gần nhau ở trước cơ thể.
Giác bụng lớn hơn giác miệng. Thực quản ngắn, hầu nhỏ. Manh tràng
phân thành 2 nhánh ngoằn ngoèo ở hai bên và kéo dài tới cuối thân. Hai
tinh hoàn phân nhánh nhiều, xếp trên dưới nhau ở phần sau thân
sán.Buồng trứng phân nhánh ở phải trước tinh hoàn và hơi lệch về phía
bên trái. Túi sinh dục hình ống thong với bên ngoài qua lỗ sinh dục phía
trước giác bụng. Tuyến noãn hoàng phân nhánh hình cành cây ở 2 bên
thân sán.
Trứng màu vỏ chanh, vỏ mỏng, phình rộng ở giữa, thon dần đều về
phía 2 đầu; ở đầu hơi nhỏ hơn, có nắp trứng. Phôi bào phân bố đều, xếp
kín vỏ trứng. Ranh giới giữa các phôi bào không rõ ràng.
- Vòng đời:
Sán trưởng thành ký sinh ở ruột non lợn. Sau khi thụ tinh, sán đẻ
trứng tho phân ra ngoài. Trung bình mỗi sán đẻ 15000- 18000 trứng trong
một ngày. Nếu gặp điều kiện thuận tiện, sau 2- 3 tuần trứng phát triển
thành miracidium. Dạng ấu trùng này thoát khỏi vỏ trứng và bơi trong
nước tìm ký chủ trung gian. Nếu gặp ký chủ trung gian thích hợp,
miracidium chui vào ký chủ, rụng lông biến thành Sporocyst. Sporocyst
sinh sản vô tính cho media. Cũng bằng sinh sản vô tính, media lại sinh sản
ra nhiều media khác và sau đó, những media này sinh ra Cercaria. Thời
gian từ khi miracidium vào ký chủ trung gian tới khi hình thành cercaria
chui ra khỏi ký chủ trung gian là khoảng 38 ngày. Sauk hi chui ra khỏi ký
chủ trung gian, ceracaria bơi trong nước một thời gian rồi bám vào cây cỏ
thủy sinh, rụng đuôi, tạo vỏ bọc xung quanh và biến thành adolescarin,
Prosthogominus cuneatus có hình quả lê, thon ở phía trước, phình
rộng phía sau, có gai nhỏ phủ trên bề mặt thân, dài 4,9- 6,5 mm, rộng 2,9-
4,5 mm, đường kính giác miệng 0,329- 0,615 mm, đường kính giác bụng
0,736- 0,943 mm. Hầu nhỏ. Thực quản ngắn. Tinh hoàn hình tròn. Xếp
đối xứng 2 bên thân sán. Túi sinh dục ở phía trước giác bụng. Lỗ sinh sản
đực và cái ở ngay bên phải giác miệng. Buồng trứng phân thùy, hình hoa
nằm ngay sau giác bụng ( ở mép cuối). Tuyến noãn hoàng hình chùm,
phân bố ở 2 bên thân sán từ ngay mép trước giác bụng đến ngang mép sau
tinh hoàn. Tử cung cuộn thành những nút sau giác bụng. Phía trước giác
bụng, tử cung chỉ là 1 ống thẳng kép dài đến gần túi sinh dục và thông với
lỗ sinh dục cái.
Trứng nhỏ, vỏ dày, kích thước 0,025- 0,028 mm * 0,014-0,016 mm.
Prosthogominus indicus dài 4,48- 8 mm, rộng 2,8 mm. Giác bụng
lớn hơn 2 lần giác miệng, túi sinh dục không kéo dài tới giác bụng. Tuyến
noãn hoàng bắt đầu từ mức ngang phía trên giác bụng kéo dài tới phía sau
tinh hoàn, gồm 7- 9 cụm. Tử cung xếp kín phía sau tinh hoàn. Kích thước
trứng 0,019- 0,021 mm * 0,11- 0,015 mm.
-Vòng đời :
Prosthogominus cuneatus ký sinh trong ống dẫn trứng hoặc từ
Fabricius thường xuyên đẻ trứng. Trứng sán theo phân ra môi trường bên
ngoài. Gặp nước và môi trường thích hợp, trong trứng hình thành
miracidium. Dưới tác dụng của ánh sáng, miracidium thoát khỏi vỏ trứng
và bơi trong nước nhờ lông nhỏ phủ quanh thân. Nếu gặp ký chủ trung
gian thích hợp, miracidium xâm nhập vào gan và biến thành sporocyst
trong cơ thể ký chủ trung gian. Ở nhiệt độ 25- 27 độ C, sau 15 ngày
cercaria được hình thành và chui khổi ký chủ trung gian, bơi tự do trong
nước.Thời gian hoạt động của ceracia thường không quá 1 ngày đêm.
Trong thời gian nầy cần được ký chủ bổ sung nuốt và là các dạng ấu trùng
chuồn chuồn. Khi vào ruột, ceraria mất đuôi, tiếp tục xâm nhập vào cơ
bụng, cơ ngực, đầu và ở đó hình thành metaceracia. Khi ấu trùng chuồn
không có dịch rỉ viêm.
- Chẩn đoán :
Với sục vật còn sống, tiến hành xét nghiệm phân để tìm trứng.
Với súc vật chết, dùng phương pháp mổ khám để tìm sán.
- Điều trị :
Với gà dùng CCl4, liều 2- 5ml/gà, cho uống qua ống cao su hoặc
tiêm thẳng vào diều. Ngoài ra còn dùng C6Cl5 liều 0,5g/l trộn với thức ăn
1 lần/ ngày và 3 ngày liền.
- Phòng bệnh :
Không chăn thả gia cầm và làm chuồng nuôi ở gần ao hồ. Nên thả
gia cầm sau khi mặt trời mọc để giảm nguy cơ tiếp xúc với mầm bệnh.
Đối với những gia cầm mang sán và bị bệnh cần phải định kỳ điều trị.
Sán lá ruột gia cầm do Echinostoma:
- Hình thái căn bệnh :
Echinostoma revolutum thân dài 9- 13 mm, rộng 0,88-2 mm, phần
trước thân có vẩy citicun. Đầu sán hình vành khăn, đường kính 0,44-
0,825 mm, vành khăn có 35- 37 móc nhỏ. Giác miệng khá lớn, kích thước
0,138- 0,341 mm* 0,198- 0,358 mm. Giác bụng có dạng tròn, kích thước
0,68- 1,32 mm* 0,71- 1,84 mm, có xoang hình cầu ở giữa. Hai manh tràng
không phân nhánh, xếp dọc 2 bên thân sán kéo dài tới cuối thân. Tinh
hoàn hình khối tròn hoặc hình trứng xếp trên dưới ở nửa sau thân. Túi sinh
dục hình ống ở giữa giác bụng và nơi ruột phân nhánh. Buồng trứng hình
khối tròn nằm sau giác bụng. Tuyến noãn hoàng phân bố dọc 2 bên thân.
Tử cung khá dài, chứa nhiều trứng. Trứng hình bầu dục, màu vàng, 1 đầu
trứng có nắp.
- Vòng đời :
Sán trưởng thành ký sinh ở ruột ký chủ, thường xuyên thải trứng
theo trướng ra ngoài. Gặp điều kiện thích hợp, sau 12- 17 ngày,
miracidium hình thành trong trứng, thoát vỏ ra ngoài và bơi tự do trong
nước (vài giờ). Nếu gặp ký chủ trung gian thích hợp, miracidium chui vào
chủ bổ sung ở khu vực chăn tha gia cầm. Nuôi riêng gia cầm non với gia
cầm trưởng thành. Ở những nơi có nhiều mầm bệnh, gia cầm non phải
được nuôi đến 2- 3 tháng tuổi trên những sân khô ráo. Không để trại chăn
nuôi gia cầm gần ao hồ. Cho gia cầm ăn no, đủ chất.
Sán dây loài gia cầm do Raillietina:
- Hình thái :
+ R.echinobothrida : Hình dải băng, dài 25 cm, rộng 1,4 mm, 4 giác
bám hình tròn, trên giác bám có 8- 10 hàng móc nhỏ. Đỉnh đầu có 200
móc xếp 2 hàng, lỗ sinh dục ở bên đốt sán. Có 20- 30 tinh hoàn ở giữa đốt
sán. Túi dương vật tương đối to, dài 00,13- 0,18 mm. Buồng trứng ở giữa
đốt, tuyến noãn hoàng ở sau buồng trứng, mỗi túi 6- 12 trứng.
R.tetragona : Đầu tròn, đỉnh đầu có 90- 130 móc xếp thành 2 hàng.
Có 4 giác bám hình bầu dục, trên giác có 8- 12 hàng móc. Lỗ sinh dục đổ
ra 1 bên của đốt sán. Ở đốt trưởng thành có 18- 32 tinh hoàn ở giữa đốt
sán. Túi đựng dương vật dài 0,075- 0,1 mm, hình lê. Tử cung gồm nhiều
túi trứng, mỗi túi có 6- 12 trứng, phôi 6 móc nằm trong trứng sán.
+ R.cesticillus : Đỉnh đầu có hình khối bán cầu, có nhiều móc ( 100-
500 móc) xếp 2 hàng. Trên giac sbams không có móc. CÓ 15- 30 tinh
hoàn. Lỗ sinh dục thông ra bên phải có khi bên trái đốt sán. Tử cung có
nhiều túi trứng, đường kính của thai 6 móc 0,03- 0,0325 mm, đường kính
trứng 0,05- 0,09 mm.
+ Davainea proglostian : Sán chỉ có 4- 9 đốt, dài 0,5- 3mm, rộng
0,18- 0,6 mm. Đầu nhỏ, trên mõm có 60- 90 móc. Trên giác bám cũng có
móc. Lỗ sinh dục ở nửa trước đốt sán. Túi dương vật tương đối dài, bằng
2/3 chiều ngang đốt sán. Có 12- 15 tinh hoàn, xếp 2 hàng ở nửa sau đốt
sán. Trứng sán rải rác trong đốt, đường kính trứng 0,035- 0,04 mm.
- Vòng đời :
R.echinobothrida,R.tetragona cần kiến làm ký chủ trung gian. Đốt
sán rụng cùng phân ra ngoài, trứng sán phân tán, kiến ăn phải, vỏ trứng bị
phân hủy ở ruột kiến, thai 6 móc chui vào cơ thể kiến tiếp tục phát triển
% nhưng sau khi uống thuốc 3- 7 ngày sản lương trứng giảm.
Có thể dùng hỗn hợp 3 loại thuốc Hexachlorophen 50mg,
Phenothiazin 60 mg, Nicotin 50 mg cho 1 kg trọng lượng. Ngoài ra còn
dùng Dichlorophen.
Devermin 250 mg/kg cho qua miệng, hoặc Mebenvet 500mg trộn
với 1 kg thức ăn, cho ăn 3 ngày liền.
- Phòng bệnh :
Cách ly gà con với gà trưởng thành. Nuôi gà con ở chuồng trại, sân
chơi sạch sẽ.
Giữ vệ sinh chuồng trại, tập trung phân để ủ, diệt ký chủ trung gian,
định kỳ sát trùng, làm vệ sinh chuồng trại.
Định kỳ tẩy sán cho gà.
Giun đũa lợn do Ascaris Suum:
Bệnh do Ascaris Suum ký sinh ở ruột non lợn. Giun màu trắng sữa,
hình ống, hai đầu thót nhọn. Giun đực dài 10,5- 20 cm có 2 gai giao cấu
bằng nhau dài 1,2- 2 mm. Giun cái dài 23- 30 cm. Lỗ sinh dục cái ở 1/3
phía trước cơ thể. Đầu giun có 3 môi bao quanh miệng gồm 1 môi lưng và
2 môi bên. Trứng có kích thước 0,050- 0,075 mm*0,040- 0,050 mm, vỏ
dày gồm 4 lớp. Lớp vỏ ngoài màu vàng sẫm, xù xì gợn song; 2 lớp giữa là
những màng bản thấm; lớp trong cùng là Lipoid và hợp chất hữu cơ.
- Vòng đời:
Giun đũa lợn phát triển trực tiếp không cần vật chủ trung gian. Giun
trưởng thành ở ruột non lợn, thụ tinh, đẻ trứng ( khoảng 200000 trứng/
ngày đêm. Cả đời 1 gin cái có thể đẻ 27.000.000 trứng. Trứng theo phân
ra ngoài. Nếu gặp độ ẩm thích hợp chỉ sau 2- 3 tuần phát triển thành ấu
trùng gây nhiễm. Khi lợn nuốt phải, ấu trùng thoát vỏ trứng, xuyên qua
thành ruột theo hệ tuần hoàn vào gan. Sau 4- 5 ngày ấu trùng tới phổi, tiến
hành lột xác và từ phế nang vào khí quản, cùng với niêm dịch, ấu trùng
lên hầu và lại được nuốt vào đường tiêu hóa, khi đến ruột non, ấu trùng lột
xác lần cuối để thành giun trưởng thành, sau 1- 1/2 đến 2- 1/2tháng. Ngoài
- Hình thái căn bệnh :
Sán dài 25-75mm, rộng 3-12mm, hình lá, hai mép bên gần như song
song nhau.
Không có vai phần cuối than hơi tù. Giác miệng ở phía trước than,
đường kính 1,092-1,55mm. Lỗ miệng ở đáy giác miệng vafthoong với hầu
vào thực quản. Ruột gồm hai manh tràng phân nhiều nhánh nhỏ. Giác
bụng tròn đường kính 1,491-1,785mm.
Hệ bài tiết gồm nhiều ống nhỏ, phan nhánh va thong với hai ống
chính. Hai ống này hợp lại ở cuối than rôi thong ra ngoài qua lỗ bài tiết.
Hệ sinh dịc lưỡng tính: 2 tinh hoàn phân nhánh mạnh, mỗi tinh hoàn thông
với một ống dẫn tinh riêng. Những ống này hợp thành ống chung, đổ vào
túi sinh dục. Buồng trứng phân nhánh ở phía trước tinh hoàn. Tử cung uốn
khúc thành hình hoa ở phía ống dẫn noãn hoàng và giác bụng. tuyến noãn
hoàng xếp dọc hai bên than, và phân nhánh gần như khung của sán
Fasciola gigantica có khả năng tự thụ tinh va thụ tinh chéo.
Trứng hình bầu dục phình rộng ở giữa, thon dần về phía hai đầu.
Đầu hơi nhỏ hơn có nắp trứng. Vỏ trứng mỏng gồm 4 lớp. Lớp ngoài
phẳng
Phần đầu hình nón dài 3-4mm chứa cả hai giác bám. Giác bụng
lớn hơn giác miệng. phía trước than phình to vathon nhỏ dần về cuối
thân sán nên tạo thành vai. Bao bọc bên ngoài sán là lớp cơ. Lớp này
gồm 2 phần: phần ngoài là thể hợp bào không có nhân; màng ngoài của
màng này là nguyên sinh chất đông đặc lại. Dưới màng này là tế bào
chất chứa không bào, những hạt nhỏ vat y lạp thể
Phần bên trong là những tế bào hình lê, có nhánh tế bào chất liên
hệ với phần ngoài qua màng đáy. Dưới màng đáy là lopws gian bào, có
những lớp cơ vòng, cơ dọc nằm tròng lớp này.
- Vòng đời
Fascioln trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của trâu, bò,
dê, cừu, va một số súc vật khác. Sauk hi thụ tinh mỗi sán đẻ hang chục