ĐỀ CƯƠNG MÔN KÝ SINH TRÙNG 3 - Pdf 63

Câu 24: Đặc điểm hình thái chung, cấu tạo của ngành tiết túc
( Arthropoda)
- Cơ thể của động vật tiết túc ký sinh thường đối xứng hai bên,
phân đốt dị hình ( các đốt có xu hướng tập trung thành những nhóm
đốt khác nhau).
Sự phân đốt dẫn đến cơ thể chia thành 3 phần: đầu, ngực,
bụng.
+ Đầu gồm các đốt, trên cùng chứa bộ não, các giác quan và
các phần phụ miệng.
+ Ngực do 3 đốt giữa dính lại gồm: đốt ngực trước, đốt ngực
giữa, đốt ngực sau.
+ Bụng do các đốt còn lại tạo nên( như ở côn trùng). Ở ve, bét
các đốt bụng dính lại thành một khối.
Động vật tiết túc thường có chân, cánh ( là những phần phụ
gắn vào cơ thể) luôn khớp với cơ thể. Chân gồm nhiều đốt, cũng
khớp động với nhau và hoạt động dễ dàng.
+ Vỏ kitin bọc ngoài cơ thể, do các tế bào hạ bì tiết ra.
Vỏ được phát triển mạnh, là bộ xương ngoài chống các tác
động của ngoại cảnh. Vỏ kitin là điểm tựa cho hệ cơ và cơ quan
chuyển vận, hoạt động linh hoạt. Do vỏ kitin cản trở sự tăng trưởng
của cơ thể nên khi lớn lên, động vật tiết túc phải lột xác. Hiện tượng
lột xác có tính chu kỳ, nhưng cũng có khi không đi đôi với sự lớn
lên.
- Hệ thần kinh: gồm hạch não, vòng thần kinh hầu và chuỗi
thaanfkinh bụng. Hạch não đã tập trung thành khối, có cấu tạo cao
và phức tạp như bộ não; cũng gồm: não trước, não giữa và não sau (
như ở côn trùng).
- Cơ quan vận động: có chân phân đốt khớp động với cơ thể.
Chân của tiết túc vận động linh hoạt và linh động.
- Hệ tiêu hóa phát triển. Ống tiêu hóa phân hóa thành nhiều
phần, có tuyến nước bọt và gan tụy để tiết dịch tiêu hóa.

sau và một đôi xúc biện. Đáy đầu giả có 2 hố hình tròn hoặc bầu
dục ở mặt lưng với nhiều lỗ nhỏ là cơ quan cảm giác. Mặt lưng của
thân ve có mai lưng phủ kín lưng ( ve đực) hoặc chỉ phủ một phần
phía trước ( ấu trùng, thiếu trùng, ve cái). Trên mai lưng thường có
mắt, rãnh cổ, rãnh cạnh, rãnh gữa sau và mấu đuôi.
- Vòng đời: Ve cứng phát triển qua 3 giai đoạn: ấu trùng, thiếu
trùng, và trưởng thành. Ấu trùng có 3 đôi chân, thiếu trùng có 4 đôi
chân, đều chưa có lỗ sinh dục. Dạng trưởng thành có 4 đôi chân.
Các giai đoạn phát triển , ve cứng đều bám vào ký chủ, hút máu no
rồi mới biến thái sang giai đoạn khác hoặc đẻ trứng.
Ve đực và ve cái ký sinh chủ và giao cấu, sau khi hút máu no,
rơi xuống đất. Ve cái đẻ trứng thành ổ trên mặt đất và có màng nhầy
bảo vệ. Trứng ve nhỏ, hình cầu, màu vàng nâu hoặc nâu sậm. Sau
một thời gian, trứng nở ra ấu trùng. Ấu trùng bò lên sân cỏ, ẩn dưới
lá cây, nhất là những lá có nhiều lông ( mua, sim, cỏ tranh), khi ký
chủ đi qua, nhanh chóng bám vào và hút no máu rồi biến thái ngay
trên ký chủ đó hay rơi xuống đất thành biến trùng. Thiếu trùng lại
hút máu no và biến thành ve trưởng thành, rồi tiếp tục chu kỳ trên.
+ Ve 1 ký chủ: Tất cả các giai đoạn phát triển đều hút máu và
biến thái ngay trên cùng một ký chủ.
+ Ve 2 ký chủ: Ấu trùng hút máu no và biến thành thiếu trùng
trên cùng một ký chủ. Sau khi hút máu no, thiếu trùng rơi xuống đất
biến thái thành ve trưởng thành. Ve này lại bò lên loài ký chủ khác.
+ Ve 3 ký chủ: Mỗi giai đoạn phát triển ( ấu trùng, thiếu trùng,
trưởng thành) sau khi hút máu no đều rơi xuống đất, biến thái, rồi
lại bám vào ký chủ mới.
- Tác hại: Ve cứng vừa ký sinh gây hại cho động vật nuôi và
các động vật khác, lại là những vật môi giới, vật trung gian và là ổ
chứa và nhân lên các mầm bệnh của các ổ dịch thiên nhiên, rồi
truyền cho súc vật nuôi và người.

- Hình thái: Con đực dài 0,200- 0,350 mm, con cái dài 0,350-
0,500 mm tùy theo phân loài. Màu xám bóng hoặc màu nâu nhạt.
Thân hình bầu dục hay tròn. Mặt lưng có nhiều đường vân song
song, khoảng cách giữa các vân có nhiều tơ, gai và vẩy tam giác với
mũi nhọn hướng về sau. Không có mắt. Lỗ âm môm của con cái ở
sau chân. Lỗ sinh dục của con đực ở giữa đôi chân. Lỗ hậu môn ở
phía sau mặt lưng. Chân có 4 đôi. Mỗi chân gồm 5 đốt.Chân có
nhiều tơ rất dài.
Đầu giả ngắn, bầu dục.
- Vòng đời: Cái ghẻ ngầm S.saebiei xâm nhập lớp biểu bì, đào
rãnh lấy dịch làm bao và dịch tế bào làm mất chất dinh dưỡng. Đực
và cái giao cấu ở rãnh. Con cái đẻ 40- 50 trứng trong vòng 3-7 ngày
rồi nở thành ấu trùng.Sau ít lâu, ấu trùng biến thái thành thiếu trùng
có 4 đôi chân, 2 đôi chân trước có giác bàn chân, 2 đôi chân sau có
tơ như trưởng thành nhưng chưa có lỗ sinh dục. Sau ít lâu, thiếu
trùng phát triển thành ghẻ trưởng thành. Sau lúc thụ tinh, con đực
chết, con cái đào rãnh trong biểu bì để đẻ trứng. Ấu trùng sau lúc nở
đào thủng mái của rãnh thành 1 lỗ thoát ra ngoài. Trong điều kiện
thích hợp, vòng đời cần 15- 20 ngày.
- Triệu chứng:
Rụng lông do cọ xát và do viêm bao lông. Lông rụng thành
những bãi tròn, lúc đầu chỉ 2- 3 mm, càng ngày càng lan rộng ra
xung quanh, do ghẻ cái sinh sản nhanh.Chúng không tập trung 1 nơi
mà di cư khắp cơ thể. Cho nên những chỗ rụng lông lan rộng và
tăng thêm. Rụng lông do ghẻ ngầm thì rụng toàn bộ, đều, lan ra
chậm.
Đóng vẩy: Những chỗ ngứa có mụn nước to bằng đầu đanh
ghim. Mụn này phát triển xung quanh 1 con ghẻ cái do nước bọt của
ghẻ cái kích thích. Do gãi, cọ xát, mụn bật ra và mất đi để lại những
vết thương rồi tương dịch chảy ra, cùng với máu và những mảnh

dạng này xuất hiện trước dạng vẩy. Phát triển những mụn nhỏ,
đường kính vài mm hoặc có thể là những nốt áp xe, đôi khi gặp cả
những ổ hoại tử. Ở chó gặp cả 2 dạng đó, nổi mụn ở bụng, hai bên
chân, trên mặt, khuỷu chân, trên chân. Ở lợn, thường phát triển nốt
áp xe rộng.
- Chẩn đoán: Soi kính hiển vi tìm mò.
- Điều trị:
Cạo lông xung quanh vùng bị bệnh, bôi lên da dung dịch
Trypaxin 1 % với liều 0,5 ml/ 1kg thể trọng, bôi 2 lần cách nhau 3-
5 ngày.
Dùng Ditrifon 1- 2 % để tắm, ngâm, sát vào nơi ghẻ.
Tiêm Ivermectin 0,2- 0,4 mg/ kg thể trọng. Tiêm dưới da.
Tiêm 0,5- 1 ml/kg thể trọng thuốc Trypanxin 1 % vào dưới da,
tiêm 2- 3 lần, mỗi lần cách nhau 6 ngày, đồng thời tiêm Penicillin
( khi đã mưng mủ).
Câu 29: Ruồi trâu và mòng ( hình thái sinh học, tác hại,
phòng trừ).
- Sinh học:
Ruồi trâu thỉnh thoảng đẻ trứng trên phân bò, trâu, ngưa,
nhưng thích nhất là đẻ trên các đống rác mục nát, hôi thối, ẩm ướt.
Mỗi lần ruồi đẻ 25- 50 trứng, cả đợt khoảng 800 trứng. Trứng nở
sau 1- 4 ngày, mùa lạnh có thể dài hơn. Ấu trùng ăn thực vật, nếu
thời tiết nóng, chúng thành thục sau 14- 24 ngày.
Giai đoạn thiếu trùng khoảng 6- 9 ngày, mùa lạnh thì lâu hơn.
Ruồi sau khi ra khỏi kén nhộng ( thiếu trùng) 9 ngày và sau hút máu
thì bắt đầu đẻ trứng. Toàn bộ vòng đời khoảng 30 ngày. Thường 8
ngày sau kho nở thì ruồi đực giao hợp với ruồi cái. Tuổi thọ của ruồi
trâu từ 20- 72 ngày.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status