Đền cương môn ký sinh trùng phần 2 - Pdf 63

Câu 18, Vòng đời phát triển chung của lớp sán lá, lớp sán dây, và lớp
giun tròn
• Vòng đời phát triển chung của sán lá:
Vòng đời phát triển chung của sán lá bắt buộc phải qua vật chủ
trung gian là ốc nước ngọt, dạng trưởng thành kí sinh ở kí chủ
cuối cùn, dạng ấu trùng ký sinh trong vật chủ trung gian, các giai
đoạn phôi diễn ra ở môi trường ngoài.
Vòng đời:
Dạng trưởng thành ký sinh ở vật chủ cuối cùng, hàng ngày nó đẻ
trứng và thải trứng ra môi trường qua phân. ở môi trường bên
ngoài trứng nở thành ấu trùng lông ( mao ấu) sống trong nước và
xâm nhập vào vật chủ trung gian là ốc nước ngọt. Trong VCTG là
ốc nước ngọt nó di chuyển tới gan, tụy và thực hiện sinh sản vô
tính phát triển thành:
• bào ấu ( Sporocyst) : hình túi như bao gạo, chứa nhiều tế bào, -
• lôi ấu (Redia): hình túi, có miệng và hầu
• vĩ ấu( Cercaria): có 2 giác bám, có 2 nhánh ruột, có đuôi dài chui
ra khỏi ốc và xâm nhập vào VCCC( vật chủ cuối cùng) theo 3 con
đường:
+ vĩ ấu xâm nhập trực tiếp qua da vào VCCC. Ví dụ: sán lá vịt,..
+ vĩ ấu chui ra khỏi ốc, tiết chất nhầy bao bọc lại gọi là nang ấu
( Adolescaria) , chất nhầy có chức năng bảo vệ giúp nang ấu có
thể sống ngoài môi trường tự nhiên khoảng 8 tháng. Nang ấu bám
vào cây cỏ dưới nước khi VCCC ăn phải sẽ mắc bệnh
Ví dụ: sán lá gan trâu, bò, sán lá dạ cỏ, sán lá ruột lợn,…
+ vi ấu chui ra khỏi ốc nước ngọt chưa có khả năng gây bệnh nó
chui vào trong VC bổ sung phát triển thành ấu trùn
(Metacercaria). Khi VCCC ăn VCBS sẽ mắc bệnh.
Ở đây, VCBS có nhiều dạng: ốc nước ngọt ( vd: sán lá gia cầm);
chuồn chuồn ( vd: sán lá sinh sản gia cầm); tôm cua (vd: sán lá
phổi); cá nước ngọt ( sán lá gan nhỏ),

trùng A3 là ấu trùng gây nhiễm khi VCCC ăn phải trứng có ấu
trùng A3.
• Vòng đời kiểu giun xoăn: thường gặp trong giun xoăn dạ dày loài
nhai lại, giun phổi, giun kết hạt.
Dạng trưởng thành ký sinh ở VCCC, hàng ngày con cái thải trứng
có phôi ra môi trường và phát triển thành ấu trùng A1-> ấu trùng
A2 --> ấu trùng A3( là ấu trùng gây nhiễm). khi VCCC ăn phải ấu
trùng A3 thì nhiễm bệnh.
Ta thấy rằng :
-vòng đời kiểu giun đũa, giun tóc do ấu trùng nằm bên trong vỏ trứng nên
có sức đề kháng cao với ngoại cảnh, nhưng không thể di chuyển tự do
được
-vòng đời kiểu giun xoăn: ấu trùng gây nhiễm ở bên ngoài nhưng không
có vỏ trứng, dễ bị tiêu diệt bởi điều kiện ngoại cảnh nhưng ấu trùng có
thể di chuyển được.
Câu 19: Hình thái, vòng đời, triệu chứng, bệnh tích, phương pháp chẩn
đoán , biện pháp phòng trừ các bệnh giun sán sau:
Sán lá ruột lợn do Fasciolopsis buski:
- Hình thái căn bệnh:
Fasciolopsis buski có hình lá, màu đỏ hồng, phình rộng phía sau,
thon nhỏ dần về phía đầu. Sán dài 20-70 mm, rộng 8- 20 mm, dày 0,5- 3
mm.
Thân có phủ những gai nhỏ, có 2 giác bám gần nhau ở trước cơ thể.
Giác bụng lớn hơn giác miệng. Thực quản ngắn, hầu nhỏ. Manh tràng
phân thành 2 nhánh ngoằn ngoèo ở hai bên và kéo dài tới cuối thân. Hai
tinh hoàn phân nhánh nhiều, xếp trên dưới nhau ở phần sau thân
sán.Buồng trứng phân nhánh ở phải trước tinh hoàn và hơi lệch về phía
bên trái. Túi sinh dục hình ống thong với bên ngoài qua lỗ sinh dục phía
trước giác bụng. Tuyến noãn hoàng phân nhánh hình cành cây ở 2 bên
thân sán.

Tẩy trừ sán trong cơ thể súc vật.
Diệt trừ căn bệnh trong môi trường bên ngoài.
Hai khâu trên phải gắn chặt và hỗ trợ cho nhau.
Thời gian tẩy tốt nhất là trước lúc sán trưởng thành, chưa kịp đẻ
trứng. Thuốc tẩy được dùng phổ biến là Dipterex, nên tẩy 3 lần/ năm vào
những tháng 9, 12, 3. Ngoài ra có thể dung Tetraclorun cacbon với liều
0,15- 0,2 ml/kg thể trọng.
Xử lý phân để diệt trứng: hàng ngày phải dọn phân và ủ.
Diệt trừ ký chủ trung gian.
Dùng vôi bột ( Cao), sunfat đồng… một số loại phân hóa học sunfat
amon, sunfat kali.
Nuôi những con vật ăn ốc hoặc luân phiên trồng cây thức ăn.
Cho súc vật ăn no, đủ chất: cách tốt nhất là thức ăn phải nấu chin
hoặc xử lý đảm bảo không còn adolesearia.
Sán lá sinh sản gia cầm do Prosthogominus:
- Hình thái căn bệnh:
Prosthogominus cuneatus có hình quả lê, thon ở phía trước, phình
rộng phía sau, có gai nhỏ phủ trên bề mặt thân, dài 4,9- 6,5 mm, rộng 2,9-
4,5 mm, đường kính giác miệng 0,329- 0,615 mm, đường kính giác bụng
0,736- 0,943 mm. Hầu nhỏ. Thực quản ngắn. Tinh hoàn hình tròn. Xếp
đối xứng 2 bên thân sán. Túi sinh dục ở phía trước giác bụng. Lỗ sinh sản
đực và cái ở ngay bên phải giác miệng. Buồng trứng phân thùy, hình hoa
nằm ngay sau giác bụng ( ở mép cuối). Tuyến noãn hoàng hình chùm,
phân bố ở 2 bên thân sán từ ngay mép trước giác bụng đến ngang mép sau
tinh hoàn. Tử cung cuộn thành những nút sau giác bụng. Phía trước giác
bụng, tử cung chỉ là 1 ống thẳng kép dài đến gần túi sinh dục và thông với
lỗ sinh dục cái.
Trứng nhỏ, vỏ dày, kích thước 0,025- 0,028 mm * 0,014-0,016 mm.
Prosthogominus indicus dài 4,48- 8 mm, rộng 2,8 mm. Giác bụng
lớn hơn 2 lần giác miệng, túi sinh dục không kéo dài tới giác bụng. Tuyến

yếu, hay nấp ở góc tường, vươn dài cổ để ngớp không khí, bụng to, đi
đứng không thăng bằng, vào ổ nằm lâu nhưng không đẻ. Lỗ huyệt đôi khi
lòi ra vỏ mềm, bẹp hoặc chảy ra những dịch thể đặc, quánh có chất vôi.
Thời kỳ này kéo dài khoảng 1 tuần.
Thời kỳ 3 : Nhiệt độ thân thể tăng. Lông bị rối, khát nước, dáng đi
chậm chạp từng bước, ỉa chảy, lỗ huyệt lõm vào. Mép hậu môn đỏ đậm.
Quanh lỗ huyệt và phần cuối của bụng không còn lông. Thời kỳ này kéo
dài 2- 7 ngày, con vật thường bị chết.
- Bệnh tích :
Biểu hiện rõ là viêm ống dẫn trứng, niêm mạc ống dẫn trứng tơi,
xốp, rất dày, có sán màu hồng đỏ, sung huyết toàn phần hoặc 1 phần ống
dẫn trứng phía gần huyệt. Đôi hi ống dẫn trứng bị viêm, chảy máu. Khi
nặng, tổ chức của ống dẫn trứng bị teo hoặc đứt ống dẫn trứng.
Viêm phúc mạc. Bụng to, bên trong chứa dịch nhờn và có mủ, có
khi thấy những ảnh noãn hoàng to nhỏ khác nhau nổi trong dịch này.
Màng bụng, màng treo ruột xung huyết. Đôi khi thấy viêm phúc mạc
không có dịch rỉ viêm.
- Chẩn đoán :
Với sục vật còn sống, tiến hành xét nghiệm phân để tìm trứng.
Với súc vật chết, dùng phương pháp mổ khám để tìm sán.
- Điều trị :
Với gà dùng CCl4, liều 2- 5ml/gà, cho uống qua ống cao su hoặc
tiêm thẳng vào diều. Ngoài ra còn dùng C6Cl5 liều 0,5g/l trộn với thức ăn
1 lần/ ngày và 3 ngày liền.
- Phòng bệnh :
Không chăn thả gia cầm và làm chuồng nuôi ở gần ao hồ. Nên thả
gia cầm sau khi mặt trời mọc để giảm nguy cơ tiếp xúc với mầm bệnh.
Đối với những gia cầm mang sán và bị bệnh cần phải định kỳ điều trị.
Sán lá ruột gia cầm do Echinostoma:
- Hình thái căn bệnh :

Khi con vật nhiễm sán với cường độ cao, biểu hiện : yếu toàn thân,
ỉa chảy kiệt sức nhanh, ngừng sinh trưởng phát triển. Khi suy mòn, con
vật bị chết. Do giác bám và gai citicun trên thân sán kích thích niêm mạc
ruột gây viêm, chảy máu, viêm cata ở từng vùng ruột.
- Chẩn đoán :
Con vật còn sống : Xét nghiệm phân tìm sán.
Con vật chết : Mổ khám tìm sán trưởng thành hoặc dựa trên bệnh
tích : viêm chảy máu và viêm cata ở từng vùng của ruột non và ruột già.
- Điều trị :
Dùng thuốc CCl4 liều 2- 4ml/ con vật bằng cách tiêm qua diều hoặc
cho uống qua ống cao su. Arecolin liều 0,002g/kg thể trọng pha dưới dạng
dung dịch nồng độ 1 : 1000, cho thuốc riêng từng con. Filixan liều 0,3- 0,4
g/ kg thể trọng cho cùng thức ăn.
- Phòng bệnh :
Định kỳ diệt sạch sán trong cơ thể gia súc bằng cách tẩy trừ. Tiêu
diệt trứng sán thoát ra ngoài bằng cách ủ phân. Diệt ký chủ trung gian, ký
chủ bổ sung ở khu vực chăn tha gia cầm. Nuôi riêng gia cầm non với gia
cầm trưởng thành. Ở những nơi có nhiều mầm bệnh, gia cầm non phải
được nuôi đến 2- 3 tháng tuổi trên những sân khô ráo. Không để trại chăn
nuôi gia cầm gần ao hồ. Cho gia cầm ăn no, đủ chất.
Sán dây loài gia cầm do Raillietina:
- Hình thái :
+ R.echinobothrida : Hình dải băng, dài 25 cm, rộng 1,4 mm, 4 giác
bám hình tròn, trên giác bám có 8- 10 hàng móc nhỏ. Đỉnh đầu có 200
móc xếp 2 hàng, lỗ sinh dục ở bên đốt sán. Có 20- 30 tinh hoàn ở giữa đốt
sán. Túi dương vật tương đối to, dài 00,13- 0,18 mm. Buồng trứng ở giữa
đốt, tuyến noãn hoàng ở sau buồng trứng, mỗi túi 6- 12 trứng.
R.tetragona : Đầu tròn, đỉnh đầu có 90- 130 móc xếp thành 2 hàng.
Có 4 giác bám hình bầu dục, trên giác có 8- 12 hàng móc. Lỗ sinh dục đổ
ra 1 bên của đốt sán. Ở đốt trưởng thành có 18- 32 tinh hoàn ở giữa đốt

- Triệu chứng lâm sàng :
Khi gà nhiễm nặng, con vật gầy, rối loạn tiêu hóa, kiết lỵ, có khi táo
bón. Ăn ít, khát nước, mệt mỏi, cánh rũ, hồng cầu, huyết sắc tố giảm,
niêm mạc nhợt màu vàng, đẻ ít hoặc không đẻ.
- Thương tổn cơ thể bệnh học :
Con vật gầy, niêm mạc ruột dày lên, ruột có nhiều dịch nhầy mùi
thối, niêm mạc thiếu máu. Sán trưởng thành bám sâu vào niêm mạc ruột
gây viêm, mạch máu bị phá vỡ và tụ huyết.
- Chẩn đoán :
Khi còn sống dựa vào triệu chứng lâm sàng kết hợp với kiểm tra
phân bằng gạn rửa sa lắng tìm đốt sán. Ngoài ra có thể mổ khám con chết
hoặc con nghi có bệnh để tìm sán.
- Điều trị : Có thể dùng một số loại thuốc sau :
Arecolin : Pha thành nồng độ 0,1 %, liều dùng 0,003g/kg trọng
lượng, cho thuốc vào thực quản bằng ống cao su.
Hexachlorophen, liều 50- 100 mg/kg thể trọng, hiệu quả đạt trên 90
% nhưng sau khi uống thuốc 3- 7 ngày sản lương trứng giảm.
Có thể dùng hỗn hợp 3 loại thuốc Hexachlorophen 50mg,
Phenothiazin 60 mg, Nicotin 50 mg cho 1 kg trọng lượng. Ngoài ra còn
dùng Dichlorophen.
Devermin 250 mg/kg cho qua miệng, hoặc Mebenvet 500mg trộn
với 1 kg thức ăn, cho ăn 3 ngày liền.
- Phòng bệnh :
Cách ly gà con với gà trưởng thành. Nuôi gà con ở chuồng trại, sân
chơi sạch sẽ.
Giữ vệ sinh chuồng trại, tập trung phân để ủ, diệt ký chủ trung gian,
định kỳ sát trùng, làm vệ sinh chuồng trại.
Định kỳ tẩy sán cho gà.
Giun đũa lợn do Ascaris Suum:
Bệnh do Ascaris Suum ký sinh ở ruột non lợn. Giun màu trắng sữa,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status