TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HUYỆN LONG HỒ
4.1. Tình hình huy động vốn
4.1.1 Cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng qua 3 năm
Ngân hàng Nông nghiệp Và Phát triển Nông thôn huyện Long Hồ là một Ngân
hàng chuyên phục vụ, đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển nông nghiệp nông thôn trên
địa bàn của huyện. Trong những năm qua, hoạt động của Ngân hàng tác động tích cực
đến phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Nhưng để đáp ứng nhu cầu về vốn vay
ngày càng cao của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đã
đặt ra một vấn đề hết sức cấp thiết cho Ngân hàng là phải thực hiện tốt công tác huy
động vốn.
Do nằm trong hệ thống nên việc điều tiết cân đối vốn huy động và cho vay được
dễ dàng hơn, nếu Ngân hàng chi nhánh huy động được vốn cao hơn nhu cầu cho vay thì
phần chênh lệch sẽ chuyển về Ngân hàng cấp trên theo quy định, ngược lại nếu Ngân
hàng chi nhánh huy động vốn không đủ đáp ứng nhu cầu cho vay thì Ngân hàng cấp
trên sẽ hỗ trợ vốn cho Ngân hàng chi nhánh, do đó nguồn vốn để Ngân hàng kinh doanh
chủ yếu là vốn huy động và vốn điều chuyển của cấp trên.
Bảng 2: CƠ CẤU NGUỒN VỐN CỦA NHN
O
& PTNT HUYỆN LONG HỒ QUA
3 NĂM
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Chênh lệch
2006/2005 2007/2006
Số tiền Tỷ
trọng
(%)
Số tiền Tỷ
trọng
(%)
Số tiền Tỷ
được chủ động hơn do có đủ vốn trong tay không cần xin số vốn điều chuyển, thu nhập
sẽ cao hơn vì không phải trả chi phí sử dụng vốn cho Ngân hàng cấp trên. Vì vậy,
NHN
O
& PTNT huyện Long Hồ dù được điều chuyển vốn từ Ngân hàng cấp trên nhưng
vẫn không lơi là khâu huy động vốn.
Trong thời gian qua, Ngân hàng đã có nhiều biện pháp tích cực trong huy động để
thu hút vốn nhàn rỗi trong nhân dân bằng nhiều hình thức như: huy động tiền gởi tiết
kiệm, tiền gửi thanh toán, phát hành kỳ phiếu trái phiếu Ngân hàng với nhiều kỳ hạn…
áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt và thường xuyên thông tin khuyến khích các cá
nhân, tổ chức, doanh nghiệp mở tài khoản gửi tiền và thanh toán qua Ngân hàng. Từ đó
đã tập trung và thu hút được nguồn vốn khá lớn để đầu tư cho vay phát triển kinh tế địa
phương.
* Vốn điều chuyển:
Hầu hết các Ngân hàng quốc doanh không riêng gì NHN
O
& PTNT huyện Long
Hồ nếu chỉ sử dụng vốn huy động để cho vay thì sẽ không thể đáp ứng hết được nhu
cầu về vốn của khách hàng. Vì vậy, ngoài vốn huy động tạ chỗ thì Ngân hàng còn phải
phụ thuộc vào nguồn vốn điều chuyển, nguồn vốn này có lãi suất cao hơn so với lãi suất
huy động nên sẽ làm chi phí hoạt động kinh doanh sẽ tăng lên gây ảnh hưởng làm giảm
lợi nhuận. Do đó Ngân hàng luôn phấn đấu làm tăng nguồn vốn huy động để giảm
nguồn vốn này. Năm 2005 vốn điều chuyển là 140.212 triệu đồng chiếm tỷ trọng là
58,90%. Sang năm 2006 nguồn vốn này 159.041 triệu đồng chiếm tỷ trọng 63,88% tăng
18.829 triệu đồng so với năm 2005, tỷ lệ tăng 13,43%. Sang đến năm 2007 vốn điều
chuyển ở mức khá cao là 205.794 triệu đồng chiếm tỷ trọng 60,82% trong tổng nguồn
vốn kinh doanh, so với năm 2006 tăng 46.753 triệu đồng tỷ lệ tăng 29,40%.
4.1.2 Phân tích vốn huy đông của Ngân hàng qua 3 năm
Bảng 3: TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHN
O
nghiệp ngày càng cao, càng trở nên bức thiết thì việc Ngân hàng thực hiện tốt công tác
huy động vốn không những góp vốn mở rộng kinh doanh, tăng cường vốn cho nền kinh
tế mà còn gia tăng lợi nhuận cho Ngân hàng, ổn định nguồn vốn đảm bảo cho quá trình
kinh doanh được thuận lợi lâu dài.
- Tiền gửi kho bạc nhà nước:
Do NHN
O
& PTNT huyện Long Hồ được thành lập đã đã lâu có mối quan hệ tốt
với kho bạc qua nhiều năm, Ngân hàng có mức lãi suất hợp lý nên kho bạc là khách
hàng thường xuyên giao dịch với Ngân hàng, hàng năm Ngân hàng nhận được rất nhiều
tiền gởi từ kho bạc Long Hồ, tiền gởi kho bạc luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn
huy động cụ thể năm 2005 Ngân hàng nhận được từ kho bạc là 27.613 triệu đồng tỷ
trọng là 28,22%. Năm 2006 là 23.037 triệu đồng tỷ trọng là 25,62% giảm 4.576 triệu
đồng tương ứng tỷ lệ giảm 16,57%. Sang năm 2007 tiền kho bạc gởi là 39.919 triệu
đồng chiếm tỷ trọng 30,11% tốc độ tăng từ 73,28% tương ứng số tiền là 16.882 triệu
đồng so với năm 2006. Nguyên nhân tiền gửi từ kho bạc tăng là do năm 2007 người dân
làm ăn có hiệu quả hơn so với năm 2006, nguồn ngân sách kho bạc được đảm bảo nên
tiền gửi Ngân hàng từ kho bạc Nhà nước cũng tăng lên.
- Tiền gửi khách hàng:
+ Bên cạnh nguồn tiền gửi kho bạc thì tiền gửi thanh toán của khách hàng cũng là
nguồn vốn huy động khá lớn của Ngân hàng. Nguồn vốn huy động này giảm qua các
năm. Cụ thể, tiền gửi thanh toán của khách hàng năm 2005 là 31.408 triệu đồng tỷ trọng
chiếm 32,10%. Năm 2006 là 27.376 triệu đồng giảm 4.032 triệu đồng với tốc độ giảm
là 12,84%. Sang năm 2007 tiếp tục giảm còn 11.303 triệu đồng và tỷ trọng cũng giảm
còn 8,53%, so với năm 2006 giảm là 58,71%.
+ Qua đây ta thấy được tiền gửi của khách hàng ngày càng giảm, nguyên nhân có
thể do những năm gần đây giá cả mặt hàng tăng cao làm cho khách hàng cần nhiều vốn
tiền mặt hơn nên họ rút tiền ra làm cho tiền gửi của khách hàng ngày càng giảm. Đây là
dạng đầu tư không nhằm mục đích sinh lời mà để thanh toán, chi trả trong kinh doanh.
- Tiền gửi các tổ chức tín dụng:
giấy tờ có giá như kỳ phiếu, trái phiếu, đây cũng là công cụ huy động vốn khá hiệu quả.
Do Ngân hàng phát hành kỳ phiếu, trái phiếu với nhiều kỳ hạn khác nhau, lãi suất phù
hợp nên lượng tiền gửi tiết kiệm qua các năm tương đối lớn, cụ thể năm 2005 huy động
được 9.942 triệu đồng. Sang năm 2006 thì tăng lên 13.779 triệu đồng tăng 3.837 triệu
đồng tỷ lệ tăng 38,59%. Năm 2007 vốn huy động là 11.314 triệu đồng giảm 2.465 triệu
đồng tương ứng tỷ lệ giảm 17,89%.
Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu cũng là một hình thức huy động vốn khá hiệu quả
và cũng là một hình thức quảng cáo góp phần nâng cao uy tín của Ngân hàng, cần tiếp
tục thực hiện tốt công tác huy động này.