TÌNH HÌNH THỰC HIỆN SẢN LƯỢNG CỦA CẢNG CẦN THƠ NĂM
2005-2007
4.1. Đánh giá chung tình hình thực hiện sản lượng của Cảng Cần Thơ năm
2005-2007
4.1.1. Đánh giá chung kết quả sản xuất kinh doanh về sản lượng của Cảng
Cần Thơ năm 2005 - 2007
Bảng 4: BẢNG BÁO CÁO TÌNH HÌNH THỰC HIỆN SẢN LƯỢNG CỦA
CẢNG CẦN THƠ NĂM 2005 -2007
S
T
T
Chỉ tiêu
Đơn
vị
Thực hiện
năm 2005
Thực hiện
năm 2006
Thực hiện
năm 2007
1
Sản lượng thông
qua
Tấn 879.386 875.531 1.305.952
2 Sản lượng xếp dỡ Tấn
1.082.532
1.075.118 1.606.548
3
Sản lượng chuyển
Sản lượng
chuyển thẳng
12.102 1,57 369.446 47,3
4
Sản lượng lưu
kho bãi
4.347 3,04 89.399 60,64
4.1.2. Đánh giá chung về từng chỉ tiêu.
Sản lượng thông qua
Sản lượng hàng hóa thông qua năm 2007: thực hiện 1.305.952 tấn đạt 131% kế
hoạch năm 2007, so với năm 2006 đạt 149,16%, tăng 49,16% số tuyệt đối là tăng
430.421 tấn. Nguyên nhân sản lượng hàng hoá thông qua năm 2007 tăng khá cao so
với năm 2006 nguyên nhân là do sản lượng gạo xuất ngoại tuy có giảm nhưng bù lại
năm 2007 sản lượng cát xuất khẩu và gỗ tràm xuất khẩu tăng mạnh, mặt khác tuy sản
lượng lương thực xuất ngoại giảm nhưng sản lượng lượng lương thực xuất nội tăng
đáng kể so với năm 2006 do áp dụng chính sách của nhà nước để đảm bảo an toàn
lương thực trong cả nước. Mặt khác các hàng hoá nhập nội xề sắt thép, than đá và
clinker cũng tăng mạnh do năm 2007 là năm có nhiều dự án, công trình sẽ và đang
khởi công xây dựng, nhu cầu về xây dựng để đáp ứng cơ sở hạ tầng, cơ sở hợp tác
đầu tư trong thời kỳ hội nhập như hiện nay.
Sản lượng hàng hoá năm 2006 so với năm 2005 đạt 99,56% giảm 0,44%, số tuyệt
đối là giảm 3.855 tấn. Nguyên nhân là do thời tiết lũ lụt, dịch bệnh trên lúa nên sản
lượng gạo sản xuất ra bị giảm dẫn đến sản lượng gạo xuất ngoại và xuất nội giảm,
ngoài ra mặt hàng thức ăn gia súc cũng giảm. Năm 2006 hàng hoá nhập ngoại clinker
giảm mạnh đây là một trong những nguyên nhân là cho lượng hàng hoá trong năm
2006 giảm so với năm 2005.
2
2
Tuy nhiên, nhu cầu vận chuyển hàng hoá của đồng bằng sông Cửu Long ngày
thông qua các cảng ở đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên hầu hết các cảng đều
3
3
không hoạt động hết công suất do luồng vào không đảm bảo cho tàu có trọng tải lớn
ra vào. Các cảng ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ có thể đáp ứng được khoảng 30%
tổng sản lượng hàng hoá có nhu cầu thông qua cảng như vậy là quá thấp trong khi đó
cảng không hoạt động hết công suất. Khoảng 70% lượng hàng hoá xuất khẩu của
đồng bằng sông Cửu Long phải qua các cảng ở thành phố Hồ Chí Minh trước khi ra
ngoài . Điều này không những làm cho tăng thời gian, giá thành, giao thông thành phố
quá tải, mà còn làm giảm chất lượng cũng như giảm tính cạnh tranh của hàng hoá
đồng bằng sông Cửu Long bởi vì chi phí vận chuyển lên thành phố Hồ Chí Minh rồi
mới xuất đi có khi lên đến 200 USD/tấn. Năng lực của cảng Cần Thơ là không nhỏ
nhưng khó hấp dẫn các chủ hàng và chủ tàu bởi sự hạn chế về độ sâu của cửa Định
An. Việc khai thông luồng vào cảng ở đồng bằng sông Cửu Long không những giúp
cho các cảng hoạt động hết công suất tránh lãng phí trong việc đầu tư có sở hạ tầng
cho các cảng, ngoài ra còn giảm áp lực cho Cảng Sài Gòn, giao thông thành phố thông
thoáng hơn và nhất là nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường thế
giới điều này đặc biệt quan trọng nhất là khi nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại
thế giới WTO. Hệ thống giao thông vận tải đường thuỷ nhất là cảng biển hoạt động
tốt cũng góp phần vào việc khẳng định vị trí của Việt Nam trên thị trường thế giới.
Sản lượng xếp dỡ:
Sản lượng xếp dỡ bằng sản lượng thông qua cộng với sản lượng bốc xếp hàng hoá
từ kho bãi lên phương tiện của khách hàng và từ phương tịên của khách hàng xuống
kho bãi của cảng nên sản lượng hàng hoá xếp dỡ phụ thuộc nhiều vào sản lượng hàng
hoá thông qua.
Sản lượng hàng hoá thông qua tăng nên sản lượng hàng hoá xếp dỡ cũng tăng theo
ngược lại sản lượng hàng hoá thông qua giảm sẽ dẫn đến sản lượng hàng hoá xếp dỡ
cũng giảm theo, sản lượng hàng hoá xếp dỡ năm 2006 so với năm 2005 đạt 99,32%
giảm 0.68% số tuyệt đối là giảm 7.414 tấn.
tâm lý trở ngại cho các hãng tàu, thực tế Cảng Cần Thơ hiện nay chỉ tiếp nhận tàu có
mớn nước dưới 7 m. Nhưng đây là một dấu hiệu đáng mừng để Cảng Cần Thơ có thể
phát huy khả năng thực sự của mình khi luồng vào cảng được khai thông.
Sản lượng lưu kho bãi
Sản lượng lưu kho bãi năm 2006 đạt 103,04 % tăng 3,04 %, số tuyệt đối là tăng
4.347 tấn so với năm 2005. Nguyên nhân là do năm 2006 tuy sản lượng nhập kho
5
5
thấp hơn năm 2005 nhưng sản lượng tồn kho cao hơn so với năm 2005 nên sản lượng
hàng hóa tồn kho năm 2006 tăng nhẹ so với năm 2005
Sản lượng lưu kho bãi năm 2007 đạt 160,64 % tăng 60,64 % so với năm 2006, số
tuyệt đối là tăng 89.399 tấn. Nguyên nhân là do trong năm 2007 phòng giao nhận kho
hàng thực hiện việc kiểm đếm giao nhận hàng hoá đầy đủ, chính xác, không có xảy ra
nhầm lẫn, thiếu hụt hay mất mát hàng hoá, luôn luôn cải tiến để sắp xếp điều động
để cán bộ kiểm đếm làm việc có hiệu quả. Mặt khác hàng hóa lưu kho bãi được bảo
quản tốt, việc giao nhận kiểm đếm hàng hoá trong kho và bãi luôn đầy đủ chính xác,
kịp thời, sắp xếp hàng hóa thứ tự ngăn nắp và khoa học đảm bảo tốt công tác giao
nhận và đảm bảo an toàn hàng hoá nên uy tín cũng như thương hiệu của Cảng Cần
Thơ ngày càng được nâng cao hơn, sản lượng hàng hoá lưu kho bãi ngày càng nhiều
hơn. Sản lượng hàng hoá nhập kho năm 2007 tăng mạnh hơn năm 2006 và lượng
hàng hoá tồn kho cũng cao hơn lượng hàng lượng hàng hoá tồn kho năm 2006. Do
vậy lượng hàng hoá lưu kho năm 2007 tăng mạnh so với năm 2006. Điều này cho
thấy kho bãi của Cảng Cần Thơ được quản lý và khai thác tương đối tốt toàn bộ diện
tích.
4.2. Phân tích tình hình thực hiện sản lượng của Cảng Cần Thơ theo chiều
hàng
4.2.1. Ý nghĩa và mục đích
4.2.1.1. Ý nghĩa
Công ty có thể hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu về việc thực hiện sản lượng hay
(tấn)
Tỷ
trọng
(%)
Sản lượng
(tấn)
Tỷ
trọng
(%)
Sản lượng
(tấn)
Tỷ
trọng
(%)
1 Xuất
ngoại
54.712 6,22 52.606 6,00 413.017 31,63
2 Nhập
ngoại
272.627 31,00 285.836 32,65 211.123 16,17
3 Xuất nội 185.374 21,08 155.460 17,76 193.927 14,85
4 Nhập nội 366.673 41,70 381.629 43,59 487.885 37,35
5 Tổng cộng
879.386
100
%
875.531 100% 1.305.952 100%
( Nguồn: Phòng kế hoạch và đầu tư)
7
7
37,35 %).
Tóm lại, qua 3 biểu đồ trên ta nhận thấy có sự chuyển dịch cơ cấu trong tổng sản
lượng hàng hoá thông qua của Cảng Cần Thơ qua các năm. Sự chuyển dịch cơ cấu
qua các năm tỷ trọng hàng hoá xuất ngoại tăng nhanh chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu
tổng sản lượng hàng hoá thông qua Cảng Cần Thơ, đây là một dấu hiệu đáng mừng
chứng tỏ thị trường xuất khẩu ngày càng sôi động hơn, các doanh nghiệp có nhiều cơ
hội để vươn mình ra các nước khác hơn. Đây là một phần để giúp cho Cảng Cần Thơ
có thể đưa ra kế hoạch và chuẩn bị cho tương lai.
Bảng 8: BẨNG ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN SẢN LƯỢNG CủA
CẢNG CẦN THƠ THEO CHIỀU HÀNG.
S
T
T
Chiều hàng
Chênh lệch năm 2006 so
với năm 2005
Chênh lệch năm 2007 so
với năm 2006
Số tuyệt
đối
(tấn)
Số tương
đối
(%)
Số tuyệt
đối
(tấn)
Số tương
đối
29.914 tấn. Nguyên nhân là do lượng lương thực xuất nội năm 2006 giảm mạnh so
với năm 2005.
Sản lượng hàng hoá xuất nội năm 2007 đạt 124,74% tăng 24,74% so với năm
2006 số tuyệt đối là 38.467 tấn. Nguyên nhân, tuy các mặt hàng khác có giảm nhưng
10
10
không đáng kể, nhưng mặt hàng chính là sản lượng gạo năm 2007 tăng đáng kể làm
cho sản lượng hàng hoá xuất nội năm 2007 tăng so với năm 2006
Nhập nội
Sản lượng hàng hoá nhập nội của Cảng Cần Thơ năm 2006 đạt 104,1% tăng 4,1%
số tuyệt đối là 14.956 tấn so với năm 2005. Nguyên nhân là do sản lượng xi măng và
phân bón nhập nội năm 2006 tăng đáng kể so với năm 2005, tuy các mặt hàng khác
đặt biệt là than đá giảm một lượng khá cao, các mặt hàng khác có giảm nhưng không
đáng kể, hàng hoá nhập nội của Cảng Cần Thơ chủ yếu là than đá, xi măng, hàng
container.
Sản lượng hàng hoá nhập nội năm 2007 so với năm 2006 sản lượng nhập nội năm
2007 đạt 127,84% tăng 27,84% số tuyệt đối là 106.256 tấn.
Nhìn chung sản lượng hàng hoá nhập nội tăng qua các năm cả về số tương đối
và số tuyệt đối nguyên nhân là do nền kinh tế của Việt Nam ngày càng phát triển và
để đáp ứng nhu cầu hội nhập thì nhu cầu về sự trao đổi, lưu thông hàng hoá ngày càng
cao.
Sản lượng hàng hoá thông qua Cảng Cần Thơ ngày càng tăng một phần là do sản
lượng hàng hoá của đồng bằng sông Cửu Long có nhu cầu trao đổi ngày càng tăng và
Cảng Cần Thơ đã biết khai thác và phát huy thế mạnh của vùng đồng bằng sông Cửu
Long, không những góp phần làm tăng hiệu quả hoạt động kinh tế của Cảng Cần Thơ
mà còn góp phần tạo đầu ra cho sản phẩm của đồng bằng sông Cửu Long.
Bảng 9: BẢNG ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH KẾ HOẠCH SẢN
LƯỢNG CỦA CẢNG CẦN THƠ THEO CHIỀU HÀNG NĂM 2007
S
đối
(tấn)
Số
tương
đối
(%)
1 Xuất ngoại 59.500 413.017 353.517 594,15 113,10 694,15
2 Nhập ngoại 260.000 211.123 -48.877 -18,80 90,96 81,2
3 Xuất nội 164.000 193.927 29.927 18,25 105,49 118,25
4 Nhập nội 366.500 487.885 121.385 33,12 96,04 133,12
5 Tổng cộng 850.000 1.305.952 455.952 53,64 97,08 153,64
Qua bảng đánh giá tình hình thực hiện sản lượng của Cảng Cần Thơ năm 2007
Sản lượng hàng hoá xuất ngoại của Cảng Cần Thơ không những hoàn thành mà
còn vượt mức kế hoạch đề ra nhiệm vụ kế hoạch năm 2007. Sản lượng hàng hoá xuất
ngoại của Cảng Cần Thơ chỉ cần đạt 113,1 % sản lượng thực hiện của năm 2006
nhưng sản lượng hàng hoá xuất ngoại thực hiện của Cảng Cần Thơ đã đạt 694,15 %
so với kế hoạch đã đề ra vượt 595,15 % so với kế hoạch đã đề ra, số tuyệt đối là tăng
353.517 tấn. Vượt quá cao so với kế hoạch đã đề ra nguyên nhân là do sản lượng tràm
xuất khẩu năm 2007 tăng mạnh nguyên nhân là do sự cố gắng nhiệt tình của Ban
Giám đốc Cảng Cần Thơ đã tìm được nguồn hàng gỗ tràm và đã thuyết phục các
doanh nghiệp Trung Quốc chọn Cảng Cần Thơ làm nơi thu mua cây tràm của đồng
bằng sông Cửu Long vì sản lượng tràm của đồng bằng sông Cửu Long nhiều, thân cây
nhẹ nên dù tàu chở đầy tràm thì mơn nước vẫn thấp, dễ ra vào cửa biển Định An.
Sản lượng hàng hoá nhập ngoại năm 2007 với số tương đối nhiệm vụ kế hoạch đạt
90,96 % so với thực hiện năm 2006 nhưng thực tế năm 2007 sản lượng hàng hoá nhập
ngoại hoàn thành được 81,2 % sản lượng kế hoạch đã đề ra, do vậy năm 2007 Cảng
Cần Thơ không hoàn thành kế hoạch về sản lượng hàng hoá nhập ngoại, sản lượng
không hoàn thành là 18,8 %, số tuyệt đối là giảm 48.877 tấn so với kế hoạch đã đề ra
năm 2007.
Sản lượng hàng hoá xuất nội năm 2007, với số tương đối nhiệm vụ kế hoạch