Khái quát tình hình kinh tế Nhật Bản
1.1 Tình hình kinh tế xã hội Nhật Bản trong thập niên 90
thế kỷ XX trở lại đây:
1.1.1 Sự bất ổn định kinh tế Nhật Bản trong thập niên 90 của thế kỷ XX:
Nhật Bản là một cờng quốc kinh tế đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển thần kỳ vào
trớc thập niên 90 khiến cả thế giới phải khâm phục. Sau giai đoạn phát triển cao độ
(1955-1973), trung bình mỗi năm kinh tế tăng trởng 10%, kinh tế Nhật Bản bớc vào
giai đoạn phát triển trung bình (1974-1991), kinh tế tăng trởng bình quân 4%. Thế
nhng, từ đầu thập niên 90 kinh tế Nhật Bản đã lún sâu vào giai đoạn suy thoái mặc
dù kể từ năm 1999 đến nay đã có dấu hiệu phục hồi nhng còn rất mong manh. Sự
phát triển không ổn định có thể coi là đặc trng của nền kinh tế Nhật Bản trong những
năm 90.
1.1.1.1 Suy thoái và khủng hoảng kinh tế Nhật Bản trong thời kỳ này là suy
thoái, khủng hoảng về cơ cấu kinh tế:
Khởi đầu của suy thoái những năm 90 là sự đổ vỡ của nền kinh tế bong bóng. Tăng
trởng kinh tế (GDP) của Nhật trong những năm này đã liên tục suy giảm. Từ năm
1990 đến năm 1993, động thái tăng trởng kinh tế suy giảm liên tục: 5,5%; 2,9%;
0,4%; Dấu hiệu phục hồi trở lại vào những năm 1994 - 1996 với tốc độ tăng trởng
qua các năm là: 0,6%; 1,4%; 2,9%. Nhng từ năm 1997 đến 1998, Nhật Bản lại lâm
vào khủng hoảng trầm trọng, kinh tế Nhật tăng trởng âm liên tục từ 0,7% đến
0,9%. Khủng hoảng kinh tế Nhật Bản gắn liền với ảnh hởng của cuộc khủng hoảng
tài chính tiền tệ Đông Nam á [23,11]. Năm 1999, nền kinh tế đã có dấu hiệu phục
hồi với tốc độ tăng trởng là 0,5%. Các chỉ số tăng trởng GDP hàng năm trên đây đã
1 1
phản ánh khái quát nhất suy thoái kinh tế Nhật Bản suốt những năm 90 của thế kỷ
XX.
Tuy nhiên, suy thoái dẫn đến khủng hoảng có tính chất cơ cấu của nền kinh tế Nhật
Bản trong những năm 90 khác với cuộc khủng hoảng kinh tế trớc đây. Đó là nền kinh
tế vẫn chìm trong tình trạng suy thoái kéo dài, sự phục hồi của một số ít doanh
nghiệp lớn đợc nhà nớc hỗ trợ vẫn không khắc phục đợc tình trạng này. Sự phát triển
mất cân đối trong cơ cấu kinh tế thể hiện ở việc mở rộng sản xuất chủ yếu trong các
Nớc Nhật vốn là quốc gia mà một vài thập kỷ gần đây có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất
trong số các nớc t bản phát triển (dới 2%). Khi nền kinh tế bong bóng đổ vỡ kéo
theo sự phá sản của một loạt các ngân hàng, công ty chứng khoán, các nhà máy, xí
nghiệp,.. từ đó dẫn đến tình trạng ngời lao động không có việc làm, hoặc còn việc
làm nhng thu nhập bị cắt giảm một phần vì các chủ doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, một
phần do giá cả hàng hoá tiêu dùng đều tăng vọt. Tỷ lệ ngời thất nghiệp theo thống kê
công bố vào đầu thập niên 90 chỉ có 2%, nhng đến nay đã lên tới 4,9% trong tháng 6
và tháng 7 năm 1999 [23,16]. Những năm cuối thế kỷ XX, ngời dân Nhật bắt đầu
hoang mang khi con số thất nghiệp năm 2000 là 3.200.000 ngời, tăng 30.000 ngời,
chiếm tỷ lệ 4,7% trong tổng số ngời lao động và đây là con số cao nhất kể từ năm
1953 đến nay. Tỷ lệ này gần nh cân bằng cho cả nam và nữ (nam 4,9%, nữ 4,7%)
[9,19]. Không chỉ có vậy, tỷ giá hối đoái giữa đồng Yên Nhật và đồng đôla Mỹ lên
xuống thất thờng, giá cổ phiếu trên thị trờng chứng khoán cũng diễn biến rất phức tạp
đã khiến cho các nhà kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ các doanh nghiệp phá sản
ngày càng gia tăng. Tình trạng này càng làm gia tăng số lợng ngời thất nghiệp, và thu
3 3
nhập thực tế của ngời lao động cũng suy giảm do sản xuất kinh doanh đình đốn, giá
cả gia tăng.
1.1.1.4 Nguyên nhân của sự phát triển không ổn định của nền kinh tế Nhật Bản:
Có nhiều cách xác định nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bản những
năm 90, theo tôi có 5 nguyên nhân chính giải thích sự suy thoái này.
Một là, các nguyên nhân nảy sinh từ sự sụp đổ nền kinh tế bong bóng. Nền kinh tế
bong bóng chính là nền kinh tế tăng trởng cực nhanh của Nhật Bản cuối thập niên
80, song đó không phải là tăng trởng thực sự từ sự phát triển các hoạt động sản xuất
của cải vật chất mà chủ yếu tăng trởng giả tạo do đầu cơ vào mua bán bất động sản,
trái phiếu, các hàng hoá nghệ thuật có giá trị lớn. Nhiều cá nhân, doanh nghiệp đã dự
trữ một khối lợng lớn các tài sản dới dạng bất động sản và cổ phiếu các công ty. Do
đó, sản xuất và tiêu dùng bị kích thích mạnh bởi cơn sốt bất động sản và cổ phiếu
chứng khoán. Điều này làm cho kinh tế Nhật Bản tăng trởng rất cao vào những năm
của thập kỷ 80. Để hạn chế tốc độ tăng trởng quá nóng, Chính phủ phải nâng lãi suất
nớc ngoài, tụt hậu khoảng 10 năm so với các ngân hàng Mỹ. Chính Phủ và Ngân
hàng Trung Ương đã không thấy hết sự năng động, thích ứng của các xí nghiệp, phản
ứng của thị trờng nên đã áp dụng các chính sách không phù hợp. Thêm vào đó là
những mối quan hệ mờ ám giữa các quan chức chính phủ với các ngân hàng đã dẫn
đến nhiều vụ tham nhũng nghiêm trọng cha bị phanh phui. Theo đánh giá của Quỹ
tiền tệ quốc tế IMF, nền kinh tế Nhật Bản sẽ còn gặp nhiều khó khăn nếu nh không
giải quyết đợc các vấn đề của khu vực tài chính ngân hàng.
Thứ ba là sự già hoá dân số là gánh nặng của các chính sách đảm bảo phúc lợi.
Nhật Bản hiện nay đang là nớc có chỉ số tuổi thọ dân c cao nhất thế giới. Với dân số
5 5
127,1 triệu ngời (2001), trong đó lực lợng lao động chiếm 67,76 triệu ngời (1998), tỷ
lệ tăng dân số hàng năm rất thấp 0,18% (2000), thì gánh nặng đè lên vai những ngời
trong độ tuổi lao động là rất lớn. Nhng sự già hoá dân số ở Nhật Bản không phải do
cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bản những năm 90 mà là kết quả của sự phát triển
kinh tế Nhật Bản những năm trớc đây. Khi nền kinh tế tăng trởng cao, thì chính sách
đảm bảo phúc lợi cho ngời già đợc gia tăng, đây là một trong những nguyên nhân chủ
yếu khiến cho tuổi thọ của ngời dân Nhật Bản rất cao. Tỷ lệ ngời già trên 65 tuổi
chiếm 15% dân số, dự báo đến năm 2005 số ngời trên 65 tuổi là 19,3%, 2050 con số
này sẽ lên tới 35% [23,24]. Mặt khác, do làm việc quá căng thẳng, chịu nhiều sức ép
nên xu thế hiện nay của những ngời trẻ tuổi là họ không muốn sinh con, hoặc cùng
lắm chỉ sinh 1 con, bình quân 1 phụ nữ Nhật Bản chỉ sinh 1,42 con và thông thờng thì
ngời phụ nữ trong gia đình thờng ở nhà làm công việc nội trợ, không tham gia vào lao
động xã hội. Ngoài ra, còn có những ngời không thích kết hôn mà chỉ sống độc thân
nên tình trạng mất cân đối cơ cấu dân số là tất nhiên. Nhật Bản đang đứng trớc thách
thức số ngời già tăng nhanh nhng số trẻ em ngày càng ít.
ảnh hởng của vấn đề dân số già và tỷ lệ sinh đẻ thấp trên đây đối với nền kinh tế
Nhật Bản đã gây nên tình trạng thiếu sức lao động, nhất là lao động trẻ trong lĩnh vực
khoa học kỹ thuật, từ đó làm giảm năng suất lao động xã hội và tăng trởng kinh tế. Sự
già hoá dân số còn kéo theo một loạt các hậu quả khác nh: làm giảm thu nhập và sức
mua, giảm tỷ lệ tích luỹ trong gia đình do đó làm giảm đầu t vào phát triển kinh tế,
Mỹ và các nớc Tâu Âu nuốt chửng. Đó là trờng hợp Công ty chứng khoán Merrill của
Mỹ đã tuyên bố rằng họ sẽ tuyển 2000 trong số 7500 nhân viên của Công ty chứng
khoán Yamaichi cùng với giành quyền quản lý 50 chi nhánh nớc ngoài của công ty
này ngay sau khi Yamaichi phá sản 1 tháng.
7 7
Ngoài những nguyên nhân trên, còn phải kể đến nguyên nhân gián tiếp làm cho
nền kinh tế Nhật Bản sa sút, đó là ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ
Đông Nam á năm 1997-1998. Hoạt động xuất nhập khẩu và đầu t của Nhật Bản vào
thị trờng này chịu thiệt hại nặng nề vì các nớc Đông Nam á vốn là những đối tác
quan trọng của Nhật. Tính đến nửa đầu năm 1998, xuất khẩu của Nhật sang Châu á
giảm 21,1%. Về lĩnh vực đầu t, hoạt động của các ngân hàng Nhật tại Châu á bị thu
hẹp do không có khả năng duy trì hoạt động và kém cạnh tranh so với các ngân hàng
nớc ngoài khác kéo theo đầu t trực tiếp của Nhật vào khu vực giảm mạnh. Năm 1998,
các công ty Nhật dự định đầu t ra nớc ngoài là 1,2 nghìn tỷ JPY, giảm 56,5% so với
năm trớc, trong đó 20% tổng số tiền đợc đầu t vào Châu á, giảm 3,6% so với năm
1997 [23,41]. Đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đã có tác động
mạnh mẽ tới nền tài chính Nhật Bản. Cuộc khủng hoảng đã làm rối loạn các quan hệ
tài chính tiền tệ giữa các công ty trong nớc với các công ty nớc ngoài làm không ít
các tổ chức tài chính tiền tệ phá sản. Chỉ tính đến đầu năm 1998, các khoản nợ khó
trả lên tới 6700 tỷ JPY, chiếm khảng 15% GDP. Cuộc khủng hoảng còn làm giảm chỉ
số Nikkei và đồng Yên, đồng Yên đã đạt tới mức kỷ lục 147,24 Yên/đôla [23,163].
1.1.2 Triển vọng phục hồi nền kinh tế năm đầu thế kỷ XXI và những nỗ lực cải cách
của Thủ tớng Koizumi:
Với tốc độ tăng trởng kinh tế khả quan năm 2000, nhiều ngời đã hy vọng rằng nền
kinh tế lớn thứ hai thế giới này sẽ nhanh chóng phục hồi. Sau nhiều năm suy thoái,
nền kinh tế lại có mức tăng trởng dơng song tốc độ tăng trởng còn ở con số hết sức
khiêm tốn. Bớc vào năm 2001, sự suy giảm tốc độ tăng trởng kinh tế vẫn còn tiếp
diễn, có thể nhận thấy qua con số thống kê từng quý của năm 2001: Quý I: 0,1%;
Quý II: -0,7%, Quý III: -0,5% [9,11]. Những tháng đầu năm 2002, trong một số lĩnh
vực nhất là xuất khẩu, tình hình có vẻ sáng sủa hơn song vẫn cha ổn định và thiếu
chi nào cho việc giải quyết nợ mà Chính phủ thực hiện bằng biện pháp xoá nợ và mua
lại nợ. Cho đến tháng 3 năm 2003, tập trung giải quyết nợ khó đòi của các ngân hàng
lớn (14 ngân hàng hàng đầu Nhật Bản có thể xoá ít nhất 6,5 nghìn tỷ JPY) [15, 8]. Để
cung cấp tài chính cho các hoạt động của mình do việc xoá nợ, các ngân hàng Nhật
Bản đang tích cực giải quyết bằng việc bán bớt các tài sản ở nớc ngoài. Chính phủ sẽ
xây dựng các quy định pháp lý mới để cố gắng loại bỏ các khoản nợ xấu trong vòng
2-3 năm tới. Ngoài việc mua lại nợ và xoá nợ, các ngân hàng còn tiến hành thanh lý
nợ theo pháp luật hiện hành (cho các xí nghiệp chịu nợ phá sản) hoặc ngân hàng huỷ
bỏ một phần nợ. Trong trờng hợp ngân hàng không có khả năng thanh lý theo 3 cách
này thì cơ quan hồi thu và chỉnh lý nợ sẽ xử lý các khoản nợ đó.
Thứ hai là cải cách hệ thống thuế để kích thích phát triển. Cải cách thuế tập trung
vào thuế thu nhập, thuế tài sản thừa kế, thuế mua bán chứng khoán, để các cá nhân
tham gia nhiều hơn vào thị trờng chứng khoán. Hiện nay, tiền để dành của ngời Nhật
lên tới 14.000.000 tỷ JPY (khoảng 12.000 tỷ USD, trung bình mỗi ngời dân khoảng
100.000 USD) và 70% do ngời già nắm giữ [13,9]. Nếu cải cách thuế, một phần số
tiền đó sẽ mua chứng khoán và làm cho giá chứng khoán tăng lên.
Thứ ba là tiến hành cải cách cơ cấu. Cải cách cơ cấu là mục tiêu luôn đợc Chính
phủ đa lên hàng đầu. Thủ tớng Koizumi đã xúc tiến bảy chơng trình cải cách bao
gồm: t nhân hoá; thực hiện chơng trình hỗ trợ cá nhân nh là một hệ thống xã hội
khuyến khích khả năng của cá nhân; tăng cờng chức năng bảo hiểm và phúc lợi xã
hội; thành lập quỹ hỗ trợ cho nghiên cứu và giáo dục đối với khu vực t nhân; cải thiện
cơ sở hạ tầng để tạo một môi trờng cho phép mọi ngời sống và làm việc theo ý muốn;
tối đa hoá quyền lực của chính quyền địa phơng để tăng tính tự lập và năng động; cải
cách tài chính bằng cách thay đổi sự cứng nhắc đối với các hình thức phân bổ nguồn
10 10
vốn của chính quyền nhà nớc và địa phơng, điều chỉnh lại các nguồn thu nhập và
phân bổ ngân sách giữa các khu vực sao cho hiệu quả và linh hoạt hơn. Cùng với việc
cải cách cơ cấu kinh tế vĩ mô, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng cải tổ, sắp xếp lại tổ
chức và định hớng lại sản xuất cho phù hợp với điều kiện mới.
Thứ t là, tập trung xây dựng hệ thống kinh tế có sức cạnh tranh trong môi trờng
quan hệ thơng mại với các khu vực và thế giới, Nhật Bản có thể tận dụng và phát huy
đợc các thế mạnh của mình.
Thứ nhất, quan hệ thơng mại với các nớc cho phép Nhật Bản xâm nhập vào thị trờng
các nớc này vì cơ sở nguyên nhiên liệu cũng nh thị trờng tiêu thụ sản phẩm sẽ rộng
mở hơn. Việc khai thông thị trờng quốc gia với quốc tế cho phép bổ sung những mặt
yếu và phát huy lợi thế so sánh của mình. Nhật Bản đã tận dụng lợi thế này một cách
có hiệu quả. Thực tế đã chứng minh rằng, không một quốc gia nào có thể phát triển
đợc nếu chỉ xây dựng thị trờng nội địa mà không tính đến thị trờng bên ngoài với chủ
trơng tạo lập một nền kinh tế độc lập, tự chủ. Và thực tế đã chứng minh là nền kinh tế
bế quan toả cảng là hoàn toàn không phù hợp, nhất là trong xu thế toàn cầu hoá.
Chúng ta đều biết Nhật Bản là một quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, nhng lại là
một nớc có nền kinh tế cờng thịnh thứ hai thế giới. Những thành công mà Nhật Bản
gặt hái đợc có sự đóng góp không nhỏ của thơng mại quốc tế.
Thứ hai là nhờ có thơng mại quốc tế mà việc giao lu văn hoá đã xâm nhập vào Nhật
Bản, làm cho cuộc sống ngời dân trở nên phong phú hơn, chất lợng cuộc sống đợc
nâng cao hơn. Đồng thời, quan hệ thơng mại với các nớc còn làm cho tự do dân chủ ở
12 12