M
ỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ SỬ DỤNG THUỐC TRONG BỆNH VIỆN
1. Khuyến cáo về lạm dụng glucocorticoid, lạm dụng kháng sinh điều trị virus
Một số bác sĩ luôn sử dụng depersolon khi truyền dịch. Việc lạm dụng glucocorticoid để
chống lại tỷ lệ choáng phản vệ trong phạm vi 1/50.000 là bất hợp lý và không an toàn.
Thường xuyên điều trị glucocorticoid sẽ tạo nên một yếu tố nguy cơ ở những bệnh lao
trong thời kỳ ủ bệnh và những nhiễm trùng tiềm tàng sẽ bột phát và nguy cơ lan truyền
toàn thân.
Trong các nghiên cứu dịch tễ học quốc tế, đã chỉ ra khi bệnh nhân được điều trị penicilin
tỷ lệ xảy ra một số loại phản ứng có hại là 1 - 10%. Khi dùng kháng sinh phổ rộng đường
uống thông thường hay gặp nhất là những phản ứng dạ dày - ruột. Phản ứng đó là do
kháng sinh tiêu diệt những vi khuẩn đường ruột bình thường. Điều đó giống như các
dạng phản ứng có hại của thuốc đối với da, đặc biệt sau khi sử dụng ampicilin hoặc
amoxicilin với những bệnh nhân nhiễm virus (đây là sử dụng không hợp lý). Hiện nay có
tình trạng lạm dụng ampicilin và amoxicilin điều trị đau họng gây nên xuất hiện những
phản ứng da (trong trường hợp này) với tỷ lệ rất cao (ở đây nếu có xuất hiện phản ứng
da thì đó không phải là dị ứng, mà là các biểu hiện của các triệu chứng phụ). Việc sử
dụng glucocorticoid để điều trị tình trạng có phản ứng da này là không cần thiết, nên thay
thế bằng penicilin V. Penicilin V cho phép điều trị một nhóm lớn bệnh nhân khá an toàn,
không có nguy cơ gây phát ban ở da, thậm trí tốt cả khi điều trị trong những trường hợp
chẩn đoán chưa rõ.
2. Khuyến cáo về sử dụng methionin
Methionin gây bệnh thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ và thiếu acid folic cấp. Nguy cơ
gây ra những tác dụng có hại này là do bệnh gan làm trầm trọng hơn. Những tác dụng
có hại cấp và mạn do sử dụng quá liều methionin đã được chứng minh bằng tư liệu. Một
nhóm bệnh nhân được điều trị với thuốc bổ sung là methionin trong tình trạng nuôi
dưỡng ngoài đường tiêu hoá nhưng với liều methionin sinh lý rất có khả năng gây ra
thiếu acid folic cấp (Wardrop CAJ et al. Thiếu folat cấp tính cùng với tình trạng nuôi
dưỡng đường tĩnh mạch với amino acid - sorbitol - ethanol: dùng acid folic đường tĩnh
mạch để phòng bệnh. Br. J. Haematol. 1977; 33: 521 - 525 và Tennant GB. Tiêm amino
acid làm giảm folat huyết thanh sau khi cắt bỏ túi mật Scand J. Haematol 1981; 27: 333 -
methionin cũng như là nguy cơ gây ra thiếu hụt acid folic cấp tính, đây là một lý do quan
trọng để không dùng methionin kéo dài hơn, nhưng dùng acetylcystein để thay thế đối
với những bệnh nhân ngộ độc paracetamol. Theo dõi các biểu hiện tim mạch do tăng
homocystein trong máu gồm có nhồi máu não, tắc mạch vành, nhồi máu cơ tim, nhồi
máu phổi, nhồi máu thận, viêm tắc tĩnh mạch huyết khối với tắc mạch phổi... Để điều trị,
dùng liều hạn chế chuẩn xác của methionin; vitamin B6 có tác dụng làm giảm methionin
do tăng methyl hoá methionin.
Dẫn chứng bằng tư liệu về nguy cơ của methionin đối với bệnh gan
Methionin là amino acid có nguy cơ gây bệnh não ở những bệnh nhân suy giảm chức
năng gan đã được chứng minh bằng tư liệu. Vai trò điều trị của methionin chỉ là thay thế
acetylcystein trong điều trị ngộ độc paracetamol cấp tính. Sau đó methionin phản ứng
liên kết với chất chuyển hoá của paracetamol (Martindale, dược thư đặc biệt, 1996; ấn
bản lần thứ 31, Goodman và Dilman, 1996, Young, Koda - Kimble, ứng dụng điều trị,
1996, đánh giá sử dụng thuốc - xuất bản hàng năm 1995). Sự rối loạn chuyển hoá acid
folic cũng như vitamin B12 dẫn tới ức chế methyltransferase 5-methyl - tetrahydrofolate
(Kano Y, Sakamoto S, Sakuraya K, Kubota T, Hida K, Suda K, Takaku F: Tác dụng của
oxit nitơ đối với tế bào tuỷ xương và tác dụng hiệp đồng của nó với methionin và
methotrexat đối với suy giảm nhóm chức folat. Cancer Res 1981; 41: 4698 - 4701, và
Deacon R, Lumb M, Derry J, Chanavin I, Barbara M, Halsey M, Nunn J: Khử hoạt tính
của methionin bằng oxit nitơ. Eur J Biochem 1980; 104: 419 - 422).
Câu hỏi chính là nguy cơ của amino acid có sylfohydryl ở những bệnh nhân bệnh gan,
xơ gan, viêm gan, suy giảm chức năng gan. Prescott đã chỉ ra rõ ràng là một người
không dùng liều ban đầu methionin muộn hơn 15 giờ sau khi nhiễm độc paracetamol
(Prescott LF: quá liều paracetamol. Nghiên cứu dược lý và quản lý về lâm sàng. Các
thuốc 1983; 25: 290 - 314).
Theo như hướng dẫn chung, mọi người phải luôn cân nhắc đến bệnh ở gan ảnh hưởng
đến khả năng chuyển hoá của gan đối với protein và amino acid. Cẩm nang nhi khoa
(Nelson, sách giáo khoa về nhi khoa, WB Saunders Co, Philadelphia 1979, ấn bản lần
thứ 11, trang 1125) đã khuyến cáo rằng, đối với những bệnh nhân suy giảm chức năng
gan cấp tính và có nguy cơ đối với bệnh não, dùng liều protein dưới 1g protein/kg cân