MỤC LỤC
STT
TÊN BÀI VIẾT
Trang
PHẦN I: BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ KHOA HỌC CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1
BẢN CHẤT KHOA HỌC VÀ CÁCH MẠNG CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC - LÊNIN
1
ThS Đỗ Thị Thanh Hà
2
Khoa Luật và KHCT, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN – NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, KIM CHỈ
NAM CHO HÀNH ĐỘNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ThS Nguyễn Hồ Thanh
2
Bộ môn Giáo dục quốc phòng, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
7
ThS Dương Thị Bích Thủy
Khoa Luật và KHCT, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
QUAN ĐIỂM MÁC - LÊNIN VỀ THỊ HIẾU THẨM MỸ
6
ThS Đỗ Công Hồng Ân
39
Khoa Luật và KHCT, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
GIÁ TRỊ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN TRONG TIẾN
TRÌNH CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1920 ĐẾN NAY)
7
ThS Võ Thị Như Huệ; ThS Hoàng Thị kim Liên
48
Trường Đại học Quảng Nam
8
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THEO MÔ HÌNH DÂN CHỦ NHÂN DÂN –
THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM
55
82
ThS Lê Đức Thọ
Trường Cao đẳng Nghề Đà Nẵng
12
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VÀ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN KHI HỌC TẬP
CÁC MÔN KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Huỳnh Ngọc An
Khoa Luật và KHCT, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
89
“BỆNH LƯỜI HỌC TẬP CHÍNH TRỊ” Ở SINH VIÊN TRƯỜNG
ĐẠI HỌC AN GIANG
13
Trần Bảo Nguyên
94
Bộ môn Giáo dục quốc phòng, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
14
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC
TẬP CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI VIỆC HỌC CÁC MÔN KHOA
17
GIÁO DỤC NIỀM TIN ĐỐI VỚI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
Huỳnh Ngọc An
Khoa Luật và KHCT, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
124
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY, HỌC TẬP TRIẾT
HỌC MÁC - LÊNIN Ở ĐẠI HỌC AN GIANG HIỆN NAY
18
ThS Đỗ Công Hồng Ân
131
Khoa Luật và KHCT, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
KHAI THÁC HIỆU QUẢ CÁC TÁC PHẨM KINH ĐIỂN VÀO
VIỆC GIẢNG DẠY TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
19
Nguyễn Thị Minh Hải
Phòng Thanh tra - Pháp chế, Trường ĐH An Giang, ĐHQG-HCM
137
20
LỜI GIỚI THIỆU
Hội thảo khoa học với chủ đề “Bản chất cách mạng và khoa học của chủ
nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” đã nhận được tổng cộng 22 bài viết
có giá trị của các tác giả từ các trường Đại học, Cao đẳng, Học viện trong nước. Nội
dung bài viết rất phong phú, đa dạng xoay quanh chủ đề, gồm 2 phần cụ thể:
Phần I: Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh
Phần II: Nâng cao chất lượng giảng dạy các môn khoa học Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh hiện nay
Trong quá trình biên tập bài viết, Ban biên tập chỉ chỉnh sửa lỗi kỹ thuật,
chính tả và một số lỗi câu cho rõ nghĩa. Còn nội dung của bài viết, Ban biên tập
nhất trí với quan điểm của tác giả. Bản quyền thuộc về Trường Đại học An Giang,
tuy nhiên quan điểm trình bày trong kỷ yếu này là quan điểm của tác giả. Trường
Đại học An Giang không đảm bảo tính chính xác của các dữ liệu trình bày trong kỷ
yếu và không chịu bất cứ trách nhiệm nào do việc sử dụng các dữ liệu này gây ra.
Thay mặt Ban tổ chức Hội thảo khoa học, chúng tôi chân thành cám ơn sự
hợp tác của các tác giả, các nhà khoa học, các giảng viên, sinh viên và sự hợp tác
của các thành viên tổ chức Hội thảo.
Trân trọng!
BAN BIÊN TẬP
PHẦN I
BẢN CHẤT CÁCH MẠNG VÀ KHOA HỌC
CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN,
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1
thủ. Tính cách mạng đòi hỏi phải xây dựng xã hội để chống lại xã hội cũ nhất thiết phải tôn
trong và hành động theo quy luật khách quan, tức dựa vào khoa học. Thêm nữa, cần nhận
thấy, bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin mang tính mở, không
cứng nhắc, không bất biến mà đòi hỏi luôn được bổ sung, đổi mới theo sự phát triển của
dòng chảy trí tuệ của nhân loại. Tức nó gắn liền với phong trào cách mạng, với thực tiễn
vận động của lịch sử.
Khoa Luật và Khoa học chính trị, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM
Hoàng Chí Bảo (2010), Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, tr. 5
2
Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 268
1
2
2. Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin
2.1. Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống lý luận khoa học, thể hiện trong toàn bộ
các nguyên lý cấu thành học thuyết
Ba bộ phận cấu thành nên chủ nghĩa Mác - Lênin là Triết học Mác - Lênin, Kinh tế
chính trị Mác - Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học đều là những hệ thống lý luận khoa
học thống nhất về mục tiêu, biện pháp, con đường thực hiện sự nghiệp giải phóng của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới thoát khỏi sự áp bức bất công, xây dựng
xã hội mới tốt đẹp hơn. Ba bộ phận này không hoạt động tách rời, riêng lẻ mà nó là một
chỉnh thể thống nhất với đầy đủ nội dung cốt lõi của toàn bộ học thuyết Mác - Lênin.
Thứ nhất, chủ nghĩa Mác - Lênin, trước hết với sự sáng lập của C.Mác và
Ph.Ăngghen đã kế thừa có phê phán những thành tựu của tư duy nhân loại, sáng tạo ra chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Các nhà triết học trước Mác nếu họ
cấp thật sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát
triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công
nghiệp”1. Học thuyết Mác - Lênin nhận định giai cấp vô sản là giai cấp cách mạng có khả
năng giác ngộ về vai trò sứ mệnh lịch sử của mình để giải phóng toàn bộ xã hội khỏi chế
độ tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
2.2. Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất nêu lên mục tiêu giải phóng xã
hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người với con đường, lực lượng và phương
thức rõ ràng để đạt được mục tiêu đó
Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất đặt ra mục tiêu, chỉ rõ con đường giải
phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới
thoát khỏi tình trạng bị nô dịch và bóc lột. Đồng thời cũng chỉ ra lực lượng cách mạng thực
hiện sự nghiệp giải phóng trên là giai cấp công nhân cùng với sự liên minh với toàn thể
nhân dân lao động để đem lại thắng lợi cuối cùng là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
tiến tới chủ nghĩa cộng sản. Mặt khác, các ông chỉ ra quy luật của sự giải phóng và phát
triển xã hội, đó là quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất, về sự chuyển biến từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội
khác không phải diễn ra một cách tự phát mà phải thông qua cuộc đấu tranh giai cấp.
Từ quá trình nghiên cứu mâu thuẫn nội tại trong lòng xã hội tư bản, chủ nghĩa Mác Lênin đưa ra những quan điểm về cách mạng vô sản, về sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản
trong cuộc chiến giành chính quyền để xây dựng xã hội mới. Lý luận về chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa cộng sản đã nghiên cứu những điều kiện lịch sử và những quy luật lật đổ xã hội tư
sản, xây dựng xã hội cộng sản. Nó làm sáng tỏ vai trò của giai cấp vô sản và quần chúng lao
động do Đảng Cộng sản lãnh đạo trong quá trình đấu tranh nhằm xóa bỏ chủ nghĩa tư bản,
xây dựng hình thái kinh tế - xã hội mới: chủ nghĩa cộng sản. Đặc biệt, khi nghiên cứu chủ
nghĩa tư bản trong giai đoạn độc quyền và chủ nghĩa đế quốc, V.I.Lênin đã phát hiện ra quy
luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản. Từ đó, người đưa ra dự báo rằng “cách mạng
vô sản có thể nổ ra và giành thắng lợi ở một nước (có thể vài nước), nơi tập trung những mâu
thuẫn gay gắt nhất của nhân loại và cũng là nơi có lực lượng cách mạng to lớn, phong trào
cách mạng phát triển mạnh mẽ”2. Quan trọng hơn là dự báo đó của V.I.Lênin đã trở thành
hiện thực với thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại 1917.
Bên cạnh đó, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin còn chỉ ra rằng để chủ
giáo điều, mà là kim chỉ nam cho hành động, về phía V.I.Lênin, ông cũng nêu quan điểm:
“Tuyệt đối không coi lý luận của C.Mác là một cái gì đó nhất thành bất biến và thần thánh
hóa không thể xâm phạm, hoàn toàn trái lại, chúng ta tin rằng nó chỉ đặt cơ sở cho một
khoa học, những người xã hội chủ nghĩa nếu không muốn lạc hậu với đời sống thực tế, cần
đẩy môn khoa học này tiến lên phía trước trên mọi phương diện”2. Chủ nghĩa Mác - Lênin
thật chất không phải “là liều thuốc vạn năng được bốc sẵn để chữa trị mọi căn bệnh trong
đời sống xã hội, cũng không phải là cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm”3. Do
đó, học thuyết Mác - Lênin là học thuyết mở, theo nghĩa là nó “luôn được nạp năng lượng
mới từ cuộc sống và luôn động, luôn luôn phát triển”4.
Hiện nay, công việc phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin là trách nhiệm của thế
hệ kế tiếp. Mặt khác, khi vận dụng các nguyên lý cơ bản của học thuyết Mác - Lênin, nhất
thiết phải dựa vào điều kiện lịch sử - cụ thể của từng nước trong từng thời kỳ cách mạng để
vận dụng một cách sáng tạo và phát triển không ngừng.
Tuy nhiên, cần nhận thấy, dù là học thuyết mở và cần có sự thay đổi, bổ sung cho
phù hợp với tình hình mới nhưng thế giới quan, phương pháp luận, nội dung mang tính
khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn luôn là chân lý bền vững, đã, đang và
sẽ là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động đối với tất cả các cuộc cách mạng lấy
con người làm mục đích cuối cùng từ khi ra đời đến nay.
3. Thay lời kết
Sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin tạo nên những biến chuyển có ý nghĩa cách
mạng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại. Lần đầu tiên giai cấp vô sản trên thế giới có một
1
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, tr. 85
2
Nguyễn Thế Nghĩa & Thái Thị Thu Hương, sđd, tr. 17.
3
Nguyên Bá Dương (2018), Giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của chủ nghĩa Mác, Nxb Chính trị quốc gia
Sự Thật, Hà Nội, tr.285
Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, 2015, số 3, 3-11.
6
CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN – NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG, KIM CHỈ NAM
CHO HÀNH ĐỘNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ThS Nguyễn Hồ Thanh
ThS Dương Thị Bích Thủy
Tóm tắt: Bài viết phân tích cơ sở và những giá trị bền vững khẳng định chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của
Đảng Cộng sản Việt Nam, là nguyên tắc của Đảng, là nguyên nhân mọi thắng lợi của cách
mạng Việt Nam. Qua đó, đề xuất một số nguyên tắc cần quán triệt khi vận dụng, bổ sung,
phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin hiện nay.
Từ khóa: Chủ nghĩa Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam, Đảng Cộng sản
Việt Nam.
1. Đặt vấn đề
Thực tiễn và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta nói chung cũng như sự
trưởng thành, lớn mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam hơn 90 năm qua nói riêng là kết quả
tổng hợp của rất nhiều yếu tố. Nhưng có một thực tế không thể phủ nhận, đó là nhờ Đảng
ta đã được vũ trang bằng lý luận cách mạng và khoa học: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh. Trong thời kỳ cách mạng mới, việc tiếp tục kiên định, vận dụng và phát triển
sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam
vẫn là một tất yếu khách quan, là một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Đảng Cộng sản
Việt Nam “là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của
nhân dân lao động và của toàn dân tộc Việt Nam”1. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Đây là vấn đề có
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội" (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp
tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng
tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”3. Khẳng định trên được xây dựng trên những cơ sở:
2.1. Xuất phát từ tính khoa học, tính cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin
2.1.1. Cơ sở của tính cách mạng và tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin có căn cứ cơ sở khoa học, là một hệ thống các quan điểm lý
luận và phương pháp khoa học, khách quan được kết tinh và là đỉnh cao thành tựu trí tuệ
của loài người, của tinh hoa văn hóa nhân loại.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt ra mục tiêu, chỉ rõ
con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp
bức trên thế giới khỏi nô dịch và bóc lột, khỏi đói nghèo và tha hóa về nhiều mặt. Đồng
thời, học thuyết đó chỉ ra lực lượng cách mạng thực hiện sự nghiệp giải phóng và phát triển
xã hội là giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đem lại cho họ niềm tin vào khả năng
và sức mạnh của chính mình.
Bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin còn thể hiện đây là học
thuyết mở không cứng nhắc, bất biến, mà đòi hỏi luôn được bổ sung, đổi mới, phát triển
trong dòng phát triển trí tuệ của nhân loại. Toàn bộ học thuyết Mác - Lênin có giá trị bền
vững xét trong tinh thần biện chứng của nó, với bản chất cách mạng, khoa học và nhân
đạo. Chủ nghĩa Mác - Lênin sống mãi trong sự nghiệp đấu tranh của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động trên thế giới và là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
2.1.2. Sự thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học trong chủ nghĩa Mác - Lênin
Tính khoa học - khách quan; tính cách mạng - chống cái cũ, bảo thủ, xây dựng cái mới.
Thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học trong chủ nghĩa Mác-Lênin là
thống nhất biện chứng. Tính khoa học đã bao hàm và đòi hỏi trong nó tính cách mạng, bởi
1
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 562.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.12, tr.563.
3
Lịch sử chứng minh, nếu mơ hồ, dao động về hệ tư tưởng thì sẽ lúng túng trong
hoạch định chủ trương, đường lối, rối loạn trong tổ chức và tất yếu dẫn đến thất bại trong
hành động. Thực tiễn cách mạng nước ta cũng chứng minh trong mỗi giai đoạn cách mạng,
mỗi lĩnh vực công tác, mỗi địa phương nếu xa rời hay vận dụng một cách giáo điều, máy
móc chủ nghĩa Mác - Lênin thì kết quả lãnh đạo của Đảng ở giai đoạn đó, lĩnh vực đó, nơi
đó bị hạn chế, cách mạng sẽ khó khăn, thậm chí thất bại.
Kinh nghiệm ở Liên Xô, Đông Âu đã chứng minh quan điểm đúng đắn của Đảng ta:
mọi thành công hay thất bại của cách mạng đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng, bất cứ
nơi nào và lúc nào, đảng nào xa rời những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin,
vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách giáo điều, duy ý chí, vi phạm những nguyên lý
về đảng của giai cấp công nhân, thì nhất định trước sau đảng đó sẽ phạm sai lầm, đội ngũ
đảng chia rẽ, mất uy tín trước quần chúng và có thể đưa cách mạng đến thất bại. Trung
thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng, phát triển sáng tạo vào điều kiện cụ thể của
nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã trải
9
qua nhiều thử thách, trở thành một đảng mácxít kiên cường, vững vàng trước những biến
cố vô cùng khó khăn của lịch sử ở trong nước và trên thế giới1.
Hiện nay bọn cơ hội xét lại và giai cấp tư sản đang tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận
các giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong đó có học thuyết về chính đảng cách
mạng của giai cấp công nhân, thì việc nghiên cứu nắm vững thực chất những nguyên lý
của học thuyết Mác - Lênin càng có ý nghĩa to lớn, giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên
nắm vững những cơ sở lý luận để quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới, chính
sách, góp phần xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh.
3. Những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin - cơ sở, nền tảng tư tưởng
lý luận, kim chỉ nam cho hành động cách mạng đối với lịch sử phát triển của cách
mạng thế giới và cách mạng Việt Nam
3.1. Chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết phát triển
1
Hội đồng Lý luận Trung ương (2015), Phê phán các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng cương
lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 42-43.
2
C. Mác và Ph. Ănghen (1995), Toàn tập, t.36, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 776.
3
V. I. Lênin (1974), Toàn tập, t.4, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva-Sự thật, tr. 232.
10
Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!
Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp
bức đoàn kết lại.
Nhà nước kiểu Công xã Pari.
Nhà nước kiểu Xô viết - mới.
Và khi khẳng định lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận phát triển không có nghĩa
là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin không ổn định. Có những luận điểm
cụ thể nào đó do thực tiễn chính trị - xã hội, cũng như do sự phát triển của kinh tế, của
khoa học,... đã đổi thay mà cần phải được bổ sung, phát triển, thậm chí loại bỏ.
3.2. Chủ nghĩa nhân văn vì con người
Chủ nghĩa Mác - Lênin xuất phát từ con người và cũng nhằm mục đích giải phóng
con người. Chủ nghĩa Mác - Lênin không có mục tiêu nào khác là giải phóng con người
khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức, bóc lột. Nhưng để giải phóng con người, trước hết phải
giải phóng giai cấp công nhân. Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng tỏ ý
giải quyết vấn đề gì phải thực hiện đồng bộ các giải pháp. Chống bệnh phiến diện cực
đoan, một chiều. Chống chiết trung, ngụy biện dàn đều bình quân chủ nghĩa.
Bốn là, nguyên tắc lịch sử - cụ thể
Nguyên tắc này yêu cầu xem xét sự vật phải vừa cụ thể (trong không gian, thời gian
xác định, mối liên hệ cụ thể) vừa lịch sử (trong hoàn cảnh lịch sử, tính lịch sử, điều kiện
lịch sử cụ thể). Chống giáo điều, rập khuôn, máy móc, chung chung đại thể.
Năm là, nguyên tắc thực tiễn
Xem xét sự vật gắn với nhu cầu thực tiễn. Lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra sự
đúng sai của lý luận, chủ trương, đường lối. Coi trọng tổng kết thực tiễn, để bổ sung, hoàn
thiện, phát triển lý luận. Chống bệnh giáo điều, chủ quan, duy ý chí.
3.4. Quan niệm duy vật về lịch sử
Quan niệm duy vật về lịch sử này đã chấm dứt sự lộn xộn và tùy tiện vẫn thống trị từ
trước đến nay trong các quan niệm về lịch sử và chính trị. Quan niệm duy vật về lịch sử
của C. Mác lần đầu tiên trong lịch sử đã thấy được căn nguyên của những động cơ vật chất,
đặc biệt là động cơ lợi ích kinh tế trong hoạt động lịch sử của con người.
Quan niệm duy vật về lịch sử cũng xuất phát từ trình độ phát triển của nền sản xuất
vật chất xã hội để lý giải những quan niệm tư tưởng cũng như những điều kiện xã hội của
của đời sống của quần chúng nhân dân cùng vai trò của họ trong lịch sử. Quan niệm duy
vật về lịch sử đã xem xét xã hội một cách chỉnh thể, toàn diện quá trình phát sinh, phát
triển và suy tàn của các hình thái kinh tế - xã hội.
Quan niệm duy vật về lịch sử xuất phát từ đời sống vật chất để lý giải đời sống tinh
thần của xã hội. Quan niệm duy vật về lịch sử trong khi khẳng định vai trò quyết định của
đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần, kinh tế đối với chính trị,… đã không hề hạ
thấp mà còn nhấn mạnh sự tác động trở lại của đời sống tinh thần đến đời sống vật chất,
của chính trị đối với kinh tế,... Do vậy, chủ nghĩa duy vật lịch sử của C.Mác về bản chất
cũng là chủ nghĩa duy vật biện chứng.
3.5. Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội
Học thuyết của C.Mác về hình thái kinh tế - xã hội mà điểm cốt lõi của nó là quy luật
về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất. C. Mác đã vận dụng quy luật này để phân tích về sự vận động và phát triển của hình
bản từ cách đây 150 năm”1.
Trong giai đoạn hiện nay, cần bổ sung (sở hữu trí tuệ, bản quyền; quảng cáo; quản lý
phí của chính nhà tư bản,...) nhưng về bản chất học thuyết giá trị thặng dư vẫn còn nguyên
giá trị khoa học.
3.7. Về vai trò, sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân
C. Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ rõ, trong tất cả các giai cấp đang đối lập với giai cấp
tư sản chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng có vai trò, sứ mệnh lịch sử lật
đổ giai cấp tư sản thiết lập một chế độ xã hội mới không còn người bóc lột người. Mặc dù
cuộc sống có tiến bộ hơn, nhưng bản thân người công nhân hiện đại vẫn là người làm thuê
hiện đại, vẫn bị bóc lột giá trị thặng dư.
Xét về nội dung kinh tế giai cấp công nhân vẫn là chủ thể chủ yếu của quá trình sản
xuất vật chất trong nền công nghiệp hiện đại, vẫn là người gắn với lực lượng sản xuất hiện
đại, có những phẩm chất như tinh thần đồng đội, tập thể, có tầm nhìn xa trông rộng, có tính
kỷ luật cao, có khả năng quy tụ, lãnh đạo các giai cấp khác. Xét về nội dung chính trị - xã
hội cho thấy chỉ có giai cấp công nhân mới có thể liên minh với nhân dân lao động khác do
1
Hội đồng Lý luận Trung ương (2015), Phê phán các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng cương
lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 51.
13
đảng cộng sản lãnh đạo để xây dựng xã hội mới; mới giải quyết được các vấn đề chính trị xã hội trong quá trình xây dựng xã hội mới. Xét về nội dung văn hóa, tư tưởng, chỉ có giai
cấp công nhân mới là lực lượng xác lập được các hệ giá trị mới như lao động, công bằng,
dân chủ, bình đẳng, tự do để thay thế cho hệ giá trị tư sản cũ.
3.8. Học thuyết về chủ nghĩa xã hội
Chủ nghĩa xã hội với tư cách là một lý tưởng vẫn sống mãi, sự sụp đổ của chủ nghĩa
xã hội ở Liên Xô, Đông Âu là sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội giáo điều, cứng
nhắc, không phải sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội nói chung.
Hai là, vận dụng sáng tạo góp phần bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin phải
đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ba là, vận dụng sáng tạo góp phần bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin phải
kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, thù địch, những quan điểm nhân
danh phát triển để chống lại chủ nghĩa Mác - Lênin.
Bốn là, vận dụng sáng tạo góp phần bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin phải
trên cơ sở tổng kết một cách khoa học thực tiễn đổi mới đất nước và thực tiễn khu vực
cũng như thế giới.
5. Thay lời kết
Học thuyết Mác - Lênin có sức sống mãnh liệt và có giá trị thời đại, bởi vì đây là học
thuyết khoa học và cách mạng. Học thuyết đó là cơ sở thế giới quan, cơ sở phương pháp
luận khoa học của nhân loại và gợi mở cho sự nghiên cứu tiếp tục trong tương lai của loài
người. Học thuyết Mác - Lênin, cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh, thực sự trở thành nền
tảng tư tưởng lý luận, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng ta trong lãnh đạo
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đây là học thuyết khoa học và đúng đắn, nhưng học thuyết Mác - Lênin cũng là sản
phẩm của thời đại, của hoàn cảnh lịch sử nhất định, nên không thể đưa ra những giải pháp
đầy đủ, chi tiết, cặn kẽ đối với mọi vấn đề, ở mọi thời đại, của mọi quốc gia. Do vậy, cần
phải xem học thuyết Mác - Lênin là học thuyết mở, cần được bổ sung, phát triển không
ngừng cùng với tiến trình phát triển tri thức, khoa học, thực tiễn của nhân loại. Khi vận dụng
các nguyên lý cơ bản của học thuyết đó, nhất thiết phải dựa vào điều kiện lịch sử cụ thể của
từng nước để vận dụng một cách sáng tạo. Những thắng lợi mang tính lịch sử của cách mạng
Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo là minh chứng thuyết phục nhất về sự vận dụng
sáng tạo và sự đóng góp của Đảng ta, của nhân dân ta cho sự phát triển học thuyết Mác Lênin. Vận dụng lý luận vào thực tiễn là con đường cam go, khúc khuỷu, phải có cơ chế
thích hợp và đòi hỏi thái độ khách quan, khoa học, trung thực thì mới thành công.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Điều lệ Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Sự nghiệp đổi mới, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh
toàn cầu hóa và hội nhập đặt ra hàng loạt vấn đề về nhận thức, trong đó có cả việc đánh giá
các sai lầm lý luận trong quá khứ, rút ra những bài học cho hiện tại và tương lai. Nhìn lại
chủ nghĩa giáo điều - một trong những tác nhân đưa đến sự khủng hoảng lý luận của chủ
nghĩa xã hội tại Liên Xô và Việt Nam những năm 80 của thế kỷ XX - có thể thấy rằng khi
nào giá trị khoa học của một học thuyết bị biến thành tín điều, thành thứ chân lý tuyệt đỉnh,
không cần đến sự thẩm định và sự phản biện của cuộc sống, không cần tiếp tục được bổ
sung, phát triển sáng tạo, cụ thể hóa trên mảnh đất trần tục, hiện thực, thì khi ấy tính định
hướng, tính gợi mở của nó biến thành tính giáo huấn thuần túy, một chiều, và nếu học
thuyết - tín điều đó trở thành lý luận nền tảng, chính thống, thì sự tác động của nó đến sinh
mệnh chính trị của cả một dân tộc, một chế độ xã hội là khó tránh khỏi, để lại hậu quả cho
nhiều thế hệ, nhất là khi nó đi vào lối sống, tác phong công việc, đóng vai trò những chuẩn
mực, những giá trị không thể bác bỏ. Vậy thực chất chủ nghĩa giáo điều là gì? Đâu là cội
nguồn lịch sử của nó? Có hay không hiện tượng “chủ nghĩa giáo điều mới”, hay những
biến tướng của chủ nghĩa giáo điều trong nhận thức và hoạt động thực tiễn hiện nay?
16
2. Nội dung
2. 1. Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin
Một là, triết học mácxít là sự thống nhất hữu cơ chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng
Trước Mác, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng về cơ bản là tách biệt nhau. Chủ
nghĩa duy vật tuy có ẩn giấu một số tư tưởng biện chứng nhất định, song về cơ bản là
phương pháp siêu hình giữ vai trò thống trị, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII –
XVII. Công lao lịch sử của Hêghen là đã phát triển phép biện chứng từ trình độ tự phát trở
thành một khoa học, từ tản mạn thành hệ thống, đem đến cách hiểu hiện đại về phép biện
chứng như học thuyết về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, vượt qua cách hiểu mang
nặng tính chủ quan về phép biện chứng như “nghệ thuật đối thoại”, xuất phát từ người Hy
Lạp. Phép biện chứng, với tính cách như trên, được Hêghen trình bày trong “Khoa học
17
“Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen. Lời nói đầu” và “Gia đình thần
thánh” Mác không dưới một lần nhấn mạnh “thủ tiêu”, “xoá bỏ”, “phủ định” triết học theo
nghĩa cũ, thứ triết học tư biện, “bay lượn cao” trên biển cả cuộc sống đầy bão táp. Đối với
Mác không phải cuộc sống diễn ra theo những đồ thức luận tư duy, mà ngược lại, đồ thức
luận tư duy cần thường xuyên được điều chỉnh theo những diễn biến của cuộc sống. Vì thế
quan điểm thực tiễn đã trở thành quan điểm xuất phát, nền tảng trong triết học Mác. Nhờ
hiểu thực tiễn từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng mà nguyên tắc thống nhất lý
luận và thực tiễn mang thông điệp mới. Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học từ quan
điểm thực tiễn nghĩa là phải xem thực tiễn như nguồn gốc, cơ sở, động lực, mục tiêu của
nhận thức, tiêu chụẩn kiểm tra chân lý. Hơn thế nữa, chỉ xuất phát từ thực tiễn mới khắc
phục được quan điểm siêu hình trong nhận thức và hành động, bởi lẽ thực tiễn biến đổi sẽ
thực hiện quá trình sàng lọc, đào thải đối với lý luận; những quan điểm nào tỏ ra lỗi thời,
không đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội, sẽ phải nhường chỗ cho cái mới, cái hợp lý.
Bốn là, triết học mácxít thống nhất giữa tính cách mạng với tính khách quan khoa
học; vũ khí lý luận của giai cấp vô sản
Với tư cách là thế giới quan duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật triết học
mácxít đã mang trong mình bản chất khoa học và cách mạng. Bản chất của triết học mácxít
thể hiện ở chỗ nó không chỉ giải thích đúng đắn thế giới mà còn cải tạo thế giới. Ở đây, triết
học mácxít trở thành vũ khí lý luận sắc bén của giai cấp vô sản cách mạng, còn giai cấp vô
sản cách mạng là vũ khí vật chất của triết học mácxít trong cuộc đấu tranh giải phóng con
người và loài người. C. Mác viết: “Dưới dạng hợp lý của nó, phép biện chứng chỉ đem lại sự
giận dữ và sự kinh hoàng cho giai cấp tư sản và bọn tư tưởng gia giáo điều của chúng mà
thôi, vì trong quan niệm tích cực về cái hiện đang tồn tại, phép biện chứng đồng thời cũng
bao hàm cả quan niệm về sự phủ định cái hiện đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của
nó; vì mỗi hình thái đã hình thành đều được phép biện chứng xem xét trong sự vận động, tức
là xét cả mặt nhất thời của hình thái đó; vì phép biện chứng không khuất phục trước một cái
lại những đồ luận ấy cần thường xuyên điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn luôn biến đổi.
Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Mác và Ăngghen đề cập đến sự vận dụng sáng tạo
các nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản vào điều kiện cụ thể của mỗi nước với những chiến
lược và sách lược thích. Như vậy ở bình diện nhận thức và hoạt động thực tiễn những
người sáng lập chủ nghĩa Mác luôn nhấn mạnh sự cần thiết đổi mới thường xuyên phương
thức tiến hành cách mạng vô sản, không chấp nhận sự khuôn mẫu, giáo điều. Phép biện
chứng duy vật, được vận dụng vào việc phân tích tiến trình lịch sử - xã hội và hiện thực
hoá các lý tưởng dân chủ, nhân văn, đã là minh chứng sống động cho tính mở và tính sáng
tạo của chủ nghĩa Mác.
V. I. Lênin và Hồ Chí Minh là mẫu mực của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác vào điều kiện cụ thể của mỗi nước. Chống lại những toan tính tầm thường hóa
chủ nghĩa Mác, Lênin chỉ ra hiểm họa của việc biến chủ nghĩa Mác thành thứ tôn giáo đặc
biệt, mà ở đó những người cộng sản đóng vai những linh mục đỏ, còn học thuyết mácxít thì
được soạn lại thành những mệnh đề mang tính giáo huấn, như những lời thiêng trong Kinh
Thánh. Lênin nhấn mạnh: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong
xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho
môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu
họ không muốn trở thành lạc hậu so với cuộc sống… Lý luận của C. Mác chỉ đề ra những
nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng những nguyên lý ấy thì, xét riêng từng nơi, ở Anh
không giống ở Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức không giống ở Nga”1
Con đường giải phóng dân tộc theo khuynh hướng cách mạng vô sản của Nguyễn Ái
Quốc để đưa dân tộc Việt Nam khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và đấu tranh chống đế
quốc Mỹ thống nhất nước nhà cũng là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào
thực tiễn cách mạng ở các nước thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng, đó là sự nhận
thức đúng đắn biện chứng lý luận chung vào cái riêng và cái đặc thù. Chỉ bốn năm sau khi
tìm thấy con đường cứu nước Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra và phê phán những biểu hiện
của sự rập khuôn máy móc, của tính hình thức trong việc vận dụng chủ nghĩa Mác vào các
nước phương Đông, trong đó có Việt Nam. Người đòi hỏi “bổ sung cơ sở lịch sử của chủ
1