Phần thứ hai PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ VIỆC DUY TRÌ VÀ MỞ RỘNG - Pdf 64

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần thứ hai PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ VIỆC DUY TRÌ VÀ MỞ
RỘNG
THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA
NHÀ MÁY THUỐC LÁ THĂNG LONG
I-/ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ MÁY.
Để đắp ứng nhu cầu về thốc lá của nhân dân về thốc lá. Vào năm 1956 theo
quyết định số 2990/QĐ của thủ tướng chính phủ, nhà máy thuốc lá được xây
dựng và chính thức được đưa vào hoạt động ngày 6/1/1957 tại thị xã Hà Đông
tỉnh Hà Sơn Bình ( nay là tỉnh Hà Tây ).
Cho đến nay nhà máy thuốc lá Thăng Long đã trải qua 40 năm xây dựng
và trưởng thành. Qua qúa trình phát triển lâu dài với bao thăng trầm trong hoạt
động sản xuất kinh doanh. Ngày nay nhà máy đã vươn lên trở thành một trong
số nhà máy đầu ngành của ngành thuốc lá Việt Nam.
1. Các giai đoạn hình thành và phát triển:
Quá trình hình thành và phát triển của nhà máy thuốc lá Thăng Long có thể
chia ra làm 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: từ năm 1957 đến 1986.
Những năm đầu nhiệm vụ sản xuất chính của nhà máy là sản xuất các loại
thuốc lá điếu, nhằm cung cấp cho nhu cầu của nhân dân, chủ yếu là lực lượng vũ
trang và cán bộ công nhân viiên chức. Thời kì sơ khai nhà máy chỉ được tiếp
nhận một cơ sở vật chất kĩ thuật nhỏ bé. Số công nhân viên chỉ là 233 người.
Đến cuôí năm 1958 sau nhiều lần tuyển dụng nhà máy đã có tới 905 công nhân
viên và một số dây chuyền máy móc thiết bị của Tiệp Khắc ( cũ ) và Trung
Quốc.
Kĩ thuật sản xuất thủ công, máy móc cũ kĩ lạc hậu cộng với tay ngề của
công nhân còn thấp, trình độ sản xuất còn non kém, vì vậy việc sản xuất gặp rất
nhiều khó khăn.
Những năm đầu đi vào sản xuất nhà máy chỉ sản xuất được 8.950.000 bao
thuốc lá các loại, tương đương với giá trị là 2.095.000đ (thời giá năm 1957).
Để khắc phục tình trạng này, đến năm 1960 với sự trợ giúp của Trung Quốc

đàn trong ngành thuốc lá Việt Nam.
Giai đoạn 2: từ 1986 đến nay.
Đâylà bước ngoặt lịch sử của việc chuyển đổi cơ chế kinh tế ở nước ta.
Thời kì đầu nhà máy gặp rất nhiều khó khăn và rất lúng túng với cơ chế mới,
cộng với việc xoá bỏ chế đọ độc quyền phân phối thuốc lá. Vì vậy làm sản
lượng thuốc lá của nhà máy liên tục giảm một cách đáng sợ. Năm 1986 sản
lượng thuốc lá của nhà máy đạt 255.066.000 bao thì đến năm 1989 sản lượng
này chỉ còn 171.730.000 bao. Nhịp độ sản xuất và tiêu thụ giảm sút, số lao động
dôi dư so với nhu cầu sản xuất ngày càng lớn. Đây cũng là bước thăng trầm
chung của tất cả các ngành sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế quốc dân nước
ta, trong đó có ngành thuốc lá.
Song với nhà máy thuốc lá Thăng Long tình trạng đó không kéo dài, nhà
máy đã nhanh chóng tìm ra được lối thoát bằng cách tập trung vào việc đầu tư
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, nghiên cứu sâu vào
khâu tiếp thị và bán hàng để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Để đuổi kịp sự phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ, cũng như duy
trì nhịp độ sản xuất trong cơ chế thị trường, nhà máy đã nhập một loạt thiết bị
mới và đưa vào sản xuất. Do đó chất lượng và sản lượng của nhà máy được phục
hồi và tăng lên rõ rệt. Chẳng hạn như năm 1996 sản lượng thuốc lá của nhà máy
chỉ đạt 132.649.000 bao thì đến năm 1998 sản lượng đó đã tănglên
156.435.000bao. Và tỉ lệ thuốc lá đầu lọc năm 1996 chỉ chiếm có 45,77% thì đến
năm 1998 tăng tỉ lệ thuốc lá đầu lọc lênchiếm 82%và tỉ lệ thuốc lá đầu lọc bao
cứng chiếm 35%. Đây chính là điều kiện cơ bản tạo đà cho nhà máy phát triển
những năm tiếp theo.
Năm 1998 nhà máy đã hoàn thành dây chuyền sản xuất sợi. Đây là bước
đột phá khẩu của nhà maý. Nó cho ra chất lượng sợi tốt và đảm bảo chất lượng
sản phẩm hơn.nhờ có dây chuyền sản xuất sợinhà máy đã đảm bảo đủ nguồn
nguyên liệu( sợi) phục vụ cho việc đa dạng hoá sản phẩm.

thụ năm 1998 đạt 178,926 tỉ đồng, năm 1999 tăng lên 526, 827 tỉ đồng và vượt
135,8% so với năm 1998.
Biểu 2: Thu nhập trung bình cuả người lao động từ 1996-2001
Năm Thu nhập bình quân 1 người/tháng
1996 289.000đ
1997 648.000đ
1998 750.000đ
1999 950.000đ
2000 1.080.000đ
2001 1.200.000đ
II-/ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KĨ THUẬT CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẤN ĐỀ
DUY TRÌ VÀ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM Ở NHÀ MÁY
THUỐC LÁ THĂNG LONG..
1. Tính chất và nhiệm vụ sản xuất của nhà máy.
Để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng sản phẩm thuốc lá của nhân dân, nhà máy đã
cho ra đời nhiều loại sản phẩm có chất lượng tốt, được người tiêu dùng đánh giá
cao.
Qua những năm tháng hình thành và phát triển nhà máy đã cho ra thị
trường nhiều loại sản phẩm khác nhau.Đặc biệt là giai đoạn từ sau năm 1986,
nhà nước đã cho chuyển nền kinh tế theo cơ cấu một nền kinh tế thị trường. Thị
trường và vấn đề cạnh tranh trên thị trường là vấn đề cơ bản, sống còn của mỗi
DN. Nhiệm vụ của nhà máy trong thời gian này là sản xuất những mặt hàng
truyền thống và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó phải
luôn nghiên cứu để cho ra đời những sản phẩm mới với chất lượng ngày một cao
hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường với những đòi hỏi ngày một cao
hơn.
2. Tình hình đầu tư và sử dụng máy móc thiết bị của nhà máy.
Trước đây dây chuyền sản xuất của nhà máy còn lạc hậu, không đồng bộ và
thời gian khấu hao đã hết. Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, bằng
4

Phân xưởng sợi: mơí được trang bị một dây chuyền sản xuất sợi của
Trung Quốc trị giá 8.000.000$. Là dây chuyền chế biến sợi tiên tiến và hiẹn đại
nhất Việt Nam hiện nay được đưa vào sử dụng năm 1998. Dây chuyền này hàng
năm tiết kiệm cho nhà máy hơn chục tỉ đồng. Vì trước đâycuống lá bị loại bỏ đI
nay được tận dụng triệit để (mỗi năm hàng trăm tấn. Điều quan trọng hơn là từ
khi có dây chuyền này chất lượng sợi thuốc đồng đề, đảm bảo yuê cầu kĩ thuật
và chất lượng thuốc được nâng lên.
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sơ đồ 3: Qui trình sản xuất sợi
Thùng trữ phối trộn v à ủ lá
L m à ẩm ngọn lá
Gia liệu
Máy cắt ngọn v phà ối
Hấp chân không
L m à ẩm lá đã cắt
Tách cuộng
Sấy cuộng
Thùng trữ lá
Sấy sợi cuộng
Trưng nở cuộng
Thái cuộng
Hấp ép cuộng
Thùng trữ cuộng
Phân li sợi cuộng
Thùng trữ sợi cuộng
Phun hương
Thùng trữ v phà ối sợi cuộng
L m à ẩm cuộng
Phối trộn sợi lá v sà ợi cuộng

Vùng 1: Gồm Cao Bằng, Lạng Sơn và một số xã ở huyện Sóc Sơn ngoại
thành Hà Nội. ĐâY là vùng nguyên liệu có chất lượng khá cao.
Vùng 2: Gồm Hà Bắc, Vĩnh Phú, Hà Tây... Là vùng có năng suất khá cao
nhưng chất lượng không bằng vùng 1.
Ngoài nguồn cung cấp nguyên liệu ở nội đỉâ nhà máy hàng năm vẫn phải
nhậpmột khối lượng nguyên liệu nhất định, như nhập thuốc sợi từ SINGAPO để
sản xuất thuốc lá VINATABA. Các loại nguyên liệu khác như nhập thuốc lá
vàng của CAMPUCHIA, thuốc lá nâu ở phía nam. Các loai nguyên liệu này
được phối trộn theo những tỉ lệ khác nhau, tuỳ theo từng mác thuốc. Mỗi năm
nhà máy phải mua khoảng 500 tấn nguyên liệu thuốc lá nâu và khoảng 100
thuốc lá vàng. Nhà máy còn phải mua hàng loạt các loại phụ liệu khác nhau như:
Giấy cuốn đầu lọc, giấy bóng kính, các loại phụ liệu phục vụ cho sản xuất cùng
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các loại hoá chất khác... Phần lớn những phụ liệu này đều phải nhập từ nước
ngoài.
Hiện nay nhà máy đã hợp tác với các hãng thuốc lá: TOBACO của Pháp và
BAT (British America TOBACO) trồng thực nghiệm gần 100ha giống mới tại
Sóc Sơn, Ba Vì, Hà Bắc... Bước đầu đã đạtiêu thụ kết quả tốt.
4. Lao động và quản lí, tổ chức lao động ở nhà máy:
Nhà máy thuốc lá Thăng Long là một đơnhưng vị kinh tế lớn, đang có
những bước phát triển mạnh. Nhà máy đã giải quyết tốt vấn đề lao động, có
những năm tổng số lao động của nhà máy lên tới hơn 2669 người ( Số liệu năm
1986). Cho đến hiện nay số lượng lao động của nhà máy chỉ là 1157 người.
Nằm trên địa TP Hà Nội, dân cư đông đúc, có nhiều trường đạI học nên nhà
máy có nhiều thuận lợi trong việc xây dựng cho mình một đội ngũ cán bộ có
chuyên môn nghiệp vụ cao và công nhân giỏi nghề. Hiện nay lực lượng lao
động của nhà máy tuổi đời trung bình còn khá trẻ khoảng 30.
Về trình độ lao động của nhà máy:
Trình độ đạI học: 110 người.

. Phãn xưởng sợi: có 187 lao động làm nhiệm vụ chế biến nguyên liệu (lá
thuốc) thành sợi thuốc để phục vụ cho sản xuất ở phân xưởng bao mềm. Đây là
một khâu then chốt, quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của nhà
máy.
. Phân xưởng bao mềm: Gồm 350 lao động có nhiệm vụ cuốn điếu và cho
ra các sản phẩm là các loại thuốc lá bao mềm (có và không có đầu lọc).
. Phân xưởng bao cứng: Có 94 lao động có nhiệm vụ nhận sợi từ phân
xưởng sợi và sản xuất ra thành phẩm là thuốc lá bao cứng như: VINATABA,
Hồng Hà, Ba Đình.
. Phân xưởng DUNHILL bao gồm 50 người chuyên gia công sản xuất
thuốc lá DUNHILL cho hãng ROTHMAN.
+ Các phân xưởng phụ và phù trợ gồm:
. Phân xưởng cơ điện có 75 lao động chuyên bảo dưỡng và sửa chữa máy
móc thiết bị.
. Phân xưởng 4 có 23 người gia công phụ tùng chi tiết máy.
. Đội bốc xếp có 50 người chuyên vận chuyển bốc xếp nguyên vật liệu,
thành phẩm trong nhà máy.
. Đội xe gồm 18 người có nhiệm vụ vận chuyển nguyên vật liệu về nhập
kho; và chở thành phẩm đến các đạI lí tiêu thụ.
Với cơ cấu như trên đã tạo ra sự chuyên môn hoá trong quá trình sản xuất
sản phẩm, điều đó đã tạo điều kiện cho công nhân nâng cao tay nghề, thành thạo
với công việc của họ nên năng suất đạtiêu thụ cao hơn.
Bộ phận lao động gián tiếp là các phòng ban. Để tránh bộ máy cồng kềnh
và phù hợp với cơ cấu tổ chức sản xuất, đồng thời đẩy mạnh công tác tiêu thụ
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sản phẩm cơ cấu quản lí của nhà máy được xâyb dựng theo kiểu trực tuyến chức
năng: Gồm một giám đốc, hai phó giám đốc và các phòng ban.
Nhiệm vụ và số lao động của các phòng ban:.
- Phòng kế hoạch vật tư: có 15 cán bộ nhân viên chịu trách nhiệm về công

Giám Đốc
PGĐ kĩ thuật
PGĐ kinh doanh
Phòng tổ chức bảo vệ
Phòng kế hoạch vật tư
Phòng thị trường
Phòng t i và ụ
Phòng h nh chínhà
Phòng kĩ thuật CN
Phòng KCS
Phòng nguyên liệu
Phòng kĩ thuật cơ điện
Phòng xây dựng cơ bản
Phòng xây dựng cơ bản
Kho cơ khí
Nh nghà ỉ
Kho VTBC
Kho VL
Kho Tp’
Nh trà ẻ
Nh à ăn
Y tế
Tổ hương hồ
Kho nguyên liệu
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Kho vật tư NN
Đội xe
Bốc xếp
Px’ chuẩn bị

23.527
19.486
4.041
23.527
19.486
4.041
2. Vốn CĐ còn lại đến c.năm:
- Vốn ngân sách
- Vốn DN tự bxung
16.736
6.555
36.639
19.730
49.238
25.093
49.478
29.243
3. Vốn lưu động:
- Vốn ngân sách
- Vốn DN tự bxung
28.284
25.779
2.485
30.716
25.779
2.698
30.765
27.000
2.698
31.462

cao hơn. Vì vậy nhà máy nên mạnh dạn lập các phương án đầu tư sản xuất sản
phẩm mới, đa dạng hoá các loại sản phẩm cũng như việcnâng cao hơn nữa chất
lượng sản phẩm.
Tuy nhiên cũng qua bảng trên thì thấy tài chính của nhà máy vẫn phụ thuộc
quá lớn vào ngân sách nhà nước. Mức độ tăng ngày càng cao hơn. ĐIều nàycó
ảnh hưởng rất lớn đến sự tự chủ, tính năng động trong sản xuất kinh doanh của
nhà máy.
Một DN muốn hoạt động có hiệu quả và đứng vững trên thị trường cần
phải có một nguồn tài chính thích hợp và đủ mạnh. Thế mạnh về tài chính sẽ tạo
cho DN có đủ nguồn lực để đầu tư vào mọi mặt, tăng thêm sức cạnh tranh của
DN trên thị trường. Và vươn ra chiếm lĩnh thị trường giành phần thắng về mình
6. Thị trường tiêu thụ sản phẩm của nhà máy.
Trong suốt thời gian tồn tại gần 30 năm, nhà máy thuốc lá Thăng Long nằm
trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Nên nhà máy không cần phải biết tới
thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình là gì cả. Sản xuất theo chỉ tiêu pháp lệnh
của nhà nước và việc tiêu thụ sản phẩm đều do nhà nước bao tiêu cả. Tốt hay
xấu đều tiêu thụ được hết. Trong thời gian này nhà máy chỉ việc trú trọng vào
công tác sản xuất, làm sao cho hoàn thành kế hoạch là được. Nừu vượt càng tốt,
sễ được nhà nước tuyên dương.
Sản phẩm của nhà máy thời gian này phục vụ hai đối tượng chủ yéu là lực
lượng vũ trang nhân dân và cán bbộ công nhân viên. Đây là thị trường có sức
tiêu thụ cực lớn nhưng yêu cầu về chất lượng chỉ cần thấp. Hơn nữa các loại sản
phẩm thời gian này không có dịp gặp nhau, đối mặt với nhau nên việc tốt xấu
giữa các sản phẩm là không thể so sánh được. Vì mỗi một vùng nhà nước lại cho
đặt một nhà máy giải quyết nhu cầu ở vùng đó và không được phép giao lưu
hàng hoá vùng này với vùng kia. Vì vậy người tiêu dùng không có sự lựa chọn
về hàng hoá cho mình nhà nước bán cho loại nào thì phải dùng loại đó. Vì chất
lượng sản phẩm kém mà không dùng thì cất đI mai dùng tiếp.
Sau nghị quyết 217 - HĐBT của hội đồng bộ trưởng, nhà máy đã có điều
kiện tiếp cận với thị trường. Yêu cầu của cơ chế mới là phục vụ sát hơn nhu cầu

* Nhóm 2: Với những người có thu nhập khá đến khá, có nhu cầu với
loại sản phẩm với chất lượng khá trở lên, nhóm này tập trung chủ yếu ở các khu
đô thị. Sản lượng sản phẩm tiêu thụ có tỉ trọng không lớn lắm nhưng doanh thu
và lợi nhuận đem lại tương đối cao như thuốc lá VINATABA thu lãi 650 đ/bao
và bán với giá 5500 đ/bao. Nhưng loại sản phẩm này đang bị cạnh tranh cực kì
gay gắt. Hiện nay có bốn nhà máy thuốc lá ở Việt Nam cùng tham gia sản xuất
loại thuốc này. Do cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường mà giá loại thuốc này ba
năm trở lại đây liên tục hạ.
Đứng trước tình hình trên tổng công ty thuốc lá Việt Nam đã phân cho mỗi
nhà máy được phép chỉ sản xuất một lượng nhất định và tiêu thụ là do tổng công
ty chịu trách nhiệm ( ở đây qui luật cạnh tranh được thực hiện đầy đủ ).
Ngoài ra trên thị trường còn xuất hiện nhiều loại thuốc lá với chất lượng và
giá cả tương đương với VINATABA như: Ngựa trắng, JET, 555 nội địa, HERO.
* Nhóm 3: là nhóm những người có thu nhập tương đối cao, thói quen tiêu
dùng của nhóm này khó thay đổi, yêu cầu của sản phẩm phải có chất lượng cao,
19

Trích đoạn Đánh giá chung về thị trường tiêu thụ sản phẩm của nhà máy Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những tồn tại trong việc duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ở nhà máy thuốc lá Thăng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status