TÌNH HÌNH BẢO HIỂM KHỐNG CHẾ GIẾNG TRONG HOẠT
ĐỘNG THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ Ở PVIC
I. MỘT SỐ NÉT VỀ CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ
Công ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam ngày 23/1/1996 theo quyết định thành
lập công ty
Căn cư quyết định số 38/CP ngày 30/5/1995 của chính phủ về việc phê
chuẩn điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Dầu khí Việt Nam
Căn cứ nghị quyết số 38/CP ngày 3/10/1995 của hội đồng quản trị Tổng
công ty Dầu khí Việt Nam về việc thành lập Công ty Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam
Thành lập Công ty Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam trực thuộc Tổng Công ty
Dầu khí Việt Nam, có tên giao dịch quốc tế là PetroVietnam Insurance Company,
viết tắt là PVIC với
Vốn điều lệ là 22.000.000.000 VND
Vốn pháp định là20.000.000.000 VND
Vốn kí quỹ là 2.000.000.000 VND
Bảo hiểm dầu khí là doanh nghiệp thành viên, hạch toán độc lập có tư cách
pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại ngân hàng Nhà Nước Việt
Nam .
Nhiệm vụ của Công ty Bảo hiểm Dầu khí là:
Tổ chức và thực hiện các loại hình kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm
đối với khách hàng trong nước nước ngoài và các nhiệm vụ bảo hiểm, tái bảo
hiểm, liên quan tới hoạt động của ngành dầu khí.
Tổ chức thực hiện hoặc hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước để
thực hiện các nhiệm vụ liên quan như giám định, điều tra, phân bổ tổn thất, xét
giải quyết bồi thường.
Tiến hành các nhiệm vụ bảo hiểm nhằm phục vụ sản xuất và đời sống cán bộ
cùng công nhân viên chức ngành dầu khí không nhằm mục đích kinh doanh.
Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Tổng công ty Dầu khí uỷ quyền
SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ VIỆT NAM
II. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM CỦA CÔNG TY
BẢO HIỂM DẦU KHÍ VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA
hiểm
tàu
thuyền
và hàng
Phòng
Hành
chính
Phòng
Tài
Chính
kế
toán
Phòng
tổ
chức
nhân
sự
Phòng
tái bảo
hiểm và
triển
khai
nghiệp
vụ mới
Phòng
bảo
hiểm
thăm
dò và
khai
Năm 2000
Doanh thu của công ty bảo hiểm dầu khí liên tục tăng qua các năm hoạt
động trong đó doanh thu từ nghiệp vụ bảo hiểm dầu khí là nghiệp vụ chính của
công ty đạt tỉ trọng lớn trong tổng doanh thu phí, chiếm khoảng 40 – 50% tổng
doanh thu phí bảo hiểm gốc của công ty .
Trong năm nghiệp vụ, doanh thu phí của công ty luôn vượt mức kế hoạch đề
ra từ 4% - 20% và mức trung bình là 10% đặc biệt là năm 1999 doanh thu thực tế
của công ty là 87.767tỉ đồng so với kì kế hoạch đề ra là 72.914 tỉ đồng vượt mức
kế hoạch là 20.37% đây là con số đáng kể được coi là số vượt mức kế hoạch đề ra
lớn nhất kể từ khi hoạt động mặc dù phí thu được của năm 1999 là giảm so với
các kì trước do thị trường trong nước cũng như quốc tế gặp khó khăn.Tuy vậy,
sang năm 2000 mức phí thu được của nghiệp vụ bảo hiểm gôc lại tiếp tục tăng
song so sánh kế hoạch đề ra với kì thực hiện thì chỉ đạt 109.19% , vượt mức kế
hoạch là 9.19.
Trong những năm qua, kết quả kinh doanh từ những hoạt động của công ty
đã mang lại nguồn thu lớn cho công ty bảo hiểm dầu khí, cho Tổng công ty dầu
khí Việt Nam và cũng như cho ngân sách Nhà Nước thể hiện ở con số thống kê
sau đây:Tổng nộp Tổng công ty dầu khí Việt Nam là gần 2.177 tỉ đồng và tổng
nộp ngân sách Nhà Nước là 41.404 tỉ đồng
Trong điều kiện thị trường cạnh tranh gay gắt không những trong thị trường
trong nước mà cả thị trường quốc tế mà một công ty có mức doanh thu liên tục
tăng đồng nghĩa với việc thị phần cuẩ công ty cũng liên tục tăng lên kể từ khi
thành lập chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Với một công ty mới thành
lập như PVIC điều này còn khẳng định PVIC là một công ty có năng lực, có
phương thức làm ăn đúng đắn và việc thành lập công ty bảo hiểm dầu khí Việt
Nam là điều tất yếu và đúng đắn.
2. Đánh giá chung
Để đánh giá một quốc gia có phát triển hay không người ta thường nhìn vào
lĩnh vực phúc lợi xã hội, đảm bảo xã hội … Một trong những tiêu thức đánh giá
là sự phát triển của lãnh vực bảo hiểm .
tư vốn nhàn rỗi,…cũng như có khả năng tư vấn về các loại hình bảo hiểm, phạm
vi bảo hiểm, các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất,…cho công ty trong
ngành hoạt động chất lượng và hiệu quả. Đồng thời trong nền kinh tế thị trường
bí mất kinh doanh giữ vai trò rất quan trọng đối với cả công ty bảo hiểm chuyên
ngành và công ty trong ngành bởi vì nó quyết định đến lợi thế cạnh tranh trên thị
trường, Việc thành lập công ty bảo hiểm chuyên ngành dầu khí đã đáp ứng được
yêu cầu này.
Vì là thành viên của Tổng công ty dầu khí nên PVIC luôn nhận được sự hỗ
trợ,giúp đỡ của PetroVietnam về vốn, thị trường và các quan hệ hợp tác với các
đơn vị trong ngành. Trong khi các công ty khác phải cạnh tranh gay gắt để giành
giật thị phần bảo hiểm thì PVIC luôn có một thị trường giàu tiềm năng và tương
đối ổn định.
Cùng với lợi thế chuyên ngành và sự nỗ lực của chính mình công ty bảo
hiểm dầu khí đã từng bước phát triển, tự khẳng định mình trong quá trình hoạt
động. Trong 5 năm hoạt động, công ty đã có được thành quả sau:
-Về khai thác : Do đặc trưng của công ty bảo hiểm chuyên ngành, sản
phẩm chủ yếu của công ty là dịch vụ bảo hiểm dầu khí, thế mạnh của công ty
ngoài sự nỗ lực của công ty ra, công ty còn được sự đỡ đầu của Tổng công ty dầu
khí Việt Nam do vậy PVIC được cung cấp thông tin nhanh nhạy, có kế hoạch chủ
động tiếp xúc, giới thiệu vận động các đơn vị chuyên ngành tham gia bảo hiểm.
Cho đến nay PVIC đã khai thác được hầu hết các dự án liên quan đến dầu khí trên
lãnh thổ Việt Nam tập trung chủ yếu vào: bảo hiểm cho các dự án khí, bảo hiểm
tài sản, bảo hiểm trách nhiệm …Bảo hiểm cho các nghiệp vụ tương tự như bảo
hiểm hàng hải. Trong tổng doanh thu của PVIC thì doanh thu từ bảo hiểm hàng
hải đứng thứ hai sau bảo hiểm dầu khí chủ yếu là bảo hiểm cho các sản phẩm vật
chất chuyên ngành
Ngoài ra PVIC còn chủ động khai thác các nghiệp vụ ngoài ngành, có tính
chất kĩ thuật tương tự chuyên môn ngành chính: bảo hiểm cho các công trình lớn
của Tổng công ty xây dựng Vinaconex, Tổng công ty xây dựng Thăng Long …
-Về kinh doanh tái bảo hiểm : Kinh doanh tái bảo hiểm cũng là một nghiệp
2000 là 454453 triệu đồng trong đó tổn thấtphát sinh trong ngành là 33.6295 triệu
đồng chiếm gần 74%. Với con số này ta thấy tỉ lệ bồi thườngtổn thấtvẫn còn ở
mức khả quan
-Về các nguồn lực của PVIC : Trong 5 năm hoạt động số vốn hoạt động
của PVIC tăng là 51 tỉ đồng tăng gấp hơn hai lần so với năm bắt đầu hoạt
động(năm 1996 số vốn kinh doanh của công ty là 22 tỉ đồng ).
Năm 1999 được sự quan tâm của Tổng công ty và hội đồng quản trị thuộc
Tổng công tydầu khí Việt Nam, PVIC đã được cấp vốn để xây dựng nhà 154
Nguyễn Thái Học và đã đi vào hoạt động. Điều này tạo cơ sở thuận lợi cho việc
giao dịch, Marketting và đặc biệt là bắt đầu ổn định kinh doanh.
Nguồn nhân lực của PVIC tương đối dồi dào, đội ngũ cán bộ trẻ năng động
cộng với ban lãnh đạo sáng suốt là tiền đề cho sự phát triển lâu daì của PVIC.
Không dừng lại ở đây, công ty luôn luôn quan tâm đào tạo bổ sung cán bộ chuyên
môn cao đồng thời thường xuyên nâng cao sự hiểu biết của cán bộ công nhân
viên công ty để đáp ứng xu hướng phát triển của thế giới nói chung và của
chuyên ngành nói riêng
III. THỰC TẾ TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM KHỐNG CHẾ GIẾNG
TRONG HOẠT ĐỘNG THĂM DÒ VÀ KHAI THÁC DẦU KHÍ Ở PVIC
Bảo hiểm khống chế giếng là nghiệp vụ quan trọng nhất trong hoạt động bảo
hiểm dầu khí .Ngiệp vụ này ít có nguy cơ rủi ro xong nếu rủi ro xảy ra thì qui mô
cũng như thiệt hại xảy ra rất lớn. Có thể nói nghiệp vụ này có đặc điểm tích tụ rủi
ro vì vậy tỉ lệ phí bảo hiểm đối với mỗi giếng là rất lớn (so với các nghiệp vụ
khác trong lĩnh vực bảo hiểm dầu khí) trung bình là 4.6585.trong đó tỉ lệ phí đối
với các nghiệp vụ khác thường nhỏ hơn 1.
Đây là nghiệp vụ bảo hiểm đặc trưng cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm
của công ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam . Do vậy để đánh giá hiệu quả hoạt động
của công ty người ta sẽ căn cứ vào tình hình hoạt động của lĩnh vực bảo hiểm
khống chế giếng này thông qua các bước :khai thác ,tái bảo hiểm, đề phòng và
hạn chế tổn thất, giám định và bồi thường.
1. Khâu khai thác.
hình bảo hiểm phù hợp
1.5. Hướng dẫn triển khai thực hiện kế hoạch
1.6. Đề ra cá biện pháp hỗ trợ
Tổ chức hội thảo, hội nghị khoa học, hội nghị khách hàngđể giới thiệu
nghiệp vụ mới.
Tổ chức các chương trình giao lưu với khách hàng để xây dựng mối quan hệ
lâu dài đối với khách hàng cũ.
1.7. Tổ chức triển khai
1.7.1. Tìm kiếm khách hàng.
Đối với khách hàng mới, một mặt công ty chủ động gặp gỡ, giới thiệu về
mình một cách trực tiếp hoặc thông qua các tài liệu được công bố rộng rãi, một
mặt để tìm hiểu khách hàng công ty thường đưa ra một bảng hỏi có nội dung như
sau:
- Tên của khách hàng
- Số liệu thống kê tổn thấtcủa khách hàng
- Tính chất công việc kinh doanh hoặc hoạt động
- Chi tiết về nhà thầu
- Tên đội khoan và số năm kinh nghiệm
- Chất lượng giàn khoan để khoan giêng
- Số lượng giếng
- Quyền lợi của khách hàng trong giếng
- Vị trí và độ sâu của giếng
- Loại giếng (giếng khoan thăm dò hay giếng khai thác, giếng dầu hay
giếng khí)
- Thời gian khoan ước tính
- Kĩ thuật khoan (khoan thẳng hay khoan xiên)
- Đặc điểm kết cấu địa chất (kết cấu địa tầng, áp suất…)
Ngoài ra khách hàng chấp nhận bảo hiểm thì khách hàng phải cung cấp
thông tin đầy đủ trong bảng hởi ngoài ra còn phải cung cấp một số thông tin khác
tuỳ thuộc vào loại hình bảo hiểm, hạn mức trách nhiệm … cho phòng bảo hiểm