Nguyn Th Ho
A Giới thiệu đề tài
Tổ tiên của loài ngời đã sống và phát triển luôn gắn với tài nguyên
thiên nhiên từ săn bắt, hái lợm,sống đều phụ thuộc vào thiên nhiên và từng b-
ớc phát triển dựa vào thiên nhiên. Đến nay con ngời đợc xem là động vật
thông minh nhất,phát triển nhất nhng con ngời vẫn phải dựa vào thiên nhiên.
Với xu hớng phát triển kinh tế nh vũ bão với những thành tựu khoa học công
nghệ đã không ngừng nâng cao,cải thiện đời sống của con ngời,đáp ứng ngày
càng đầy đủ cho những yêu cầu khắt khe của con ngời. Nhng theo kinh
nghiệm phát triển trên thế giới cho thấy tăng trởng kinh tế bao giờ cũng làm
tăng sức ép và gây nguy cơ huỷ hoại môi trờng. Con ngời ngày càng đợc thoả
mãn coa hơn về nhu cầu vật chất tinh thần nhờ tăng trởng kinh tế. Nhng cũng
chính tăng trởng kinh tế mà không đi kèm với bảo vệ môi trờng cũng chính là
đào mồ chôn ngời. vì con ngời không thể tồn tại với một môi trờng đầy chất
thải độc hại,với ô nhiễm môi trờng nớc nghiêm trọng,với một lỗ thủng tầng
ozôn
Vì vậy tăng trởng kinh tế và bảo vệ môi trờng sống là vấn đề bức xúc
đang đợc đặt ra không chỉ cho một quốc gia,mỗi tập thể hay một cá nhân mà
đòi hỏi toàn thế giới nhân loại đều phài quan tâm đến. để có sự quan tâm một
cách đúng đắn về vấn đề này thì con ngời không chỉ cần sự quyết tâm cùng
nhau bảo vệ môi trờng sống mà con ngời phải hiểu đợc mối quan hệ giữa môi
trờng sống và tăng trởng kinh tế. Vì chỉ có vậy con ngời mới biết cách phối
hợp hài hoà giữa hai lĩnh vực đó để đảm bảo một cuộc sống tốt đẹp và phát
triển bền vững.
Vấn đề này đã đợc các nhà khoa học, các nhà môi trờng học, kinh tế
học nghiên cứu trên nhiều ph ơng diện khác nhau. Tôi cũng xin đợc đóng
góp một phần của mình thông qua đề tài này với một cái nhìn về phơng diện
triết học. Để xác định đợc mối quan hệ phức tạp giữa tăng trởng kinh tế và
bảo vệ môi trờng nhằm góp phần nhỏ trong việc tìm ra một số biện pháp để
giải quyết tốt mối quan hệ đó và góp một sức nhỏ cho việc xây dựng một
cuộc sống và phát triển bền vững.
Nguyn Th Ho
hệ với nhau tạo thành lịch sử phát triển hiện thực của các sự vật và các quá
trình tơng ứng.
Mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau
giữa các bộ phận giữa các yếu tố, các thuộc tính các mặt khác nhau của một
sự vật,nó giữ vai trò quyết định với sự tồn tại,vận động và phát triển của sự
vật. Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật các hiện tợng khác
nhau. Nói chung,nó không có ý nghĩa quyết định,hơn nữa,nó thờng phải
thông qua mối liên hệ bên trong mà phát huy tác dụng đối với sự vận động và
sự phát triển của sự vật.
Mối liên hệ bản chất và không bản chất, mối liên hệ tất yếu và ngẫu
nhiên cũng có tính chất tơng tự nh đã nêu ở trên,ngoài ra chúng còn có những
nét đặc thù. Chẳng hạn nh cái ngẫu nhiên khi xem xét trong quan hệ này lại
là tất yếu, khi xem xét trong mối quan hệ khác, ngẫu nhiên lại là hình thức
biểu hiện ra bên ngoài của cái tất yếu,hiện tợng là hình thức biểu hiện ít
những mối liên hệ tơng ứng.
Nh vậy,quan điểm duy vật biện chứng sự liên hệ đòi hỏi phải thừa
nhận tính tơng đối trong sự phân loại đó. Các loại liên hệ khác nhau có thể
chuyển hoá lẫn nhau. Sự chuyển hoá nh vậy có thể diễn ra hoặc do thay đổi
phạm vi bao quát khi xem xét,hoặc do kết quả vận động khách quan của
chính sự vật hiện tợng
II. Cơ sở lý luận sự tác động qua lại giữa kinh tế và môi tr-
ờng sinh thái.
Trong ba thập kỷ qua,ngời ta ngày càng quan tâm nhiều hơn tới những
tác động của hoạt động kinh tế và con ngời tới môi trờng sinh thái. Có rất
nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này.
Trớc hết phải nói tới học thuyết về "giới hạn của tăng tởng" theo học
thuyết này,tăng trởng kinh tế gắn liền với sử dụng ngày càng nhiều nguồn tài
nguyên thiên nhiên đặc biệt là nguồn không thể tái tạo đợc. Ngoài ra sản xuất
3
- Nếu các tài nguyên thực sự trở nên hiếm thì theo luật cung cầu giá cả
của chúng sẽ tăng lên và điều này khiến cho con ngời thận trọng hơn khi sử
dụng chúng tiết kiệm chúng hoặc chuyển sang dùng loại thì tài nguyên khác
nhau thay thế. Tuy nhiên điều này chỉ đúng với những tài nguyên có giá đợc
xác định trên cơ sở thị trờng nh than khí đốt, đồng song sẽ không đúng đối
với những tài nguyên không đợc mua bán trên thị trờng nh bầu khí quyển
- Mặc dù dân số thế giới đang tăng lên song tại nhiều quốc gia sự gia
tăng dân số đang có xu hớng giảm đi bảng 1
Bảng 1: Xu hớng tăng dân số thế giới từ năm 1900-2001
Châu lục 19000-2000 2000-2001
Châu Phi 1,9 1,1
Châu á 1,4 0,4
Châu Mỹ La Tinh 2,1 0,8
Châu Âu, Liên Xô cũ, Nhật 0,7 0,1
Bắc Mỹ 1,3 0,2
III. Bảo vệ môi trờng góp phần tạo ra ngành công nghiệp
mới và góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế
Nguy cơ huỷ hoại môi trờng và một khía cạnh đặt biệt quan trọng của
một chính sách phát triển bền vững. Sự quan tâm về môi trờng và ý thức bảo
vệ môi trờng đã tạo ra khả năng thúc đẩy tăng trởng kinh tế và tạo thêm
nhiều công ăn việc làm thông qua quá trình chuyển đổi cơ cấu công nghệ và
kỹ thuật có xem xét dới góc độ môi trờng,thông qua hình thành các ngành
công nghiệp mới - công nghiệp bảo vệ môi trờng cũng nh ngành dịch vụ môi
trờng. Hiện nay ở Mỹ và nhiều nớc thuộc tổ chức OECD nh Đức, Nhật,đã
hình thành ngành công nghiệp dịch vụ và chế tạo thiết bị môi trờng và cạnh
tranh trên lĩnh vực này ngày càng lớn,đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ đang
5
Nguyn Th Ho
tìm cách kiếm chỗ đứng trên thị trờng mới này. Dĩ nhiên ngành công nghiệp
dịch vụ mới này sẽ tạo ra công ăn việc làm mới nhất là tại các Doanh nghiệp