NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH Ở CÁC
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
I. Đặc điểm, vai trò và yêu cầu quản lý TSCĐ trong doanh nghiệp.
1.Khái niệm và đặc điểm TSCĐ
1.1.Khái niệm :
Một bộ phận tư liệu lao động sản xuất giữ vai trò chủ yếu trong quá
trình sản xuất, được coi là cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò cực kỳ quan trọng
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đó là các TSCĐ.
Là những tư liệu lao động (TLLĐ) chủ yếu được sử dụng một cách trực
tiếp hay gián tiếp trong quá trình sản xuất kinh doanh như máy móc, thiết bị,
phương tiện vận tải, nhà xưởng, các công trình kiến trúc, các khoản chi phí
đầu tư mua sắm các TSCĐ vô hình ...trong quá trình đó mặc dù TSCĐ bị hao
mòn nhưng nó vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu. Thông thường, khi
TSCĐ bị hỏng thì được sửa chữa khôi phục để kịp thời sản xuất, chỉ khi nào nó
đã bị hao mòn hư hỏng hoàn toàn hoặc xét thấy không có lợi về mặt kinh tế thì
nó sẽ được đem đi thanh lý hoặc nhượng bán.
Theo quy định mới nhất số: 166 TC/QĐ/CSTC của Bộ tài chính mọi TLLĐ
là từng tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ
phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức
năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống
không thể hoạt động được, nếu thoả mãn đồng thời cả hai tiêu chuẩn dưới đây
:
+ Phải có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
+Có giá trị từ 5.000.000đồng (năm triệu đồng) trở lên
thì được coi là TSCĐ.
Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với
nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu
thiếu một bộ phận nào đó cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt
động chính của nó mà do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải
quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó được coi là một
TSCĐ hữu hình độc lập.
kinh tế quốc dân. Nó thể hiện một cách chính xác nhất năng lực và trình độ
trang bị cơ sở vật chất của mỗi doanh nghiệp. Các TSCĐ được cải thiện đổi
mới và sử dụng có hiệu quả sẽ là một trong những yếu tố quyết định đến sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói
chung.
2.2.Yêu cầu quản lý TSCĐ
Xuất phát từ đặc điểm trên, TSCĐ phải được quản lý chặt chẽ cả về hiện
vật và giá trị:
- Phải quản lý TSCĐ như là yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh góp
phần tạo năng lực sản xuất cho đơn vị do đó kế toán phải cung cấp thông tin
về số lượng tài sản hiện có tại đơn vị, tình hình biến động tăng giảm của TSCĐ
trong đơn vị.
- Cung cấp thông tin về các loại vốn đã đầu tư cho tài sản và chi tiết vốn
đầu tư cho chủ sở hữu, phải biết được nhu cầu vốn cần thiết để đầu tư mới
cũng như để sửa chữa TSCĐ .
- Phải quản lý chặt chẽ tình hình hao mòn tức là phải tính đúng, tính đủ
mức khấu hao tích luỹ từng thời kỳ kinh doanh theo mục đích: thu hồi được
vốn đầu tư hợp lý, khoa học để đảm bảo khả năng bù đắp được chi phí và phục
vụ cho việc tái đầu tư TSCĐ
- Quản lý TSCĐ còn là bảo vệ tài sản cho doanh nghiệp không những
đảm bảo cho TSCĐ “sống” mà là “sống có ích” cho doanh nghiệp đồng thời phải
xác định giá trị còn lại của TSCĐ để giúp cho công tác đánh giá hiện trạng
TSCĐ để có phương hướng đầu tư đổi mới TSCĐ.
2.3.Nhiệm vụ hạch toán TSCĐ trong doanh nghiệp:
Để đáp ứng yêu cầu quản lý, kế toán TSCĐ cần thực hiện tốt các nhiệm
vụ sau:
- Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu một cách chính xác, đầy đủ
về số lượng, hiện trạng và giá trị TSCĐ hiện có, tình hình tăng giảm và di
chuyển TSCĐ trong nội bộ doanh nghiệp, việc hình thành và thu hồi các khoản
đầu tư, bảo quản và sử dụng TSCĐ ở doanh nghiệp
tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính phục vụ
quản lý, thiết bị điện, thiết bị dụng cụ đo lường...
- Vườn cây lâu năm , súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm: là các vườn
cây lâu năm, vườn cà phê , vườn chè, vườn cao su, vườn cây ăn quả, thảm cây
xanh, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm như đàn ngựa , voi, bò....
- Các TSCĐ khác : là toàn bộ các tài sản khác chưa liệt kê vào các loại
trên.
1.1.2.TSCĐ vô hình : là những TSCĐ không có hình thái vật chất , thể hiện
một lượng giá trị đã được đầu tư liên quan trực tiếp đến nhiều chu kỳ kinh
doanh của doanh nghiệp và được phân loại như sau:
- Quyền sử dụng đất: là giá trị đất, mặt nước, mặt biển hình thành do
phải bỏ chi phí để mua, đền bù, san lấp, cải tạo nhằm mục đích có được mặt
bằng SXKD.
-Chi phí thành lập doanh nghiệp: là các chi phí phát sinh để thành lập
doanh nghiệp như chi phí thăm dò, lập dự án đầu tư, chi phí huy động vốn ban
đầu ...
-Bằng phát minh sáng chế: các chi phí doanh nghiệp phải trả cho các
công trình nghiên cứu, sản xuất thử được nhà nước cấp bằng phát minh, sáng
chế hoặc số tiền doanh nghiệp mua lại bản quyền bằng sáng chế, phát minh.
- Chi phí nghiên cứu , phát triển: là các chi phí doanh nghiệp tự thực hiện
hoặc thuê ngoài thực hiện các công trình có quy mô lớn về nghiên cứu, phát
triển lâu dài cho doanh nghiệp.
-Lợi thế thương mại: là các chi phí tính thêm ngoài giá trị các TSCĐ hữu
hình gắn liền do có thuận lợi về vị trí thương mại, sự tín nhiệm với bạn hàng
hoặc danh tiếng của doanh nghiệp.
-TSCĐ khác : bao gồm các loại TSCĐ vô hình khác chưa được quy định
phản ánh ở trên như : quyền đặc nhượng, quyền thuê nhà, bản quyền tác giả,
quyền sử dụng hợp đồng, độc quyền nhãn hiệu hoặc tên hiệu...
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp có các biện pháp quản lý tài sản ,
phương pháp khấu hao và tính toán khấu hoa khoa học, hợp lý đối với từng
3.Thời hạn thuê theo hợp đồng ít nhất phải bằng 3/4(75%) thời gian hữudụng của TSCĐ thuê.
dụng của TSCĐ thuê.
4.Giá trị hiện tại của khoản chi theo hợp đồng ít nhất phải bằng 90% giá trị
4.Giá trị hiện tại của khoản chi theo hợp đồng ít nhất phải bằng 90% giá trịcủa TSCĐ thuê.
của TSCĐ thuê.
TSCĐ thuê tài chính cũng được coi như TSCĐ của doanh nghiệp, được
phản ánh trên Bảng cân đối kế toán và doanh nghiệp có trách nhiệm quản lý,
sử dụng và trích khấu hao như các TSCĐ tự có của doanh nghiệp.
+TSCĐ thuê hoạt động: là TSCĐ thuê không thoả mãn bất cứ điều khoản
nào của hợp đồng thuê tài chính. Bên đi thuê chỉ được quản lý, sử dụng trong
thời hạn hợp đồng và phải hoàn trả cho bên cho thuê khi kết thúc hợp đồng.
Ngoài các cách phân loại nói trên, trong kế toán quản trị còn có các cách
phân loại TSCĐ khác nhằm đáp ứng các yêu cầu quản trị cụ thể của doanh
nghiệp như phân loại TSCĐ theo công dụng kinh tế, phân loại TSCD theo tình
hình sử dụng.
2.Đánh giá TSCĐ
Đánh giá TSCĐ là việc xác định giá trị ghi sổ của TSCĐ tại từng thời
điểm nhất định. Xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu quản lý TSCĐ trong quá
trình sử dụng, TSCĐ được đánh giá theo nguyên giá, giá trị hao mòn, giá trị
còn lại
2.1.Nguyên giá TSCĐ
Nguyên giá TSCĐ (còn gọi là giá trị ghi sổ ban đầu) là toàn bộ các chi phí
bình thường và hợp lý mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có tài sản đó và đưa
định một lần khi tăng TSCĐ và không thay đổi trong suốt thời gian tồn tại của
TSCĐ ở doanh nghiệp, trừ các trường hợp sau :
+ Đánh giá lại TSCĐ
+ Xây dựng, trang bị thêm TSCĐ
+ Cải tạo, nâng cấp làm tăng năng lực hoạt động và kéo dài tuổi thọ của
TSCĐ
+ Tháo dỡ bớt các bộ phận làm giảm nguyên giá TSCĐ
2.2.Đánh giá theo giá trị đã hao mòn
Trong quá trình sử dụng và bảo quản TSCĐ bị hao mòn do đó hao mòn
TSCĐ là một tất yếu khách quan trong quá trình sử dụng, nó làm giảm giá trị
và giá trị sử dụng TSCĐ. Phần giá trị của TSCĐ tương ứng với mức hao mòn
đó được tính như một khoản chi phí và được ghi nhận vào giá thành sản
phẩm, chi phí kinh doanh để thu hồi lại vốn đầu tư ban đầu. Quá trình ghi
nhận giá trị giảm dần đó của TSCĐ trong mỗi năm sử dụng được gọi là khấu
hao TSCĐ. Sau khi sản phẩm, hàng hoá được tiêu thụ số tiền khấu hao được
trích lại và tích luỹ thành quỹ khấu hao TSCĐ
*Các phương pháp khấu hao TSCĐ
Có nhiều phương pháp khấu hao TSCĐ được áp dụng rộng rãi và phổ biến
trên thế giới, đặc biệt ở các nước có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, các
doanh nghiệp Việt nam hiện nay chủ yếu áp dụng một phương pháp - phương
pháp khấu hao bình quân (phương pháp khấu hao tuyến tính )
Phương pháp này là bắt buộc đối với các doanh nghiệp nhà nước theo Quyết
định 166 BT- BTC ban hành ngày 30/12/1999 thay cho Quyết định 1062 ban
hành ngày 14/11/1996.
-Phương pháp khấu hao(KH) tuyến tính
KH bình quân năm = nguyên giá TSCĐ tỷ lệ khấu hao
1
Tỷ lệ khấu hao = 100%
Số năm sử dụngTSCĐ
KH bình quân năm
2.3.Đánh giá theo giá trị còn lại của TSCĐ
Giá trị còn lại (còn gọi là giá trị kế toán) của TSCĐ là hiệu số giữa
nguyên giá TSCĐ và số khấu hao luỹ kế
Giá trị còn lại = Nguyên giá - Khấu hao luỹ kế
Trường hợp nguyên giá TSCĐ được đánh giá lại thì giá trị còn lại của
TSCĐ cũng được xác định lại.
Thông thường, giá trị còn lại của TSCĐ sau khi đánh giá lại được điều
chỉnh theo công thức:
Giá trị còn lại của Giá trị còn lại Giá trị đánh giá lại của TSCĐ
TSCĐ sau khi của TSCĐ
đánh giá lại đánh giá lại Nguyên giá của TSCĐ
Ngoài phương pháp chuẩn nói trên, ở chuẩn mực 16 còn quy định phương
pháp thay thế được chấp nhận:
Giá trị còn lại = Giá trị đánh giá lại - Khấu hao luỹ kế
III. Kế toán TSCĐ tại các doanh nghiệp theo chế độ hiện hành.
1.Kế toán chi tiết TSCĐ:
Kế toán chi tiết TSCĐ là công việc không thể thiếu được trong quản lý
TSCĐ ở doanh nghiệp. TSCĐ là cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng đối với hoạt
động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp, do đó cần phải quản lý chặt
chẽ và phát huy được hiệu quả cao nhất trong quá trình sử dụng TSCĐ, vì vậy
trong công tác quản lý cần phải thực hiện các yêu cầu sau:
-Nắm chắc được toàn bộ TSCĐ hiện có đang sử dụng ở doanh nghiệp cả
về hiện vật và giá trị .
-Nắm được tình hình sử dụng TSCĐ trong bộ phận của doanh nghiệp .
Tổ chức công tác kế toán chi tiết TSCĐ trong DN bao gồm các công việc đánh số
hiệu TSCĐ và thực hiện kế toán chi tiết TSCĐ ở bộ phận kế toán các địa điểm
sử dụng
1.Đánh số: là quy định cho mỗi TSCĐ số hiệu tương ứng theo những nguyên
tắc nhất định. Nhờ có đánh số TSCĐ mà thống nhất được giữa các bộ phận liên
quan trong việc theo dõi và quản lý sử dụng TSCĐ theo các chỉ tiêu quản lý tiện