Thực trạng và nguyên nhân của thực trạng hoạt động quảng cáo panô
tấm lớn của công ty quảng cáo Bình Minh:
2.1 Môi trường kinh doanh , nguồn lực của công ty quảng cáo Bình Minh
2.1.1 Nguồn nhân lực :
Như trên đã trình bày công ty có được thành công lớn như ngày hôm nay phải kể
đến sự lãnh đạo sáng suốt và nhiệt tình của hai vị giám đốc công ty là : ông Đinh Chí
Dũng và bà Bùi Thị Kim Nga, cùng với một đội ngũ nhân viên trẻ làm việc năng động
nhiệt tình , những con người luôn hết lòng vì sự phát triển của công ty
2.1.2 Nguồn lực về tài chính của công ty :
Khi mới thành lập số vốn điều lệ của công ty chỉ ít ỏi khoảng vài trăm triệu đồng
từ tiền góp vốn thành lập công ty của các cổ đông. Nhưng sau 10 năm hoạt động trên
thị trường với sự nỗ lực không ngừng , đến nay Bình Minh đã trở thành công ty quảng
cáo lớn với tiềm lực tài chính mạnh mẽ , điều này thể hiện qua doanh thu và lợi nhuận
hàng năm của công ty :
Năm
tổng doanh thu
(đồng )
tổng chi phí
(đồng )
lợi nhuận trước
thuế (đồng )
2001 2.251.700.000 1732076000 519624000
2002 2.883.250.000 2217884000 665366000
2003 3.627421.000 2790324000 837097000
2004 4.264790.000 3280607000 984183000
2005 5.360.600.000 4123538000 1237062000
2.1.2.1 Tài sản cố định :
Có thể nói rằng phần tài sản cố định chiếm một tỷ lệ không lớn lắm trong tổng
lượng tài sản của công ty , nó chủ yếu là các phương tiện làm việc của nhân viên bao
gồm : máy vi tính , máy tính xách tay , máy in màu , máy in khổ A3, máy fax, máy
cắt , máy scan , và một số máy điện thoại cố định …
này đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam bước vào một sân chơi lớn với
nhiều thách thức hơn nữa , đồng thời cũng tạo nhiều điều kiện giúp cho các doanh
nghiệp Việt Nam có thể vươn lên tầm cỡ thế giới và khu vực
Chính vì những nguyên nhân trên mà đầu tư trực tiếp của các tập đoàn nước
ngoài vào Việt Nam trong năm qua đã tăng mạnh và dự báo trong năm 2007 này sẽ
còn tăng nhiều hơn ,các chủ đầu tư vào Việt Nam nhiều nhất hiện nay có lẽ là Nhật
Bản và Hàn Quốc ,rất nhiều dự án hàng tỷ đôlla của 2 quốc gia này đang chờ được cấp
phép để có thể khởi công tại Việt Nam trong năm 2007 như dự án xây khách sạn trên
500 triệu USD của Hàn Quốc và dự án trên 1 tỷ USD của Nhật Bản đều là đầu tư tại
Hà Nội . Tính chung trong năm vừa qua cả vốn cấp mới và vốn tăng thêm đạt khoảng
5.74 tỷ USD đây là một con số thể hiện sự thu hút FDI là khá lớn của Việt Nam
Và một thực tế hiển nhiên rằng các công ty vào kinh doanh tại Việt Nam sẽ phải
đối mặt với hình thức cạnh tranh khốc liệt trên thị trường đầy tiềm năng này và giải
pháp đầu tiên sẽ phải là quảng cáo tên tuổi của mình và những sản phẩm dịch vụ mà
mình sẽ cung cấp trên thị trường . Trong trường hợp này quảng cáo ngoài trời đã tỏ ra
hết sức hiệu quả và có khả năng phát triển mạnh để đáp ứng nhu cầu đó , bởi hiệu qủa
mà những panô, tấm lớn đem lại là rất cao và chi phí lại thấp
2.1.3.2 Môi trường nhân khẩu học :
Dân số Việt Nam tính đến cuối năm 2006 ước tính đạt khoảng 84 triệu người ,
mức tăng dân số trung bình hàng năm đạt 1.3%, với những con số này đã nói lên Việt
Nam là quốc gia đông dân thứ hai trong khu vực Đông Nam Á trong đó tỷ lệ người
trong độ tuổi lao động chiếm trên 50% , con số này đã cho thấy Việt Nam là một quốc
gia dân số trẻ , tiềm lực lao động dồi dào ,và cũng cho thấy một tiềm năng thị trường
lớn , có nhiều triển vọng trong tuơng lai
Thứ hai nếu xét về tính cách thì người Việt Nam có xuất thân từ nông nghiệp nên
bản tính hết sức cần cù , chuị khó , luôn có ý trí quyết tâm vươn lên trong cuộc sống
.Tỷ lệ biết chữ của người dân Việt Nam là khá cao , trên 90% dân số biết đọc , biết
viết , số luợng trường học đạt tiêu chuẩn quốc gia ngày càng nhiều : năm 2006 cả nước
có trên 240000 phòng học tiểu học đạt chất lượng tăng 1.6% so với năm trước ,
140000 phòng học cơ sở tăng 9%, và hơn 60000 phòng học phổ thông , 149 trường
sung kiến thức về công nghệ cho bản thân công ty mình .Sự phát triển của cơ sở hạ
tầng, phương tiện truyền thông cũng giúp cho sự lớn mạnh không ngừng của ngành
này .
Hiện nay với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin và internet đã
giúp cho các công ty quảng cáo có thể tiếp cận dễ dàng hơn với công nghệ quảng cáo
của các công ty nước ngoài , cũng như tạo ra được những mẫu thiết kế ngoài trời chuẩn
hơn và đa dạng hơn ,
Ngoài ra sự phát triển của công nghệ giúp tạo ra những loại vật liệu mới ,gam
màu mới , thúc đẩy quá trình sản xuất panô, tấm lớn nhanh chóng hơn, đáp ứng được
yêu cầu về thời gian và chất lượng của thời kì công nghiệp hoá
2.2 Quản trị quảng cáo panô, tấm lớn của công ty quảng cáo Bình Minh :
2.2.1 Qúa trình hình thành một biển quảng cáo tấm lớn của công ty quảng cáo
Bình Minh :
Qúa trình hình thành một biển qunảg cáo panô, tấm lớn ngoài trời là một quá trình
phức tạp và phải trải qua rất nhiều công đoạn khác nhau mới có thể hoàn thành và cho
khách hàng thuê để quảng cáo . Tuy nhiên bất kì một biển quảng cáo ngoài trời của một
công ty quảng cáo nào được dựng lên cũng phải trải qua các bước cơ bản sau:
Tìm kiếm khách hàng có nhu cầu quảng cáo ngoài trời
Kí kết hợp đồng với khách
Xác định , khảo sát vị trí đặt biển tấm lớn
thiết kế marketgửi khách hàng duyệt
chuyển giao sản phẩm tới vị trí cần đặt biển
sản xuất biển tấm lớn theo đúng market
Trên đây chính là sơ đồ quá trình hình thành một biển quảng cáo tấm lớn
Tuy nhiên trên sơ đồ đã chưa thể hiện được hết những vấn đề chúng ta cần nêu
trong quản trị quảng cáo panô, tấm lớn đó là :
-Bước 1 : Tìm kiếm khách hàng có nhu cầu quảng cáo biển tấm lớn luôn là một
yêu cầu cần thiết cho cả những công ty quảng cáo thuần tuý và những công ty kinh
Thanh toán với khách hàng và một số
chi phí phát sinh
hiện nay trên thị trưòng