luận văn tốt nghiệp
Lời nói đầu
Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy rằng,đờng lối
phát triển kinh tế là yếu tố đầu tiên quyết định sự thành bại trong quá trình phát
triển kinh tế của đất nớc.Thực tế cho thấy chính phủ các nớc NICs,châu á,sau
gần một thập kỷ thực hiện chiến lợc thay thế nhập khẩu,đã nhận ra đợc những
mặt hạn chế của nó,và ngay thập kỷ 60 đã có sự chuyển hớng chiến lợc.Với
khoảng thời gian 25-30 năm họ đã đa đất nớc trở thành những con rồng châu
á.
Đối với Việt Nam,đứng trớc tình hình nền kinh tế trong nớc và xu hớng
hội nhập nền kinh tế toàn cầu.Vấn đề đặt ra là cần có sự lựa chọn thích hợp cho
mình một đờng lối phát triển, nhằm đạt đợc một mục tiêu đề ra. Đảng và nhà n-
ớc ta đã có chính sách hớng ngoại nhằm thúc đẩy xuất khẩu những mặt hàng
chủ lực, đa đất nớc tiến lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thúc đẩy xuất khẩu
mặt hàng thủ công mỹ nghệ cũng không nằm ngoài vấn đề đó. Mặt hàng này
ngày càng đợc thị trờng thế giới a chuộng. Xuất khẩu mặt hàng này tạo quan hệ
giao lu văn hoá giữa các dân tộc, quốc gia trên thế giới, đồng thời thu nguồn
ngoại tệ đáng kể, thúc đẩy các làng nghề truyền thống phát triển, giải quyết việc
làm cho ngời lao động, tăng thu nhập cho ngời dân, từ đó cải thiện từng bớc nhu
cầu cuộc sống hàng ngày của ngời lao động thúc đẩy sự phát triển kinh tế của
xã hội Việt Nam. Chính vì những lý do trên mà em chọn đề tài Một số giải
pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam thời kỳ
2001-2010 góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự phát triển kinh tế
xã hội của đất nớc. Trong quá trình hoàn thành bài viết, việc nghiên cứu, học
hỏi và kiến thức thực tế còn hạn chế, mong sự giúp đỡ của các thầy cô trong
khoa cũng nh cán bộ hớng dẫn nơi cơ quan thực tập. Đặc biệt em xin chân
thành cảm ơn sự giúp đỡ của giáo viên hớng dẫn GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng và
cán bộ hớng dẫn cơ quan thực tập Vụ kế hoạch thống kê Bộ Thơng mại TS
Hoàng Thịnh Lâm đã giúp em hoàn thành luân văn tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Vũ Thế Lợng - Kinh tế phát triển 41A
Vũ Thế Lợng - Kinh tế phát triển 41A
2
luận văn tốt nghiệp
Những yêu cầu và đòi hỏi về chất lợng, mẫu mã, kiểu dáng của từng loại hàng
thủ công mỹ nghệ cùng với điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề của từng nghệ
nhân cũng khác nhau. Điều này làm xuất hiện nhiều làng nghề truyền thống và
mỗi làng nghề lại hình thành nên các cơ sở sản xuất chuyên môn hoá việc sản
xuất những sản phẩm mà mình có lợi thế. Các làng nghề phát triển mạnh sẽ lan
sang các làng bên cạnh và trở thành xã nghề rộng lớn. Hàng thủ công mỹ nghệ
là mặt hàng truyền thống của dân tộc. Nguồn này đã có ơ Việt Nam rất lâu,
cùng với thời gian nó đá phát triển ra nhiều vùng trên khắp đất nớc với đông đảo
đội ngũ thợ có tay nghề cao đợc truyền từ đời này qua đời khác (cha truyền con
nối). Nhứng sản phẩm thủ công mỹ nghệ đợc sản xuất ra đẹp về màu sắc, phong
phú về chủng loại và bây giờ nó đang là những sản phẩm có giá trị cao. Đặc biệt
là các mặt hàng:
- Hàng cói mây
- Hàng sơn mài mỹ nghệ
- Hàng gốm sứ
- Hàng thêu ren
- Hàng gốm mỹ nghệ
Sản phẩm của những ngời thợ chế tạo ra là kiệt tác nghệ thuật vì ngời sản
xuất không chỉ thao tác các quá trình công nghệ mà còn sáng tạo nữa. Một số
làng nghề nhờ năng động, sản xuất hiệu quả đã có tích luỹ, mạnh dạn đầu t mua
sắm các trang thiết bị máy móc.
Các hình thức tổ chức sản xuất trong một số làng nghề đang phát triển đa
dạng. Từ các hộ t nhân, một số hộ đã tập hợp lại để hình thành các hợp tác xã,
tổ hợp sản xuất nhằm tăng cờng năng lực sản xuất, trang thiết bị máy móc. Một
số hộ có vốn có kỹ năng sản xuất, có kinh nghiệm đã thành lập các xí nghiệp t
nhân, công ty TNHH, .làm cho các tổ chức trong các làng nghề phong phú.
Giữa các hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề đã có mối quan hệ hợp
thời điểm khác nhau.
Tính chất của từng mặt hàng khác nhau, điều đó thể hiện trên từng sản
Vũ Thế Lợng - Kinh tế phát triển 41A
4
luận văn tốt nghiệp
phẩm, mỗi một sản phẩm mang dáng dấp một tác phẩm của trí tuệ về thẩm mỹ
và dấu ấn của từng thời đại. Những nét văn hoa hay kỹ năng kỹ xảo tinh hoa đ-
ợc thiết kế trên hàng thủ công mỹ nghệ đã thể hiện nét đặc trng tâm hồn của
mỗi nghệ nhân.
* Ưu điểm của sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
- S ản phẩm có tính truyền thống, mang đậm đà bản sắc dân tộc.
- Chủ yếu sản xuất trong các làng nghề truyền thống.
- Sản xuất bằng nguyên liệu sẵn có trong nớc.
- Nguyên liệu phụ cho sản xuất rất ít không đáng kể.
- Thuận nợi cho huy động nguồn lao động dồi dào cho sản xuất
- Đầu t cho sản xuất thấp.
- Tăng thu nhập cho ngời dân
- Đợc nhiều khách hàng trên thế giới a chuộng nên có tiềm năng rất lớn về
thị trờng xuất khẩu góp phần vào thu ngoại tệ đáng kể, giải quyết tình trạng
thiếu ngoại tệ mạnh phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nớc.
Việc sản xuất không đòi hỏi lợng vốn ban đầu và cơ sở vật chất lớn chỉ
cần vài hộ nông dân hợp lại là có thể đứng tên thành một tổ hợp sản xuất. Điều
này có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi mà các đơn vị kinh
doanh của nớc ta hiện nay đang có nhiều khó khăn về vốn.
Nớc ta là nớc nông nghiệp (80% dân số làm nghề trồng trọt) thì hàng thủ
công mỹ nghệ sẽ giải quyết đợc thời gian nhàn rỗi của ngời nông dân. Tận dụng
thời gian chờ vụ thu hoạch mới, có việc làm tại chỗ, vừa tận dụng nguyên nhiên
liệu phong phú, rẻ, vừa huy động sức lao động tạo nên thu nhập đáng kể cho ng-
ời dân. Đó là những thế mạnh tiềm năng rất lớn của ngành nghề này. Đảng và
nhà nớc đã nhận thức đúng đắn và có chính sách phù hợp để phát triển mặt hàng
tơng đối quan trọng. Mọi cơ hội tiếp cận đầu t hay vay nợ nớc ngoài chỉ tăng
Vũ Thế Lợng - Kinh tế phát triển 41A
6
luận văn tốt nghiệp
khi chủ đầu t hay ngời cho vay nợ thấy khả năng xuất khẩu của nớc đó vì đây là
nguồn chính đảm bảo khả năng trả nợ.
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ cũng góp phần thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Thực tế cho thấy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ cũng góp phần làm
chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế của Việt Nam nói riêng và của các quốc gia
đang phát triển nói chung từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.
Tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đợc
nhìn nhận từ hai khía cạnh sau:
Chỉ xuất khẩu những mặt hàng thủ công mỹ nghệ mà đợc coi là vợt quá
mức tiêu dùng nội địa. Điều này có nghĩa là nền kinh tế quy mô nhỏ và lạc hậu,
sản xuất còn cha đủ tiêu dùng thì xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ chỉ bó hẹp
trong một phạm vi nhỏ và tăng trởng chậm nếu không muốn nói là không thể
tăng trởng, không phát huy đợc lợi thế của quốc gia. Do đó, các ngành sản xuất
kinh doanh không có cơ hội để phát triển và mở rộng.
Coi thị trờng thế giới là mục tiêu để tổ chức sản xuất, coi trọng xuất khẩu,
quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển
sản xuất.
-Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tạo điều kiện mở rộng thị trờng sản
phẩm, tạo lợi thế nhờ quy mô và các lợi thế vốn có của quốc gia.
-Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tạo điều kiện cho các ngành cùng có
điều kiện và cơ hội phát triển.
-Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá,
tăng cờng hiệu quả sản xuất của các quốc gia bởi khi khoa học công nghệ ngày
càng phát triển thì phân công lao động ngày càng sâu sắc.
-Thông qua xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, các doanh nghiệp trong nớc
ăn việc làm và tăng thu nhập chính đáng cho lao động trong nớc, góp phần xoá
đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề nhàn c, nhất là trong lớp trẻ có tác dụng tích
cực đẩy lùi các hiện tợng tiêu cực, các tệ nạn xã hội, góp phần đảm bảo trật tự
Vũ Thế Lợng - Kinh tế phát triển 41A
8
luận văn tốt nghiệp
an ninh xã hội, nhất là trong điều kiện hiện nay thất nghiệp còn nhiều thì ý
nghĩa chính trị xã hội của vấn đề trên càng lớn. Trong quá trình phát triển và
xuất khẩu các loại hàng hoá này không những thu hút hàng triệu lao đông
không có việc làm ở thành thị và nông thôn mà còn tạo cơ hội sử dụng và đào
tạo các nghệ nhân, thợ giỏi có tay nghề và kỹ xảo truyền thống góp phần bảo
tồn phát triển và truyền lại cho đời sau vốn qúi nghề nghiệp này của dân tộc.
-Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ ra nớc ngoài các doanh nghiệp xuất
khẩu đã thực hiện tăng cờng giao lu văn hoá với các nớc, giao lu thành quả của
các nghệ nhân, giao lu văn hoá dân tộc và giao lu truyền thông quí báu của dân
tộc Việt Nam.
-Xuất khẩu tạo ra nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêu dùng đáp ứng
nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của nhân dân.
-Ngân sách nhà nớc cũng có thêm nguồn thu nhờ thuế xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ.
-Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy phát
triển các mỗi quan hệ kinh tế đối ngoại.
-Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại
khác có sự tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau từ đó thúc đẩy các mối quan hệ
khác, ngợc lại sự phát triển các ngành này tạo điều kiện cho xuất khẩu hàng thủ
công mỹ nghệ càng phát triển hơn.
III. nội dung của hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ
1. Sự cần thiết xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
Kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là một khâu của quá trình
đến sản xuất bị thu hẹp, lao động không có việc làm, việc chuyển đổi thị trờng
đòi hỏi thời gian tìm kiếm bạn hàng mới, thị trờng mới. Sau vài năm lao đao
trong cơ chế mới, dần dần một số ngành nghề tìm đợc lối thoát, khôi phục và
phát triển phục vụ cho cả tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu.Vừa qua năm 2000
kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt khoảng 120 triệu USD, vì vậy thấy đợc
Vũ Thế Lợng - Kinh tế phát triển 41A
10
luận văn tốt nghiệp
tầm quan trọng của việc xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ các doanh nghiệp
cần tranh thủ và tận dụng mọi khả năng để mở rộng thị trờng và tìm kiếm khách
hàng đáp ứng ngời tiêu dùng cả trong nớc và ngoài nớc về mẫu mã, chất lợng.
Chính phủ cần có chính sách phù hợp khuyến khích xuất khẩu mặt hàng này.
Giải quyết đợc vấn đề này có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế xã hội nớc ta,
ngoài ra nhu cầu thế giới về mặt hàng này ngày càng cao vẻ đẹp của hàng thủ
công mỹ nghệ mang đậm tính dân tộc văn hoá của đất nớc.
2. Nội dung của hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ cũng là một hoạt động kinh doanh bao
gồm nhiều công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn lại mang những đặc trng riêng.
Vì vậy hoạt động xuất khẩu phức tạp hơn nhiều so với hoạt động thơng mại
trong nớc.
a) Nghiên cứu thị trờng xuất khẩu mặt hàng này.
Thị trờng là yếu tố sống còn và là yếu tố vận động không ngừng, vì vậy bất
kỳ doanh nghiệp nào cũng phải nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu để chỉ ra phơng
thức hoạt động của nó nh thế nào cho phù hợp để từ đó doanh nghiệp có đối
sách thích hợp trong quá trình xuất khẩu sang từng loại thị trờng. Hoạt động
nghiên cứu thị trờng này bao gồm:
- Nghiên cứu môi trờng.
Điều này thể hiện việc nghiên cứu môi trờng kinh tế, môi trờng văn hoá-
xã hội, môi trờng chính trị, hệ thống luật pháp, môi trờng công nghệ.
- Nghiên cứu giá cả hàng hoá.
- Thực hiện hợp đồng xuất khẩu.
Sau khi hợp đồng đợc ký kết, doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu với t
cách là một bên của hợp đồng phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Nó đòi hỏi
phải tuân thủ luật quốc gia và quốc tế, đồng thời đảm bảo đợc quyền lợi quốc
gia và uy tín kinh doanh của doanh nghiệp.
Vũ Thế Lợng - Kinh tế phát triển 41A
12
luận văn tốt nghiệp
3) Những yếu tố tác động đến hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ
* Tình hình kinh tế trong nớc và định hớng xuất khẩu của chính phủ.
Hoạt động xuất khẩu đơng nhiên phụ thuộc vào tiềm lực sản xuất trong n-
ớc và định hớng của chính phủ, coi trọng sản xuất tiêu dùng trong nớc hay hớng
về xuất khẩu. Nếu chính phủ coi trọng chính sách về xuất khẩu thì khi đó hoạt
động xuất khẩu mới phát triển.
* Các công cụ chính sách.
Các công cụ chính sách bao gồm thuế quan xuất khẩu, các nhân tố phi
thuế quan.
- Thuế quan xuất khẩu.
Thuế quan xuất khẩu làm tăng thu cho ngân sách nhng nó lại làm cho giá
cả quốc tế của hàng hoá bị đánh thuế quan cao hơn mức giá cả trong nớc. Tác
đông của thuế quan xuất khẩu nhiều khi mang đến bất lợi cho khả năng xuất
khẩu do qui mô xuất khẩu của một nớc là nhỏ so với dung lợng của thị trờng thế
giới, thuế xuất khẩu là hạ thấp tơng đối mức giá cả trong nớc của hàng thủ công
mỹ nghệ có thể xuất khẩu xuống so với mức giá cả quốc tế và sẽ làm giảm sản
lợng trong nớc của mặt hàng có thể xuất khẩu, sản xuất trong nớc sẽ thay đổi
bất lợi đối với mặt hàng xuất khẩu. Mặt khác việc duy trì một mức thuế xuất
khẩu cao trong một thời gian dài sẽ làm lợi cho những đối thủ cạnh tranh. Tóm
lại thuế xuất khẩu cao sẽ làm hạn chế hoạt động xuất khẩu và ngợc lại thuế xuất
khẩu thấp sẽ tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu.
trở lên đắt tơng đối so với mức giá chung thế giới dẫn đến số lợng hàng thủ
công mỹ nghệ sẽ giảm đi. Lúc này sẽ cần đến sự điều chỉnh của chính phủ.
* Quan hệ kinh tế quốc tế.
Rõ ràng là quan hệ kinh tế quốc tế ảnh hởng đến hoạt động xuất khẩu nói
chung và hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng. Ta có thể lấy
ví dụ IRAQ khi bị cấm vận về kinh tế, không có một mối liên hệ kinh tế nào với
thế giới bên ngoài do đó cũng không có hoạt động xuất khẩu gì, dẫn đến tình
Vũ Thế Lợng - Kinh tế phát triển 41A
14
luận văn tốt nghiệp
hình kinh tế trong nớc vồ cùng khó khăn. Một nớc có mối quan hệ tốt với thế
giới bên ngoài thì hoạt động xuất khẩu sẽ phát trển.
* Yều tố chính trị.
Chế độ chính trị là khá quan trọng trong mối quan hệ hợp tác giữa các nớc.
Từ yếu tố chính trị mà chính phủ một nớc sẽ có những định hớng khuyến khích
hay ngăn cản giao lu thơng mại với một nớc khác. Điều này ảnh hởng đến hoạt
động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
* Thực trạng khoa học công nghệ.
Khoa học công nghệ là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu
quả sản xuất và chất lợng sản phẩm. Khoa học công nghệ ngày càng hiện đại thì
chất lợng sản phẩm và hiệu quả sản xuất càng đợc nâng cao tạo điều kiện cho
hoạt động xuất khẩu
Vũ Thế Lợng - Kinh tế phát triển 41A
15
luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG II: Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ của Việt Nam trong thời gian qua
I. quá trình sản xuất và tổ chức tiêu thụ hàng thủ
công mỹ nghệ của Việt Nam trong những năm qua
1. Qúa trình sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ.
thuận với chất lợng đầu ra. Theo thông tin của thơng vụ thì nguyên liệu đầu vào
ngày nay cung cấp không ổn định thậm chí còn phải mua với giá đắt nếu nh
không muốn nói là còn mua những nguyên liệu cấm.Từ đó nâng cao chi phí
sản xuất cũng nh giá thành sản phẩm bất lợi cả cho ngời sản xuất và tiêu
dùng.Vì vậy cần có những chính sách cung cấp nguyên liệu đầu vào đề ra cho
những đơn vị sản xuất mặt hàng thủ công mỹ nghệ điều đó đáp ứng nhu cầu mặt
hàng này đảm bảo về số lợng và chất lợng nâng cao thơng hiệu kinh doanh từ
đó thúc đẩy phát triển các làng nghề góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội
đất nớc.
Quá trình sản xuất chính cần đòi hỏi cung cấp đầy đủ nguyên liệu đầu vào
cũng nh các nghệ nhân, thợ giỏi có tay nghề cộng với trí sáng tạo để làm ra
những sản phẩm có giá trị tinh hoa văn hoá của dân tộc, tạo tiền đề giao lu văn
hoá giữa các dân tộc trên thế giới.
Khâu phụ chế, gia công cũng là khâu rất quan trọng trong quá trình sản
xuất. Để tạo ra sản phẩm phong phú đa dạng về màu sắc, kiểu dáng và có tính
nghệ thuật cao cần đòi hỏi có tính sáng tạo gia công dày và tính kiên trì trong
quá trình làm việc. Chẳng hạn nh việc pha màu cho gia công hàng gốm sứ cần
đòi hỏi đúng kỹ thuật, công thức.
Cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ thờng đợc bố trí gần nguồn nguyên
liệu, hàng thủ công mỹ nghệ cũng đợc sản xuất chủ yếu bằng nguyên vật liệu
sẵn có nên giảm bớt nhu cầu nhập khẩu nguyên phụ liệu cho sản xuất.
Vũ Thế Lợng - Kinh tế phát triển 41A
17
luận văn tốt nghiệp
Không phải nh các ngành nghề khác, ngành hàng thủ công mỹ nghệ sử
dụng lao động thủ công là chính. Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ thu hút đợc
nhiều lao động trong đó có số lợng đáng kể là nông nhàn, tạo việc làm và tăng
thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo cho dân c. Do việc sản xuất còn theo
tính chất rập khuôn nên không những sản phẩm tạo ra tuy đáp ứng
Để tạo ra nguồn thu ngoại tệ và sản phẩm đợc giao lu trên khắp thế giới thì
phát và kích cầu ngời tiêu dùng đảm bảo phát triển và ổn định nền kinh tế đất n-
ớc.
b) Tổ chức thu mua
Công tác tổ chức thu mua là một công đoạn quan trọng trong nghiệp vụ
hoạt động xuất khẩu. Hàng xuất khẩu là một mặt hàng đặc biệt phải đợc thị tr-
ờng các nớc a chuộng, để có hiệu quả trong việc sản xuất và xuất khẩu mặt
hàng thủ công mỹ nghệ này cần có cơ chế tổ chức thu mua đúng lúc, đúng chỗ,
đầy đủ, kịp thời.
Bên cạnh đó quan hệ với các đơn vị ngoại thơng và các đơn vị sản xuất,
thu mua, cung ứng hàng xuất khẩu còn áp dụng phơng thức thu mua nh liên
doanh liên kết, phơng thức thu mua đứt bán đoạn.
* Phơng thức liên doanh liên kết
Phơng thức liên doang liên kết mà các đơn vị ngoại thơng thực hiện nhằm
khai thác thế mạnh đồng thời tận dụng cơ hội mỗi bên tham gia nh cơ sở sản
xuất có nhà xởng, kỹ thuật và đội ngũ công nhân có tay nghề cao còn các đơn vị
ngoại thơng có thị trờng tiêu thụ ở nớc ngoài, có kinh nghiệm giao dịch, đấu
tranh bán đợc giá cao mà hai bên đợc hởng, qua đó đẩy mạnh đợc kim ngạch
xuất khẩu, tạo công ăn việc làm, mang lại lợi nhuận cho các bên tham gia cam
kết.
* Phơng thức thu mua đứt bán đoạn
Đây là phơng thức thu mua đợc áp dụng phổ biến trong nhiều năm qua của
các đơn vị ngoại thơng thu mua hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu.Vấn đề cơ
bản của phơng thức thu mua này là trách nhiệm đối với chất lợng, số lợng, giá
Vũ Thế Lợng - Kinh tế phát triển 41A
19
luận văn tốt nghiệp
cả hàng hoá đợc xác định ngay tại thời điểm mua bán. Sau khi có phiếu nhập
kho, địa phơng hoàn toàn không chịu trách nhiệm về hàng hoá đó.
Khi đó áp dụng phơng thức thu mua này các đơn vị ngoại thơng triển khai
kiểm tra chất lợng và số lợng rất kĩ lỡng song không vì thế mà việc thu mua
2005 với mức tăng trởng trung bình 15-20% có thể đạt mục tiêu cho kim ngạch
xuất khẩu năm 2005 vào khoảng 150 triệu USD. Trớc đây, chủ yếu xuất khẩu
hàng ra nớc ngoài theo công thức hàng đổi hàng và tính cạnh tranh của mặt
hàng này cha cao nên sản phẩm còn quá đơn điệu về mẫu mã, kiểu dáng ít thay
đổi và chất lợng cha cao. Song từ năm 1989 trở lại đây, do thị trờng chính là
Liên Xô tan rã và mặt hàng gỗ mỹ nghệ( đặc biệt là sơn mài mỹ nghệ) chậm
thay đổi, mặt khác yêu cầu của khách hàng ngày càng cao nên tỷ trọng tiêu thụ
mặt hàng này cha cao. Tuy nhiên một vài năm gần đây đã tăng lên nhng không
đáng kể.
Biểu 1: Gía trị xuất khẩu sản phẩm gỗ một số năm gần đây
Năm
Trị giá xuất khẩu
gỗ gia dụng
(triệu USD)
Trị giá xuất khẩu
gỗ mỹ nghệ(triệu
USD)
Tổng tỉ trọng gỗ
mỹ nghệ XK
trong kim ngạch
xuất khẩu hàng
thủ công mỹ
nghệ (%)
1995 60 15 20.3
1996 63 22 19.3
1997 70 30 20.62
1998 75 33.75 20.2
1999 95 42.8 19.82
2000 120-130 70-80 21.75
Nguồn: Bộ Thơng mại
càng tăng cho thị trờng trong nớc và xuất khẩu.Trong sản xuất gốm sứ mỹ nghệ
dù có ứng dụng một số quy trình công nghệ và sử dụng một số thiết bị máy móc
hiện đại ở một số khâu nhất định, thì sản phẩm của ngành này vẫn chứa đựng
đậm nét của sản phẩm thủ công truyền thống có tính văn hoá và mỹ thuật cao.
Khách hàng nớc ngoài thích sản phẩm này nhờ vào sự độc đáo lạ mắt mang
đậm tính văn hoá của ngời phơng đông nói chung và của ngời Việt Nam nói
riêng. Những năm trớc đây, sản phẩm gốm của ta rất khó cạnh tranh với hàng
Vũ Thế Lợng - Kinh tế phát triển 41A
22
luận văn tốt nghiệp
Trung Quốc - Đất nớc khá nổi tiếng với thế giới về hàng gốm sứ. Song gần đây
do ngời nghệ nhân có nhiều sáng tạo, làm ra nhiều sản phẩm lạ mắt mang tính
truyền thống dân tộc và các doanh nghiệp cũng nh các tổ chức có nhiều cố gắng
để giới thiệu mật hàng này ra thị trờng nớc ngoài nên trị giá xuất khẩu của mặt
hàng này tăng rất nhanh qua các năm và hiện nay trở thành mặt hàng chủ lực
trong xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của nớc ta. Vì vậy nhóm hàng thủ công
mỹ nghệ xuất khẩu cần đợc sự khuyến khích hỗ trợ, u đãi mạnh mẽ của nhà nớc
để biến triển vọng tốt đẹp của ngành nghề này trong những năm tới.
Nếu năm 1999-2000 kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này tăng khoảng
100-120 triệu USD thì có thể đạt mục tiêu tăng trởng trung bình 18-20% /năm
trong thời kỳ 2001-2005 và đến năm 2005 đạt kim ngach 250-300 triệu USD.
Năm 2010 đạt từ-500-550 triệu USD.
3. Nhóm hàng mây tre đan
Trong nhóm hàng này có các mặt hàng nh chiếu, làn đi chợ...với kiểu dáng
đẹp, đa dạng.Nguyên liệu sản xuất ra nhóm hàng này khá dồi dào ở Đồng Bằng
Sông Hồng, vì vậy giá đầu vào tơng đối rẻ. Đây là mặt hàng dễ sản xuất, hầu
nh ngời thợ thủ công nào cũng có thể sản xuất mặt hàng này.
Trong thời kỳ trớc năm 1990, nhóm hàng này đợc phát triển và xuất khẩu
với số lợng tơng đối lớn. Năm 1989, riêng công ty xuất khẩu mây tre Việt Nam
đã xuất khẩu đạt kim ngạch trên 50 triệu USD, trong đó là hàng mây tre đan,
trong hàng thủ công mỹ
nghệ (%)
1995 20 27
1996 24 21
1997 28 19.24
1998 30 18
1999 31 14.4
2000 40 12.3
4. Nhóm hàng thảm các loại(thảm len,thảm đay cói, thảm sơ dừa)
Mặt hàng thảm trớc năm 1990 Việt Nam xuất khẩu với khối lợng tơng đối
lớn( mỗi năm xuất khẩu khoảng 3 triệu m2 thảm đay, gần 2.5 triệu m2 thảm
cói, gần nửa triệu m2 thảm len ). Sau năm 1990 ta gần nh mất hẳn thị trờng
xuất khẩu các loại hàng hoá này, số lợng hàng năm giảm mạnh gây nhiều khó
khăn cho sản xuất và lực lợng lao động trong ngành này. Vài năm gần đây
ngành này đã có dấu hiệu hồi phục: Thái Bình đã có thị trờng xuất khẩu mặt
hàng đệm ghế cói(gần 500 nghìn chiếc với giá 0.7 USD/chiếc, dự kiến sẽ tăng
Vũ Thế Lợng - Kinh tế phát triển 41A
24
luận văn tốt nghiệp
lên 1 triệu chiếc/ năm, ngoài ra còn xuất khẩu đợc loại thảm cói đay với giá 1.5
USD/m2) ; Nam Định cũng xuất khẩu mỗi năm khoảng 1 triệu sản phẩm đay,
300 nghìn sản phẩm cói ; Hải Phòng, Nam Định, Hà Tây... vẫn có xuất khẩu
sản phẩm len mỗi năm khoảng 15-25 nghìn m2/ năm. Ngoài ra còn có sản phẩm
thảm sơ dừa của Bình Định cũng rất phát triển. Bình Định năm 1999 có thể sản
xuất 100 nghìn m2 thảm sơ dừa. Nhìn chung kim ngạch xuất khẩu mặt hàng
này trong những nâm qua đã tăng lên nhng cha nhiều do nhu cầu thị trờng đối
với mặt hàng này cha cao.
Biểu 3: Gía trị xuất khẩu hàng thảm các loại
Nguồn bộ Thơng mại
Năm