V. Bài học kinh ngiệm cho Việt Nam và các nước đang phát triển.
1.Duy trì tỷ lệ vay nợ nước ngoài ở mức an toàn (<40% GDP).
Nợ chính phủ, còn gọi là nợ công hoặc nợ quốc gia, là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ
thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay.Việc đi vay này là nhằm tài trợ cho các khoản
thâm hụt ngân sách nên nói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách luỹ kế đến một thời
điểm nào đó. Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này
bằng bao nhiêu phần trăm so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Theo WB, ngưỡng an toàn đối với các nước đang phát triển là tỉ lệ nợ nước ngoài phải dưới
40%/GDP
Tỉ lệ nợ nước ngoài của Việt nam thống kê theo giai đoạn 2000-2010 thể hiện ở bảng sau:
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng nợ
(tỷ USD)
11.8 11.9 11.8 13.3 16.7 18.9 22.2 20.0 32.5 48.8 58.9
% GDP 39.0 37.4 34.0 34.1 36.8 35.8 36.6 37.2 36.2 52.6 56.4
Chúng ta có thể biểu thị thông qua biểu đồ
Theo tiêu chí đánh giá quốc tế, gia đoạn 2000-2010 các chỉ số phản ánh khả năng trả nợ của Việt
Nam đều ở dưới mức lo ngại. Nhưng có thể thấy nợ công của Việt Nam đang ra tăng rất mạnh sau
năm 2008 do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Và nếu tính đến lãi suất phải trả và
cả việc đồng Việt Nam có khả năng mất giá trong tương lai thì số thực nợ phải trả là không hề
nhỏ, nó không thể lạc quan thái quá như việc một số quan chức Chính phủ cho rẳng tỉ lệ nợ vẫn ở
mức an toàn, ngay cả trong giai đoạn 2000-2008? Vì nghĩa vụ thanh toán nợ bằng nguồn của ngân
sách nhà nước (NSNN) đối với các khoản nợ của Chính phủ sẽ lớn dần khi các khoản vay đến hạn
phải trả nợ gốc.
Hiện nay, để giúp nền kinh tế sớm thoát ra khỏi khủng hoảng, Chính phủ đã vay nước ngoài để
tung ra nhiều gói kích cầu.Nhưng Chính phủ cũng phải hướng tới phát triển lâu dài, tuân thủ
những nguyên tắc nhất quán: kích cầu nhưng đảm bảo nợ quốc gia không quá 40% GDP…
Đối với nước ta, trong cơ cấu nợ Chính phủ là “con nợ” lớn nhất với tỉ trọng trung bình là
65,4%, kế đến là các DNNN và cuối cùng là các doanh nghiệp FDI.Vậy dựa vào đâu để tin tưởng
ở khả năng trả nợ nước ngoài của quốc gia? Bài học từ Argentina đã chỉ rõ chắc chắn là không thể
dựa vào sự tín nhiệm của quốc tế, đơn giản là sự tín nhiệm này chỉ giúp Chính phủ dễ vay nợ mà
những khoản viện trợ không hoàn lại cần được quản lý như đối với nguồn thu của NSNN dành cho
đầu tư phát triển, phần vay ưu đãi được hạch toán bù đắp bội chi ngân sách để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ trả nợ nước ngoài và ổn định chi NSNN, kiên quyết không vay cho chi thường xuyên.
Thứ năm, cần xây dựng hạn mức vay nước ngoài, vì đó là giới hạn an toàn để sử dụng vốn vay
nước ngoài có hiệu quả, ổn định, bền vững, bảo đảm nền kinh tế có khả năng hấp thụ vốn và có
khả năng trả nợ khi đến hạn. Mặt khác, hạn mức nợ nước ngoài cũng chính là công cụ quan trọng
để kiểm soát tình trạng nợ nước ngoài và bảo đảm an ninh tài chính quốc gia. Trong tình hình kinh
tế nước ta hiện nay, khi hiệu quả đầu tư còn thấp, cân đối ngoại tệ còn khá bấp bênh, tỷ giá hối
đoái chưa hoàn toàn ổn định thì việc quy định hạn mức vay nợ nước ngoài là rất cần thiết để giảm
thiểu những rủi ro, nâng cao hệ số an toàn trong việc sử dụng vốn.
Trong quá trình tổ chức vận động vốn cần xuất phát từ lợi ích tổng thể quốc gia, hiệu quả công
việc trên cơ sở nâng cao tính chủ động của trong nước với bên nước ngoài, cần mạnh dạn chối bỏ
các nguồn vốn không đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Thứ sáu, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn nước ngoài như lựa chọn dự án khả
thi, dự án ưu tiên đầu tư. Sau đây là một số giải pháp:
Phải có một chiến lược phát triển kinh tế tổng hợp và dài hạn.
Phải có một môi trường pháp lý lành mạnh.
Phải có khả năng cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.
Các chính sách về ngoại thương, ngoại hối phải hết sức linh hoạt.
Phải quản lý và kiểm soát chặt chẽ luồng vốn ngắn hạn nước ngoài.
Phải có một tỷ lệ vốn trong nước tương ứng và thích hợp, tránh lấy nguồn vốn nước ngoài
làm chỗ dựa cơ bản cho sự phát triển kinh tế trong nước...
Ngoài ra, phải tích cực tạo nguồn để trả nợ nước ngoài, duy trì khả năng chi trả các khoản nợ
đến hạn, đặc biệt là cần có các giải pháp hữu hiệu để khuyến khích xuất khẩu nhằm tạo nguồn thu
ngoại tệ ổn định. Trước mắt, cần xây dựng quy hoạch vùng nguyên liệu xuất khẩu, hạn chế xuất
khẩu các nguyên liệu thô, tăng cường đầu tư chiều sâu cho các doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu;
có chính sách hỗ trợ mạnh mẽ cho xuất khẩu .
3. Cải cách bộ máy quản lý: giải quyết tham nhũng, cổ phần hóa ồ ạt và thất thoát
Nói ngắn gọn, cuộc khủng hoảng nợ của Argentina, suy cho cùng, nói lên những bất ổn trong
hệ thống chính trị (tham nhũng, sự phân chia quyền lực giữa các địa phương trong việc điều tiết
chế giám sát hữu hiệu các khoản vay nợ nước ngoài của chính phủ, chừng đó nguy cơ về một cuộc
khủng hoảng tài chính toàn diện cũng không phải là điều quá xa vời.