NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN
ĐẦU TƯ
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ, ĐẦU TƯ TÍN DỤNG VÀ DỰ ÁN ĐẦU
TƯ.
1. khái niệm và bản chất của đầu tư
1.1 Khái niệm
Trong quá trình sản xuất kinh doanh bất cứ một doanh nghiệp, một tổ chức
hay một cá nhân nào đó muốn hoạt động được thì cần phải hội tụ đủ ba yếu tố
cơ bản của quá trình sản xuất đó là tư liệu sản xuất, vốn và sức lao động, đây
là ba yếu tố cơ bản cần thiết ban đầu để tiến hành một hoạt động sản xuất
kinh doanh. Thật vậy khi một doanh nghiệp sản xuất dự kiến sẽ đi vào hoạt
động thì doanh nghiệp đó cần phải có vốn, có địa điểm sản xuất, có nhà xưởng
máy móc thiết bị, nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất, có công nhân làm việc
mới có thể đảm bảo cho sự hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt được những
mục đích cụ thể mà doanh nghiệp đã đề ra. Hoặc khi một doanh nghiệp thương
mại hoạt động đòi hỏi doanh nghiệp đó cần phải có địa điểm bán hàng,
phương tiện bán hàng, có vốn lưu động ban đầu để mua hàng hoávà thuê nhân
viên bán hàng... Quá trình sử dụng các nguồn lực trên đây được coi là quá trình
đầu tư.
Đầu tư là một phạm trù kinh tế và đã có nhiều cách hiểu về nó nhưng xét
theo nghĩa chung nhất thì có thể định nghĩa hoạt động đầu tư như sau:” Đầu
tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó
nhằm thu về cho người đầu tư những kết quả nhất định trong tương lai lớn
hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó”.
Những kết quả ở đây có thể là sự tăng lên của tài sản tài chính ( tiền vốn ),
tài sản vật chất ( nhà xưởng, của cải vật chất khác ), tài sản tí tuệ ( trình độ
văn hoá, chuyên môn) nguồn nhân lực có đủ khả năng làm việc với năng suất
cao hơn trong nền sản xuất xã hội, như vậy chỉ có đầu tư mới đem lại sự phát
triển cho xã hội.
1.2 Bản chất của đầu tư
Trong nền kinh tế quốc dân có ba lĩnh vực đầu tư: đầu tư tài chính, đầu tư
trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế, đầu tư thường chiếm
khoảng 24%-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới. Với
tổng cầu tác động của đầu tư là ngắn hạn khi tổng cung chưa kịp thay đổi, sự
tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng sẽ dẫn tới sự tăng lên của giá cả.
b.Về mặt tổng cung:
Khi thành quả của đầu tư bắt đầu phát huy tác dụng, các năng lực mới
bắt đầu đi vào hoạt động thì tổng cung sẽ tăng lên, kéo theo sản lượng tiềm
năng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng và điều đó sẽ tiếp tục kích
thích sản xuất hơn lữa.Sản xuất phát triển chính là nguồn gốc cơ bản của sự
phát triển kinh tế.
2.2 Đầu tư có tác động hai mặt đến sư ổn định kinh tế.
Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng
cầu và tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư dù là
tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định nền kinh
tếcủa mọi quốc gia.
Khi tăng đầu tư cầu các yếu tố của đầu tư tăng làm cho giá cả hàng hoá
có liên quan tăng đến một mức độ nào đó sẽ dẫn dến tình trạng lạm phát. Khi
đó sản xuất đình trệ, đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn thâm
hụt ngân sách lớn kinh tế sẽ phát triển chậm lại.Mặt khác, khi tăng đầu tư làm
cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng sản xuất của các nghành này phát
triển, thu hút thêm lao động nâng cao đời sống của người dân,giảm tệ nạn xã
hội sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế.
2.3 Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Vai trò này được thể hiện qua công thức tính ICOR và tốc độ tăng trưởng
kinh tế.
ICOR=
Y
K
∆
∆
*
=
Y
I
ICOR
*
1
Trong đó g : tốc độ tăng trưởng
I : vốn đầu tư
tăng thêm
Y
I
: tỷ lệ vốn
đầu tư trong GDP
Qua công thức trên ta thấy hệ số ICOR góp phần quan trọng trong việc
xác định mối quan hệ giữa tỷ lệ đầu tư trong GDP với tốc độ tăng trưởng kinh
tế.
2.4. Đầu tư có ảnh hưởng tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Kinh nghiệm các nước cho thấy con đường tất yếu có thể tăng trưởng
nhanh, đạt tốc độ mong muốn là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển
nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với các ngành nông, lâm ngư
nghiệp do hạn chế về đất đai và các khả năng sinh học nên đạt được tốc độ
tăng trưởng cao là rất khó, việc đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ
sẽ tăng cường tỷ trọng của các ngành này trong GDP. Mặt khác đầu tư có tác
dụng giải quyết những mất cân đối về sự phát triển giữa các vùng lãnh thổ,
đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối
đa các lợi thế của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp
thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển. Như vậy chính sách đầu tư đúng
đắn sẽ quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm đạt được tốc độ
tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế.
hàng cũng tham gia vào dự án thông qua việc xem xét vốn có được sử dụng
đúng mục đích hay không, giải ngân phải theo khối lượng công việc đã hoàn
thành và được nghiệm thu, ngân hàng cũng có thể giúp doanh nghiệp tìm kiếm
thị trường, đối tác đầu tư ...Khi dự án phát huy tác dụng, lợi nhuận có được
phải dành ra để trả vốn gốc và lãi cho ngân hàng, như vậy trong đầu tư tín
dụng lợi ích của bên cung ứng vốn tín dụng gắn liền với hiệu quả của dự án
đầu tư.
-Đầu tư tín dụng chứa đựng nhiều rủi ro. Đầu tư tín dụng là hoạt động hoạ
động kinh doanh qua tay người khác, dùng lượng tiền huy động được để cho
vay nên bản thân nó chứa đựng nhiều rủi ro. Trước hết đó là rủi ro về nguồn
vốn đầu tư (về phía ngân hàng), khi chi phí về vốn tăng lên làm cho chi phí sản
xuất tăng, giá thành sản phẩm tăng, giảm sức cạnh tranh, ngân hàng không
huy động đủ số vốn cần thiết dẫn đến công tác giải ngân có thể chậm làm ảnh
hưởng đến tiến độ dự án. Thứ hai là rủi ro từ bản thân dự án, một dự án đầu
tư bao giờ cũng chứa đựng nhiều rủi ro do các chi phí bỏ ra thực hiện dự án ở
hiện tại mà kết quả đạt được trong tương lai xa. Hơn nữa để đạt được kết quả
đó quá trình thực hiện dự án chịu tác động của nhiều nhân tố từ bên ngoài
như sự biến động của thị trường, việc thay đổi cơ chế chính sách của nhà
nước ...Gây ra những điều bất lợi cho dự án.
-Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh tế gắn liền với những bước thăng
trầm của nền kinh tế, nó luôn gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp khác. Do đó hiệu quả của việc đầ tư này không phụ thuộc vào
ngân hàng mà nó còn chịu phần lớn tác động của người sử dụng vốn vay.
-Việc đầu tư tín dụng trung và dài hạn luôn kéo theo sự huy động nhiều
nguồn lực khác để phục vụ cho một mục tiêu nào đó. Chính sự huy động đó nếu
đạt hiệu quả sẽ đem lại lợi ích cho nền kinh tế, xã hội, ngân hàng và cho người
vay vốn ngược lại nó sẽ đem lại những tổn thất rất lớn không chỉ cho chủ đầu
tư mà còn cho toàn xã hội.
3.2 Vai trò của đầu tư tín dụng
Đầu tư tín dụng đóng vai trò rất lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã
tín dụng đã đẩy mạnh tốc đọ chu chuyển vón từ nơi thừa đến nơi thiếu vốn ,
điều chỉnh quan hệ cung cầu vón từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong
nền kinh tế.
-Đầu tư tín dụng thúc đẩy cơ cấu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
CNH-HĐH.
Đất nước ta tiến hành công cuộc CNH-HĐH từ một xuất phát điểm thấp cơ
cấu kinh tế mất cân đối, cơ sở hạ tầng yếu kém. Để có thể thực hiện thành công
CNH-HĐH thì việc khắc phục hai yếu điểm trên là rất cần thiết. Đảng ta đã chủ
trương khai thác mọi tiềm năng nội lực, thế mạnh của đất nước, khai thác có
hiệu quả trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt chú ý phát triển lĩnh vực công
nghiệp, dịch vụ, kết cấu hạ tầng kết hợp phát triển những vùng kinh tế trọng
điểm với các vùng khác tạo điều kiện để mỗi vùng phát huy hết thế mạnh của
mình cùng phát triển đi lên đẩy lùi khoảng cách về chênh lệch giàu nghèo giữa
các vùng. Để thực hiện được nhiệm vụ này đòi hỏi cần có vốn để đầu tư đặc
biệt là vốn trung và dài hạn, đầu tư tín dụng cho phép đầu tư vốn tập trung
cho sự phát triển của các ngành như việc đầu tư vốn tín dụng cho sự phát
triển các làng nghề truyền thống, phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản... Hoặc
cho phép tập trung vốn vào các ngành kinh tế mũi nhọn, vùng kinh tế trọng
điểm góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH. Trong đầu
tư tín dụng còn có khoản tín dụng ưu đãi đối với những vùng khó khăn nhằm
tạo điều kiện về vốn giúp cho các vùng này phát triển thoát khỏi đói nghèo rút
ngắn được khoảng cách với các vùng lân cận.
Mặt khác vốn tín dụng là nguồn vốn lớn có khả năng huy động đáp ứng nhu
cầu vốn của các dự án có quy mô lớn nên đầu tư tín dụng có thể giải quyết dứt
điểm các dự án trọng điểm của nền kinh tế, thực hiện các chương trình kinh tế
lớn của nhà nước.
-Đầu tư tín dụng nâng cao hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh của
nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi và
ngày càng khắc nghiệt, chỉ những người thắng được trong cuộc cạnh tranh đó
Cu : Vốn tự có và vốn huy động.
Rc : Dự trữ bắt buộc .
Lic: Vốn thanh khoản hiện hành
Bd : Nợ khó đòi không có khả năng thu hồi
Pr : Quỹ dự phòng rủi ro
Ir : Lãi suất cho vay
T : Thời gian cho vay
* Về phía doanh nghiệp: Hiệu quả đầu tư tín dụng thể hiện qua việc doanh
nghiệp sử dụng vốn một cách hiệu quả, dự án của doanh nghiệp đi vào hoạt
đọng đem lại hiệu quả cao tức doanh nghiệp thu được lợi nhuận và tạo việc
làm cho người lao động, để đánh giá hiệu quả đầu tư tín dụng có một số chỉ
tiêu sau:
-Chỉ tiêu tỷ lệ giữa lợi ích (B) và chi phí (C): B/C cho biết lợi ích thu được
trên một đồng vốn bỏ ra.
-Chỉ tiêu thu nhập thuần (NPV): Phản ánh quy mô lãi ở thời điểm hiện tại.
-Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư ( RR) :Phản ánh mức độ thu hồi vốn đầu tư
ban đầu từ lợi nhuận thuần thu được hàng năm.
-Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) : Phản ánh khả năng sinh lời của dự án.
-Thời gian hoàn vốn (T) :Phản ánh mức độ thu hồi vốn nhanh hay chậm .
- Chỉ tiêu phản ánh khả năng trả nợ của dự án : Được xác định bằng tỷ lệ giữa
khả năng tạo vốn bằng tiền của dự án và nghĩa vụ hoàn trả.
4. Dự án đầu tư :
Với tầm quan trọng của hoạt động đầu tư đòi hỏi trước khi tiến hành
một công cuộc đầu tư phải có sự chuẩn bị cẩn thận và nghiêm túc. Sự chuẩn bị
này được được thể hiện trong việc soạn thảo dự án, dự án đầu tư thường được