ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Pdf 64

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý, địa hình:
Huyện Chương Mỹ thuộc vùng bán sơn địa của tỉnh Hà Tây, trung tâm
của huyện cách thị xã Hà Đông 10 Km, cách Thủ đô Hà Nội 20 Km về phía tây.
Phía Đông của huyện giáp với huyện Thanh Oai.
Phía Tây giáp với huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình.
Phía Nam giáp với 2 huyện ứng Hoà và Mỹ Đức.
Phía Bắc giáp với hai huyện Hoài Đức và Quốc Oai.
Như vây, huyện Chương Mỹ có một vị trí khá thuận lợi cho việc phát triển
kinh tế, xã hội. Đặc biệt huyện Chương Mỹ lại nằm trên trục đường 6-con
đường nối liền tỉnh Hoà Bình với thị xã Hà Đông và Thủ đo hà Nội thuận lợi
trong giao lưu buôn bán, phát triển thương mại dịch vụ. Hơn nữa huyện
Chương Mỹ bao gồm nhiều loại đất chia làm 3 vùng: vùng đồi gò, vùng đất bãi,
vùng đồng bằng giữa huyện nên có điều kiện khả năng phát triển đa dạng hoá
các ngành nghề.
- Thời tiết khí hậu:
Khí hậu của huyện Chương Mỹ mang đặc tính chung của khí hậu vùng
đồng bằng sông Hồng được chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa khô (hanh khô và giá
rét) kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau với nhiệt độ trung bình vào
khoảng từ 16
0
C-21
0
C; mùa mưa (nóng bức, nắng lắm mưa nhiều) kéo dài từ
tháng 4 đến tháng 10 nhiệt độ trung bình vào khoảng 23,7-29,7
0
C. Lương mưa
bình quân hàng năm khoảng 2427,9 mm, độ ẩm bình quân khoảng 83%.

hình thành như cụm công nghiệp Bê Tông – Xuân Mai; cụm công nghiệp Phú
Nghĩa – Trường Yên. Đây là cơ hội tốt cho sự phát triển nền kinh tế của huyện
trong những năm tới.
3.1.2.1. Tình hình đất đai và phân bổ của huyện trong 3 năm (2002-
3.1.2.1. Tình hình đất đai và phân bổ của huyện trong 3 năm (2002-
2003).
2003).
Diện tích đất đai khá rộng với tổng diện tích đất tự nhiên là 23.294,15ha,
trong đó đất nông nghiệp chiếm hơn 60%, đất chuyên dùng chiếm hơn 20%, đất
thổ cư chiếm tỷ trọng nhỏ hơn 5%, nhưng đất chưa sử dụng thì chiếm tỷ trọng
lớn hơn 9%. Tổng diện tích đất tự nhiên không đổi nhưng diện tích của các loại
3
3
đất thì thay đổi hàng năm, có thể tăng hoặc giảm tuỳ theo mục đích sử dụng
đất của người dân.
Đất nông nghiệp có xu hướng giảm theo các năm: Năm 2000, đất nông nghiệp
có diện tích là 14.431,26ha chiếm 61,95% tổng diện yích đất tự nhiên. Năm
2001, đất nông nghiệp còn 14.391,95ha chiếm 61,78% và đến năm 2002 diện
tích đất nông nghiệp còn 14.378,67 ha chiếm 61,73% diện tích đất tự nhên. Như
vậy, diện tích đất nông nghiệp giảm hàng năm với tốc độ giảm bình quân là
0,19%.
Nguyên nhân làm giảm diện tích đất nông nghiệp là nhiều nhà máy , xí nghiệp,
công ty , nhà ở được xây dựng trên diện tích đất nông nghiệp, tức là đất nông
nghiệp được chuyển sang làm đất chuyên dùng và đất thổ cư để đáp ứng nhu
cầu CNH, HĐH Nông nghiệp, nông thôn, chuyển đổi cơ cấu kinh tế của huyện ,
đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người dân.
Đất lâm nghiệp trong mấy năm gần đây , đặc biệt là trong 3 năm qua giữ ở
mức cố định không tăng không giảm.
Đất chuyên dùng chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng tăng lên hàng nămvơis tốc
độ bình quân là 0,45%, cụ thể năm 2000 với diện tích 4911,80 ha chiếm

để xây dựng chuồng trại chăn nuôi.
Như vậy, huyện Chương Mỹ có điều kiện đất đai phù hợp với phát triển ngành
nghề theo hướng đa dạng hoá. Nhìn chung, nguồn đất đai của huyện khá dồi
dào và được phân bố tương đối hợp lý, xong diện tích đất hoang hoá vẫn còn
nhiều và gây lãng phí lớn. Nên tập trung nhân lực, vật lự để khai thác nguồn
đất hoang hoá đó thì đây chính là nguồn tài nguyên quý giá.
3.1.2.2. Tình hình phân bổ và sử dụng đất nông nghiệp
của huyện.
Đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng quỹ đất tự nhiên của huyện và
đất nông nghiệp đang có xu thế giảm mỗi năm. Đất nông nghiệp được phân làm
nhiều loại dựa vào đặc điểm cây trồng , vật nuôi như: đất trồng cây hàng năm;
6
6
đất trồng cây lâu năm; đất vườn; đất ao hồ thả cá; đất trồng cỏ chăn thả gia
súc. Trong đó , đất trồng cây hàng năm chiếm tỷ lệ lớn nhất với hơn 80%, tiếp
theo là đất vườn chiếm gần 10% và nhỏ nhất là đất trồng cỏ chăn thả gia súc.
Điều đáng chú ý là trong 3 năm qua, diện tích các loại đất này đều giảm. Cụ thể:
đất trồng cây hàng năm là 11943,32ha chiếm 82,76%(năm 2000) giảm xuống
còn 11925,92 ha chiếm 82,64% và tiếp tục giảm xuống còn 11912,95 ha. Như
vậy, năm sau diện tích đất trồng cây hàng năm giảm nhiều hơn so với năm
trước tốc độ giảm bình quân là 0,13%. Trong đất trồng cây hàng năm chủ yếu
vẫn là đất cấy lúa và đất trồng màu chiếm hơn 90% diện tích trồng cây hàng
năm, còn lại chưa đến 10% là diện tích đất trồng cây hàng năm khác.
Đất trồng cây lâu năm giảm mạnh trong năm 2001 với tốc độ giảm là 1,93%,
nhưng đến năm 2002 thì diện tích đất trồng cây lâu năm giữ ở mức ổn định,
không giảm nữa.
Đất vườn chiếm tỷ lệ cao gần 10% trong quỹ đất nông nghiệp, năm 2001 diện
tích đất vườn giảm mạnh với tốc độ giảm là 0,67% do diện tích đất vườn được
chuyển sang dùng vào xây dựng chuồng trại và nhà ở, đến năm 2002 thì diện
tích đất vườn được bảo toàn.












9
9
Diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm mà dân số ngày càng đông, do đó
bình quân đất nông nghiệp trên một khẩu nông nghiệp giảm đi. Xét chỉ tiêu bình
quân đất trồng hàng năm trên một khẩu ta thấy : năm2000, đất trồng cây hàng
năm bình quân trên một khẩu là 0,057 ha/khẩu nông nghiệp. Nhưng đến năm
2001 chỉ còn 0,056 ha/ khẩu/ nông nghiệp. Và đến năm 2002 đất trồng cây
hàng năm bình quân chỉ còn xấp xỉ 0,056 ha/ khẩu/ nông nghiệp. Với diện tích
đất canh tác bình quân như trên là tương đối lớn , nhưng nếu chỉ sống
bằngviêcj sản xuất trên hơn 1 sào ruộng/1 khẩu thì đời sống quả là khó khăn.
Cần phải thâm canh tăng năng suất cây trồng, tăng giá trị sản xuất cảu đất ,
đồng thời phát triển ngành nghề phụ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển
mạnh hơn nữa ngành chăn nuôi để vừa nâng cao thu nhập vừa bồi dưỡng , cải
tạo nguồn đất mà đặc biệt là đất trồng cây hàng năm.
3.1.2.3. Tình hình đân số và phân bổ dân số của huyện qua 3 năm.
3.1.2.3. Tình hình đân số và phân bổ dân số của huyện qua 3 năm.
Chương Mỹ là một trong những huyện có số dân đông của tỉnh Hà Tây, trong
mấy năm gần đây, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đã giảm đi nhiều và chỉ còn ở mức
thấp( năm 2000 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,16, đến năm 2002 tỷ lệ này giảm

dựng trên địa bàn huyện và các huyện lân cận đã thu hút được nguồn lao động.
Số lao động bình quân /hộ là khá cao, có xu hướng tăng (năm 2000, bình quân
2,34 lao động/hộ; đến năm 2002 lên đến 2,37 lao động/hộ). Đối với hộ nông
nghiệp , có số lao động cao hơn, bình quân 2,35 lao động/hộ (năm2000), 2,37
lao động/hộ (năm 2001), và 2,38 lao động/hộ (năm 2002).
Lao động nông nghiệp chiếm hơn 80% trên tổng số lao động của cả huyện, với
diện tích đất nông nghiệp bình quân / lao động nông nghiệp thấp , không sử
dụng hết số lao động dồi dào đó.
Lao động chỉ được huy động vào mùa vụ , còn những ngày nông nhàn thì số lao
động của huyện rơi vào tình trạng Hoà thất nghiệp. Hàng năm, số lượng lao
động của huyện ra thành phố kiếm việc ngày càng nhiều. Tuy nhiên, số lao động
12
12
thiếu việc làm vẫn còn lớn và tình trạng thát nghiệp vẫn là mối lo chung của cả
huyện, bởi thất nghiệp dẫn thanh niên nêu lổng và tệ nạn xã hội trên toàn
huyện ngày càng gia tăng.
Như vậy, nguồn nhân lực của huyện Chương Mỹ rất dồi dào, người dân Chương
Mỹ vốn cần cù chịu khó , nhưng hiện nay nguồn lực này vẫn chưa được khai
thác hết . Chương Mỹ cần thu hút vốn đầu tư vào các cụm công nghiệp để tạo
việc làm cho gười dân địa phương.
3.1.2.4. Tình hình sản xuất kinh doanh của huyện qua 3 năm:
3.1.2.4. Tình hình sản xuất kinh doanh của huyện qua 3 năm:
Tổng giá trị sản xuất của huyện tăng nhanh với tốc độ tăng bình quân hàng
năm là 12,24%. Cơ cấu giá trị sản xuất có thay đổi theo hướng tăng giá trị sản
xuất ngành công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, giảm cơ cấu ngành
nông nghiệp. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp chiếm 30,60% tổng giá trị sản
lượng (năm 2000), đã giảm xuống còn 29,41% (năm 2202). Giá trị sản xuất
ngành công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp chiếm 42,95% tổng GO (năm2000), đã
tăng lên 44,01% (năm 2002). Giá trị sản xuất ngành xây dựng cơ bản cũng tăng
nhanh với tốc độ tăng bình quân hàng năm là 16,98%, cơ cấu giá trị sản xuất

- Số liệu sơ cấp: thu thập số liệu qua điều tra hộ gia đình. Dựa trên đặc
điểm sinh thái, địa hình đất đai của huyện chon hai xã Thụy Hương và Trung
Hoà tiến hành điều tra tất cả các hộ đã xây hầm Biogas và một số hộ có chăn
nuôi nhiều nhưng chưa xây hầm (52 hộ có hầm và 20 hộ chưa xây).
3.2.2. Phương pháp phân tích tài liệu.
- Phương pháp thống kê mô tả: dựa trên số liệu điều tra được để mô tả
thực trạng Biogas, mô tả kinh tế hộ kinh tế nông thôn và các chỉ tiêu thông kê
cần thiết để đánh giá và so sánh. Các chỉ tiêu này gồm có số tương đối, số tuyệt
đội và so sánh bình quân.
-Phương pháp toán kinh tế: tính toán các hệ số đa dạng, tính toán hiệu quả
kinh tế của việc sử dụng hầm Biogas và tính toán các chỉ tiêu khác.
15
15



16
16
Phần IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đánh giá thực trạng phát triển Biogas trong mối
quan hệ với các ngành sản xuất trong nông thôn ở
huyện Chương Mỹ - Hà Tây.
4.1.1. Tình hình phát triển Biogas và các ngành sản
xuất khác ở huyện.
4.1.1.1. Tình hình phát triển Biogas của huyện.
4.1.1.1. Tình hình phát triển Biogas của huyện.
Tính đến năm 2002 toàn huyện mới chỉ có 365 hầm Biogas con số này còn rất
hạn chế so với mức độ chăn nuôi tập trung của huyện. Mô hình Biogas được áp
dụng vào huyện Chương Mỹ từ năm 1998 qua chương trình “hướng dẫn kỹ

Chỉ tiêu
2000 (1) 2001 (2) 2002 (3) So sánh
Số
lượng
Cơ cấu
Số
lượng
Cơ cấu
Số
lượng
Cơ cấu
(2)-
(1)
(3)-
(2)
BQ
Tổng số
hầm của
huyện
97 100,00 209 100,00 365 100,00 112 156 134
1. Kiểu thiết
kế
- Túi ủ
nilong
3 3,09 5 2,39 5 1,37 2 0 1
- Vòm cuốn
cải tiến
94 96,91 204 97,61 360 98,63 110 156 133
2. Thể tích
hầm

hỏng
3 50,00 4 44,44 3 1 2
+ Túi ủ
nilông
2 66,67 3 75,00 2 1 1,5
+ Vòm cuốn
cải tiến
1 33,33 1 25,00 1 0 0,5
- Do không
chăn nuôi
3 50,00 5 55,56 3 2 2,5
+ Túi ủ
nilông
0 0 0 2 0
+ Vòm cuốn
cải tiến
3 100,00 5 100,00 3 1,5
19
19
Đến năm 2001, thực tế cho thấy hiệu quả của mô hình Biogas đã được
thừa nhận. Nhiều bà con nông dân có quy mô chăn nuôi nhiều đã tự bỏ vốn của
mình ra để xây hầm Biogas, kết quả là năm 2001 huyện đã có 209 hầm tăng lên
2 cái, loại hầm cải tiến tăng 110 cái. Dung tích hầm vẫn chủ yếu là loại cỡ từ 8-
10m
3
chiếm 86,58% tăng lên 97 cái so với loại cùng cỡ của năm 2000. tình
trạng hoạt động của các hầm lúc này bắt đầu có nhiều vấn đề trục trặc. Tỷ lệ
hầm hoạt động tốt đã bị giảm chỉ chiếm 95,69% do số hầm bị trục trặc tăng lên,
số hầm không sử dụng tăng nhanh chiếm 2,87% tổng số hầm. Số hầm không sử
dụng là do 2 nguyên nhân: thứ nhất là do hư hỏng, hầm bị hư hỏng không sử

tăng thêm 134 cái. Năm 2002 số lượng hầm tăng nhanh hơn năm 2001, cho
21
21
thấy xu hướng mở rộng, phát triển mô hình Biogas ở huyện sẽ tăng còn tiếp tục
với tốc độ tăng nhanh hơn. vì Chương Mỹ là huyện ứng dụng mô hình Biogas
muộn nên đã lựa chọn được loại hình phù hợp với điều kiện của hộ nông dân
trong huyện. Người phụ trách kỹ thuật xây hầm chủ yếu là thợ trong xã đã
được đi tham quan, đi tập huấn, tự học hỏi trên đài, báo, truyền hình nên giá
tiền xây hầm có phần rẻ hơn so với các nơi khác. các ông thợ thường làm việc
rất nhiệt tình và chu đáo vì toàn là hàng xóm láng giềng. Tuy nhiên do đa số thợ
xây dựng là những người nông dân tự học hỏi bạn bè, học những người đi
trước truyền lại mà họ không được học qua trường lớp đào tạo tay nghề, kỹ
thuật nào nên việc tự học xây hầm Biogas của họ còn nhiều hạn chế về kỹ thuật,
về việc chọn nền đất, chọn nguồn nước phù hợp. Do đó một số hầm bị trục trặc
về kỹ thuật xây dẫn đến hoạt động không được tốt. Bởi vậy, vấn đề kỹ thuật
hầm Biogas là vấn đề cần được quan tâm để tạo lòng tin đối với bà con nông
dân.
4.1.1.2. Tình hình phát triển các ngành khác.
4.1.1.2. Tình hình phát triển các ngành khác.
* Ngành chăn nuôi.
Biểu 6: quy mô chăn nuôi của huyện.
22
22
Chương Mỹ là huyện có diện tích đất khá rộng với tổng diện tích đất tự
nhiên là 23294,15 Ha, có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển ngành chăn
nuôi. hơn nữa trên địa bàn huyện Chương Mỹ còn có nhiều xí nghiệp, công ty
gia cầm, công ty chế biến thức ăn gia súc, gia cầm như công ty giống gia cầm
Lương Mỹ, công ty thức ăn gia súc CP, các cơ sở xay xát, bên cạnh đó huyện
Chương Mỹ còn giáp với các trại lợn giống Phú Lãm (thuộc huyện Quốc Oai),
trại lợn giống An Khánh (thuộc huyện Hoài Đức). Đặc biệt trên địa bàn huyện

31,42% so với năm 2000. tổng đàn gia cầm của huyện năm 2001 là 1.061.889
con tăng 12,66% so với năm 2000. Đàn lợn và đàn gia cầm còn tiếp tục tăng
nhanh 942.563 con (năm 2002) 2002. Năm 2002 đàn lợn đạt 106.725 con, tốc
độ tăng lên là 4,89%. Trong đó tỷ lệ lợn nái và lợn đực giảm xuống, còn tỷ lệ lợn
thịt tăng lên do đó trọng lượng lợn xuất chuồng tăng lên tới 10401 tấn. Tổng
đàn gia cầm của năm 2002 cũng tăng nhanh lên đến 1.462.380 con với tốc độ
gia tăng 37,71%.
Bên cạnh sự gia tăng của đàn lợn và đàn gia cầm thì đàn trâu bò có xu hướng
giảm. Đàn trâu lần lượt giảm từ 4437 con ( năm 2000) xuống còn 4300
con(năm 2001) và tiếp tục giảm xuống còn 3565 con (năm 2002), tốc độ giảm
bình quân hàng năm là10,09%. Trong đó số trâu cái giảm đi rất ít, không đáng
kể với tốc độ giảm bình quân khoảng 0,14%, nhưng trâu cày kéo giảm mạnh,
với tốc độ giảm 4,98%(năm 2001) và tiếp tục giảm mạnh với tốc độ giảm
27,16%. Tương tự đàn bò cũng vậy, giảm đi hàng năm, trong đó chủ yếu là
giảm dàn bò cày kéo. Tỷ lệ bò cày kéo giảm mạnh, năm 2001 tỷ lệ bò cày kéo
giảm 6,86%, đến năm 2002 tỷ lệ giảm tới 41,11%. Số lượng trâu, bò hàng năm
giảm nhưng trọng lượng trâu bò xuất chuồng thì tăng lên, năm 2000 xuất
chuồng 76 tấn thịt trâu và 135 tấn thịt bò, đến năm 2002 đã xuất chuồng 215,4
25
25

Trích đoạn Mức độ chăn nuôi tập trung Dự kiến khả năng xây hầm Biogas 47.000 1,65 6 Tăng chi phí vận chuyển nước phân ra đồng Đánh giá hiệu quả về xã hội.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status