phương hướng mục tiêu và giải pháp phát triển công nghiệp nông thôn dến năm 2002 - Pdf 64

phương hướng mục tiêu và giải pháp phát triển công nghiệp
nông thôn dến năm 2002
I-/ QUAN DIỂM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN.
Để phát triển công nghiệp nông thôn tương xứng với tiềm năng góp phần
vào thực hiện mục tiêu CNHHDH nông nghiệp, nông thôn như nghị quyết Đại
hội VIII đề ra, cần quán triệt các quan điêm sau:
- Phát triển công nghiệp nông thôn phải được coi là một nội dung quan
trọn để phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất ở nông
thôn trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước.
-Khuyến khích sự liên kết của các hộ trong các giai đoạn của quá trình sản
xuất có chính sách ưu đãi đối với các hình thức hợp tác cổ phần, xí nghiệp cổ
phần để khắc phục tình trạng sản xuất mạnh mẽ, thiếu vốn, quy mô nhỏ là chủ
yếu trong các cơ sở công nghiệp nông thôn hiện nay.
- Phát triển công nghiệp nông thôn là sự nghiệp của chính bản thân nông
thôn, có sự hỗ trợ, hiệp tác và trực tiếp tham gia của các doanh nghiệp ở đô thị
và các khu công nghiệp nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình này
nhưng không thể làm thay các doanh nghiệp và các nhà kinh doanh. Người
trực tiếp thực hiện sự phát triển công nghiệp nông thôn là các nhà kinh doanh
và dân cư nông thôn. Bởi vậy các chính sách cần hướng vào lực lượng này.
-Phát triển công nghiệp nông thôn là quá trình đông. Bởi vậy việc phát
triển công nghiệp nông thôn cần theo những phương án thích hợp cho từng
giai đoạn, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội từng địa phương. Các tác
động lịch sử cần được xem xét và phân tích toàn diện. Đồng thời, các chính
sách kích thích cần dược nghiên cứu và thay dổi kịp thời khi môi trường có sự
thay đổi.
- Cũng như nền kinh tế nói chung, công nghiệp nông thôn hoạt dộng theo
cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò diều tiết thông qua các qui hoach và
chính sách nhằm hướng định công nghiệp nông thôn tránh sự cạnh tranh thái
quá, nhưng không can thiệp trực tiếp vào sản xuất kinh doanh và gò ép vói các
dơn vị sản xuất cũng như với từng vùng.
- Công nghiệp nông thôn phát triển khônh chỉ vì mục đích tự thân mà

thống của địa phương. Vì vậy phát triển công nghiệp nông thôn là sự nghiệp
của quần chúng, nó sẽ không phát triển tốt nếu thiếu sự hỗ trợ và quản lý của
nhà nước vì nếu nông thôn tự vận động thì quá trình công nghiệp hóa nông
thôn sẽ kéo dài và những hậu quả tiêu cực đối với môi trường sinh thái và ổn
định xã hội sẽ không lường trước được.
Ngoài các quan điểm trên, việc lựa chọn ngành công nghiệp phát triển ở
nông thôn được Đại hội VIII đưa ra các quan điểm ưu tiên sau:
- Gắn với vùng nguyên liệu tại nông thôn.
- Trực tiếp phục vụ nông nghiệp và nông thôn.
- Góp phần làm tăng giá trị nông lâm sản.
-Yêu cầu lao động nhiều và sử dụng nhiều lao động đơn giản đào tạo nghề
cho lao động không đòi hỏi dài.
- Mặt bằng sản xuất đòi hỏi nhiều, rộng lớn về diện tích và không gian .
- Việc giải quyết chất thải nếu đặt ở thành phố sẽ rất khó khăn và đòi hỏi
đầu tư lớn.
Việc phát triển công nghiệp ở nông thôn phải không xâm phạm những
vùng đất mầu mỡ có điều kiện thuận lợi về sản xuất nông nghiệp, đảm bảo gìn
giữ bảo tồn các di sản thiên nhiên, các công trình văn hoá, di tích lịch sử có giá
trị của dân tộc. Bảo vệ môi trường sinh thái giữ vững ổn định xã hội.
II-/ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN
VIỆT NAM NĂM 2020
1-/ Phương hướng mục tiêu phát triển công nghiệp nông thôn
Trên cơ sở quy hoạch lại hệ thống các cơ sở sản xuất công nghiệp, phát
triển nhanh các cơ sở công nghiệp ở nông thôn, nhất là những ngành sử dụng
nguyên vật liệu tại nông thôn và sử dụng nhiều lao động để thực hiện mục tiêu
hiệu quả kinh tế xã hội và môi trường. Hình thành các cụm công nghiệp dịch
vụ trên địa bàn nông thôn thúc đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
lao động nông thôn, tạo điều kiện mở đường cho việc phát triển sản xuất nông
nghiệp hàng hoá và tăng nhanh kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá
hiện đại hoá góp phần xây dựng nông thôn văn minh và hiện đại thực hiện liên

hiệu quả, tạo ra các trung tâm công nghiệp, dịch vụ gắn mật thiết với nông
nghiệp, nông thôn.
b, Mục tiêu
Đảm bảo sơ chế bảo quản nông sản tốt, giảm mức độ tổn thất xuống mức
thấp nhất, giải quyết cơ bản việc làm khô các nông sản thu hoạch vào mùa
mưa bằng các biện pháp công nghiệp . Đưa tổng sản phẩm qua chế biến đạt
mức tối thiểu 70%, đáp ứng yêu cầu trong nước, thay thế cơ bản nông sản
nhập khẩu.
Nâng cao chất lượng nông sản xuất khẩu ngang tầm chất lượng trên thị
trường quốc tế, đạt kim ngạch xuất khẩu 4 tỷ USD vào năm 2010 và 13 tỷ 2020
BIỂU 39 - MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN ĐƯỢC THỂ HIỆN Ở CÁC CHỈ TIÊU
Tốc độ tăng trưởng (%) 2005 2010 2020
Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp (tỷ đồng) 17 20 15
Giá trị sản lượng nông sản chế biến (tỷ đồng) 150.000 180.000 200.000
Tỷ trọng % giá trị sản lượng công nghiệp chế biến 99.000 120.000 175.000
So với tổng giá trị sản lượng nông nghiệp 55 60 70
Tỷ trọng giá trị gia tăng do chế biến (%) 39 460 51
Giá trị xuất khẩu ($) 6 9 13
Thu hút lao động 160.000 180.000 300.000
Đối với các loại sản phẩm công nghiệp nông thôn, mục tiêu phát triển
thóc gạo vẫn đặt ra một giá trị cao 3200 nghìn tất năm 2010, cùng với thóc
gạo ngành rau quả và ván nhân tạo cũng được chú trọng phát triển, ván nhân
tạo đạt chỉ tiêu 1 tỷ tấn năm 2010, còn chế biến rau quả đạt 3200 nghìn tấn.
BIỂU 40 - HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN NÔNG LÂM SẢN.
Ngành 2005 2010
1. Cao su 300 350 - 380
2. Chè búp khô 125 170
Chế biến công nghiệp 90 130
3. Cà phê 800 550
4. Mía đường 1.200 1.600

tư thêm xi măng lò đứng, giữ nguyên công xuất nhà máy xi măng lò đứng hiện
tại khoảng 3 triệu tấn một năm
Chuyển dần các lò gạch tuynen công suất lớn(15_20 triệu/năm) từ đô thị
về nông thôn. Đầu tư mỗi huyện xây dựng một đến 2 lò tuynen công suất
nhỏ(7_10 triệu viên/năm), phát triển các loại gạch ngói không nung bằng vật
liệu xi măng cát nhờ đó hạn chế tình trạng dùng đất nông nghiệp để sản xuất
gạch, tránh phá rừng, đảm bảo môi trường, giảm cường độ lao động- mỗi lò
tuynen thu hút 300-400 lao động
2.4 Xây dựng kết cấu hạ tầng của công nghiềp nông thôn
Để xây dựng kết cấu hạ tầng của công nghiệp nông thôn 2010, nhà nước
ta đã đề ra các phương hướng phát triển của các lĩnh vực như sau:
- Đường bộ nông thôn: cần xây dựng đường tới các huyện lỵ mà hiện nay
chưa có đường ô tô tới, xây dựng cầu phà ở những nơi vượt sông, nâng cấp
sửa chữa tạo mới các con đường để đi lại thuận tiện cả 4 mùa. Đến năm 2020
phiếu đấu 100% xã có đường nhựa đến tận trung tâm xã với chất lượng tốt.
Vùng núi cao kinh tế chưa phát triển nên làm đường từ huyện đến các xã hoặc
đường xe bến bánh có thể đi lại.
- Điện khí hoá nông thôn:100% huyện lỵ được cấp điện phục vụ chiếu sáng
các thiết bị nghe nhìn và sản xuất tiểu thủ công nghiệp , thuỷ lợi nhỏ. Đạt 60% số
xã đồng bằng ven biển được cấp điện chiếu sáng, 20% số xã miền núi được chiếu
sáng do lưới điện quốc gia, 40% còn lại được chiếu sáng do lưới điện ngoài.
-Bưu chính, thông tin, truyền hình: đạt 100% huyện, lỵ có dịch vụ điện
thoại telefax, telex, bưu phẩm, bưu kiện, bưu chính phát nhanh, dịch vụ điện
hoa. Mạng thông tin nông thôn đảm bảo 100% xã có mạng lưới truyền thanh
đạt chất lượng yêu cầu, 100% dân cư đồng bằng, 85% dân cư vùng núi thu tốt
chương trình của Đài Truyền Thanh, Truyền hình Việt Nam.
- Y tế, giáo dục: đặt ra mục tiêu xoá mù chữ,phổ cập tiểu học, phát triển
trường phổ thông dân tộc nội trú, điều chỉnh và hoàn thiện cơ cấu hệ thống
trường lớp, duy trì củng cố nâng cao chất lượng giáo viên. 100% xã có trạm y
tế với các phương tiện chữa bệnh kịp thời và có sự phối hợp chặt chẽ hơn với

Việc phát triển công nghiệp nông thôn ở từng địa phương không chỉ
nhằm mục tiêu duy nhất về kinh tế xã hội mà còn lưu ý đến khía cạnh môi
trường, hệ sinh thái, lưu ý tới việc bảo tồn, duy trì những di sản văn hoá truyền
thống của địa phương mình coi đó là những nguồn lực và điều kiện để phát
triển bền vững sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn.
+ Vùng đồng bằng Sông Hồng là vùng đất chật người đông cần phát triển
nhanh ngành công nghiệp nông thôn, khôi phục và phát triển các làng nghề
truyền thống, các làng nghề mới tạo ra các sản phẩm thiết yếu cung cấp cho
thị trường trong vùng và cho cả nước, những sản phẩm thủ công mỹ nghệ cho
thị trường du lịch và xuất khẩu. Đồng thời khuyến khích đầu tư công nghiệp ở
một số ngành để sản phẩm có thể cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của công
nghiệp thành phố và hàng nhập khẩu.
Cần nhanh chóng tạo ra sự phân công lao động trong nông thôn, phá vỡ
nhanh chóng tính khép kín cố hữu của làng xã thuần nông cổ truyền và những
ràng buộc nặng nề khác, thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển của các hoạt
động phi nông nghiệp ở nông thôn. Cần có biện pháp thúc đẩy quá trình
chuyển nhượng đất nông thôn trong luật đất đai theo hướng hình thành
những vùng chuyên canh rộng lớn, tập trung ruộng đất vào tay nông dân làm
ăn và quản lý giỏi để họ trở thành chủ trang trại những người nông dân không
còn ruộng đất sẽ thu hút vào các hoạt động phi nông nghiệp thíchhợp như
phát triển các ngành nghề thủ công, truyền thống lẫn nghề mới, thậm chí di
dẫn đến vùng khác.
+ Vùng đồng bằng sông Cửu Long: nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên
nhưng cơ sở hạ tầng còn yếu kém. Công nghiệp nông thôn ở vùng này cần tập
trung vào công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ sản với quy mô và công nghiệp
thích hợp nhằm gia tăng giá trị xuất khẩu. Các dịch vụ phục vụ cho sản xuất
nông nghiệp và chế biến nông sản như làm đất, tưới tiêu nước, thu hoạch, sơ
chế, chế biến, vận tải nông sản, hàng hoá cần được phát triển nhanh.
Nhà nước nên bằng mọi cách huy động vốn đầu tư cho phát triển hệ
thống hạ tầng nhất là hạ tầng giao thông, đường xá, xây dựng kho tàng phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status