THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN XUẤT KHẨU BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM - Pdf 64

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN XUẤT KHẨU BẰNG PHƯƠNG
THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG
VIỆT NAM
I – NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM VÀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN
QUỐC TẾ
1 . Tổng quan về ngân hàng ngoại thương Việt Nam –VCB
a. Quá trình hình thành và phát triển
S au thời kỳ khôi phục và cải tạo kinh tế ở miền bắc Việt Nam, đi
đôi với việc mở rộng tổ chức và hoạt động của hệ thống Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam với nước ngoài, từ yêu cầu cấp thiết đó Ngân
hàng ngoại thương Việt Nam đã ra đời vào 1/4/1963, cho đến nay đã
tròn 37 năm phấn đấu để xây dựng và trưởng thành. Ngân hàng ngoại
thương đã đóng góp xuất sắc cho thắng lợi chung của dân tộc trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Điểm lại những hoạt động của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, ta
nhận thấy rằng có lúc thăng, lúc trầm nhưng nhìn chung Ngân hàng ngoại
thương Việt Nam đã đạt được bước tiến rõ rệt.
Giai đoạn đầu từ năm 1963 cho đến 1975, Ngân hàng ngoại thương
Việt Nam hoạt động trong tình trạng chống Mỹ và còn lệ thuộc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam như một chi nhánh của ngân hàng này và tách biệt hẳn
với hệ thống ngân hàng thế giới. Sự phát triển về kỹ thuật ngân hàng có thể
nói là rất chậm.
Giai đoạn từ 1975 đến 1989 là giai đoạn quá độ, bắt đầu có sự tiếp xúc
trực tiếp với các ngân hàng trên thế giới và tiếp thu dần các phương tiện kỹ
thuật thanh toán của ngân hàng tư bản trên thế giới. Mặc dù Ngân hàng
ngoại thương Việt Nam vẫn còn là một vệ tinh của Ngân hàng nhà nước Việt
Nam nhưng hoạt động được nới rộng hơn, hiệu quả hơn và đã đóng góp một
phần không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế nước nhà.
Giai đoạn từ 1990 đến 1994, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam theo
Pháp lệnh ngân hàng đã trở thành một ngân hàng thương mại quốc doanh
độc lập, bắt đầu theo một chính sách đổi mới hoạt động để tồn tại trong cơ

ngoại tệ, hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng ngoại thương Việt
Nam vẫn giữ được vị trí hàng đầu tại thị trường, các sản phẩm ngân hàng
mới của ngân hàng có chất lượng cao cũng được duy trì và phát triển.
Trong những năm đổi mới hoạt động, Ngân hàng ngoại thương Việt
Nam đã dần ý thức được trách nhiệm ngày càng cao của mình và chính điều
này đã góp phần bảo vệ và nâng cao uy tín của Ngân hàng ngoại thương Việt
Nam, chiếm được cảm tình và lòng tin của người dân, nhiều doanh nghiệp
quốc doanh và tư nhân Việt Nam. Mặc dù có sự cạnh tranh gay gắt giữa các
ngân hàng thương mại trong nước và ngoài nước nhưng Ngân hàng ngoại
thương Việt Nam vẫn là ngân hàng quen thuộc của đông đảo các hãng xuất
nhập khẩu lớn nhỏ. Đồng thời Ngân hàng ngoại thương Việt Nam đã tiến một
bước khá dài trên con đường hội nhập với môi trường thanh toán và cộng
đồng ngân hàng quốc tế, xứng đáng trở thành ngân hàng quốc tế có tầm cỡ.
Chắc chắn rằng với phưong châm đổi mới và phát triển, với ý thức
đầy bản lĩnh của một ngân hàng thương mại đối ngoại quốc gia, Ngân
hàng ngoại thương Việt Nam sẽ đáp ứng được đòi hỏi khắt khe của giai
đoạn mới, thích ứng với tình huống mới, tham gia vào tiến trình đổi mới
hệ thống ngân hàng Việt Nam, góp phần quan trọng vào sự phát triển
kinh tế của đất nước Việt Nam.
b. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.
Nắm bắt được tầm quan trọng của hoạt động tổ chức, trong thời gian
qua Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã triển khai mô hình tổ chức mới
theo loại hình doanh nghiệp nhà nước theo loại hình Doanh nghiệp Nhà nước
đặc biệt và sắp xếp lại tổ chức nội bộ để thực hiện các đề án hiện đại hoá công
nghiệp ngân hàng. Bên cạnh đó Ngân hàng Ngoại thương còn có kế hoạch cụ
thể về đào tạo lại nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực điều hành của
cán bộ quản lý, cán bộ kinh doanh và đội ngũ kĩ thuật viên ở trong và ngoài
nước nhằm đáp yêu cầu của công nghệ mới đang được áp dụng vào hệ thống
ngân hàng.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC

Phòng Quản lý các Đề án
Công nghệ
Phòng Thông tin Tín dụng
MẠNG LƯỚI TRONG NƯỚC
Sở Giao dịch
Các chi nhánh
Các công ty
MẠNG LƯỚI NGO I NÀ ƯỚC
Công ty T i chínhà
( Hong Kong )
Văn phòng đại diện
(Paris,Moscow,Singapore)
c. Các lĩnh vực hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam hiện nay đang hoạt động trong những lĩnh vực
sau đây :
• Cung cấp các dịch vụ tư vấn về tiền tệ, tín dụng thanh toán và ngân hàng
đối ngoại.
• Huy động vốn bằng tiền Việt Nam và ngoại tệ với mọi hình thức: vay của
các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; Vay vốn và tái chiết khấu tại
Ngân hàng Nhà nước .
• Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ
đối với các đơn vị sản xuất, kinh doanh và dịch vụ .
• Kinh doanh ngoại tệ, làm các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán và các dịch
vụ ngân hàng đối ngoại .
• Thực hiện chiết khấu các thương phiếu, tín phiếu kho bạc, mua bán chứng
khoán, các loại giấy tờ có giá.
• Bảo lãnh các khoản vay và thanh toán của các pháp nhân trong nước và
ngoài nước .
• Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán trong và ngoài hệ thống Ngân hàng
Ngoại thương .

trong lĩnh vực thanh toán Xuất nhập khẩu đặc biệt trong lĩnh vực tài trợ
thương mại.
Một số kết quả thanh toán Xuất nhập khẩu của Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam trong một vài năm gần đây được biểu thị dưới biểu số liệu sau:
Bảng 1: Tổng giá trị kim ngạch Xuất nhập khẩu thực hiện qua Ngân
hàng Ngoại thương trong một số năm gần đây so với tổng kim ngạch thanh
toán xuất nhập khẩu của cả nước:
Đơn vị: 1 triệu USD
NĂM
Tổng kim ngạch
Xuất nhập khẩu
cả nước
Xuất nhập khẩu qua Ngân hàng Ngoại thương
Tổng kim
ngạch
Tốc độ tăng
trưởng (%)
Tỷ trọng so với
cả nước (%)
± Tỷ trọng
(%)
1996 13926 5401.72 11.9 38.3 -21.3
1997 18405 5748.00 6.4 31.2 -7.1
1998 20250 5855.00 1.9 28.9 -2.3
1999 20003 5998.00 2.4 30.0 1.1
2000 23489 6577.00 9.6 28 -2.0
2001 29501 9175.00 39.4 31.1 2.1
Theo nguồn: Annual Report Vietcombank từ năm 1996 đến năm
2001
Qua bảng số liệu trên ta thấy việc thực hiện thanh toán xuất nhập khẩu

Thị phần
Năm 2000 Năm 2001 2000 2001
Tổng doanh số thanh
toán xuất nhập khẩu 6 580 9 175 39,4% 28,4% 31,1%
- Doanh số thanh toán XK 3 263 4 163 27,6% 28,3% 29,1%
- Doanh số thanh toán NK 3 317 5 012 51,1% 28,5% 33,0%
Nguồn: Annual Report Vietcombank năm 2000- 2001
Thanh toán xuất khẩu
Doanh số thanh toán xuất khẩu qua Ngân hàng Ngoại thương năm 2001 đạt 4.163 tr USD,
tăng 27,6 % so với năm 2000, đưa thị phần của VCB trong tổng kim ngạch xuất khẩu của
cả nước tăng từ 28,3% năm 2000 lên 29,1% năm nay. Như vậy, Ngân hàng Ngoại thương
vẫn duy trì và phát triển được thị phần của mình trong công tác thanh toán xuất.
Một số mặt hàng xuất khẩu có tỷ trọng cao trong doanh số thanh toán qua VCB
trong năm 2001 là dầu thô (2.221 tr USD), hải sản (384 tr USD), gạo (196 tr USD).
Chi nhánh HCM và Vũng Tàu có tỷ trọng thanh toán lớn trong hệ thống, tương ứng
là 52,1 % và 22,8 %. Trong năm 2001, Chi nhánh Vũng Tàu đạt tốc độ tăng trưởng doanh
số thanh toán xuất khẩu cao nhất, tăng 116,9% so với năm 2000, với mặt hàng dầu thô
chiếm tỷ trọng tới 98% trong tổng doanh số thanh toán hàng xuất của chi nhánh.
Thanh toán nhập khẩu
Doanh số thanh toán hàng nhập qua Ngân hàng Ngoại thương năm 2001 đạt 5.012 triệu
USD, tăng 51,1 % so với năm 2000, cao hơn nhiều so với tốc tộ tăng kim ngạch nhập khẩu
năm 2001 của cả nước (30,8 %), dẫn đến thị phần thanh toán hàng nhập khẩu của VCB
tăng lên 33,0 % từ 28,5 % năm 2000.
Doanh số thanh toán nhập khẩu một số mặt hàng chính trong năm 2001 của VCB là
xăng dầu (1.289 tr USD), máy móc thiết bị phụ tùng (465 tr USD), sắt thép (246 tr USD).
Sở giao dịch và Chi nhánh HCM có tỷ trọng thanh toán cao trong hệ thống tương ứng là
46,9 % và 26,5%. Trong năm 2001, Sở giao dịch đạt tốc độ tăng trưởng 67,1 %, và Vũng
Tàu đạt 79,7 %.
Tuy nhiên, cũng cần phải nhìn nhận rằng, một trong những yếu tố tác động làm
tăng mạnh doanh số thanh toán Xuất nhập khẩu qua VCB là sự tăng vọt giá cả một số mặt

(4)
(1) (6)
(5)
 Nhận và thông báo L/C , thông báo sửa đổi L/C
Bước (1) : L/C sau khi mở, được chuyển từ Ngân hàng phát hành sang
Ngân hàng thông báo (VCB), bộ phận chứng từ tại Ngân hàng làm nhiệm vụ
tiếp nhận thông qua hệ thống mạng vi tính ,thanh toán viên kiểm tra và xác
nhận mã đúng ( nếu L/C được chuyển bằng Telex) hoặc các mẫu điện
MT700,MT701 và MT707 (nếu bằng hệ thống SWIFT) , Kiểm tra mẫu chữ ký
được uỷ quyền của Ngân hàng đại lý ( trong trường hợp L/C được chuyển đến
bằng thư ).(Thông thường lần nhận L/C đầu tiên chỉ mang tính chất thông báo
của Ngân hàng phát hành về việc mở L/C cho người hưởng lợi biết và VCB
Thanh toán viên
Bộ phận nhận
chứng từ
Người hưởng lợi
( trong nước)
Trưởng/phó
phòng thanh toán
Ngân h ngphát h nh L/C à à
(nước ngo i)à
mang bộ L/C này mang tính chất thông báo sơ bộ và trên L/C có ghi “ L/C thông
báo – không có khả năng thanh toán)
Trong trường hợp kiểm tra mà L/C chưa có xác nhận mã ( nếu bằng Telex)
hoặc L/C không đúng với các mẫu điện MT700,MT701 và MT707 theo mạng
truyền tin SWIFT. Hoặc chưa xác định được mẫu chữ ký (nếu bằng thư) , thì
thanh toán viên thông qua người phụ trách và thông báo ngay cho Ngân hàng
phát hành L/C biết về bộ L/C đó mà không thông báo cho khách hàng (người
hưởng lợi trong nước). Trường hợp khách hàng có yêu cầu thông tin thì chỉ
giao cho khách hàng bản sao của L/C hoặc bản sao sửa đổi L/C và trên bản L/C

Trường hợp nhận được điện của Ngân hàng đại lý ghi rõ :” Các chi tiết đày đủ
gửi sau “ hay một câu có nội dung tương tự ,trên thông báo gửi khách hàng
phải ghi rõ : “ thông báo sơ bộ – chưa có hiệu lực thi hành”. Khi nhận được bản
L/C hặc sửa đổi chi tiết, thanh toán viên phải kiểm tra ,xác nhận mã ,mẫu điện
hoặc mẫu chữ ký như quy định ở trên .
Trường hợp VCB nhận được thông báo sửa đổi L/C , khi nhận được sửa đổi L/C
nếu Ngân hàng mở L/C yêu cầu thông báo lại ý kiến của khách hàng về việc sửa
đổi đó, tuỳ theo thời gian quy định trong sửa đổi L/C, trên thông báo gửi khách
hàng phải yêu cầu khách hàng có ý kiến lại bằng văn bản, khi nhận được trả lời
phải thông báo ngay cho Ngân hàng mở L/C biết. VCB sẽ không thông báo sửa
đổi L/C nếu VCB không phải là Ngân hàng thông báo gốc, đồng thời thông báo
ngay cho Ngân hàng mở L/C về việc thông báo đó.
Trường hợp Ngân hàng phát hành L/C yêu cầu Ngân hàng Ngoại thương xác
nhận L/C , tuỳ vào từng trường hợp cụ trình giám đốc xem xét việc xác nhận
hoặc không xác nhận, Yêu cầu Ngân hàng mở L/C ký quỹ hoặc không ký quỹ.
Nếu Ngân hàng Ngoại thương đồng ý xác nhận, trên thông báo phải ghi câu :’’
Chúng tôi thông báo L/C kèm theo sự xác nhận của chúng tôi- We hereby advise
this Credit without adding our confirmation” đồng thời phải thông báo ngay
cho Ngân hàng mở L/C biết.
Khi lập thông báo L/C hoặc sửa đổi L/C, thanh toán viên đồng thời lập phiếu
thu phí thông báo, phí sửa đổi, phí xác nhận (Đối với L/C xác nhận) theo biểu
phí dịch vụ hiện hành của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam .
Cụ thể trên phiếu ghi : Nợ : Tài khoản khách hàng
Có : Tài khoản thgu thủ tục phí thông báo
Thư thông báo L/C hoặc sửa đổi L/C được lập thành hai bản, một bản giao cho
khách hàng còn một bản lưu tạihồ sơ L/C . Thanh toán viên phải thông báo L/C
hoặc sửa đổi L/C gốc cho khách hàng và yêu cầu khách hàng ký nhận vào bản
lưu của Ngân hàng .
Trường hợp VCB trừ chối thông báo L/C thì phải thông báo ngay cho Ngân
hàng mở L/C biêt .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status