NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DNNQD CỦA NHTM - Pdf 64

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC
DNNQD CỦA NHTM
1.1 Hoạt động tín dụng của NHTM
1.1.1. Tổng quan về NHTM
• Lịch sử hình thành và phát triển của NHTM
Theo Hiệp định Basel II, “Ngân hàng” được định nghĩa như sau: “Ngân
hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa
dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán- và thực hiện
nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong
nền kinh tế”.
Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ghi: “ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ
ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này dể
cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Vậy sự hình thành của ngân hàng như thế nào và cùng với thời gian ngân
hàng được phát triển dưới những hình thức nào? Các nhà khoa học đều đồng ý
rằng hoạt động ngân hàng gần như đã xuất hiện cùng lúc với sự hình thành đời
sống kinh tế và xã hội của loài người. Thông qua nghiên cứu cũng như các bằng
chứng lịch sử cho thấy hoạt động ngân hàng đã ra đời từ khoảng 3000 đến 4000
năm trước công nguyên. Mỗi giai đoạn ngân hàng lại có những sự thay đổi
trong nhận thức cũng như hoạt động. Ngân hàng đã đi từ bước hình thành cực
kỳ thô sơ và chính nhu cầu phát triển của xã hội và nền kinh tế là nhân tố chính
thúc đẩy ngân hàng ngày một phát triển, nâng cao cả về số lượng lẫn chất lượng
các hoạt động, dịch vụ để trở thành một thành phần cực kỳ quan trọng trong nền
kinh tế.
Giai đoạn sơ khai của ngành ngân hàng ra đời khi các thiết chế tổ chức xã
hội bắt đầu được hình thành. Hoạt động của các ngân hàng sơ khai gồm có: đổi
tiền, bảo quản và giữ hộ tiền của các thợ vàng và những người giầu có cho vay
nặng lãi. Hoạt động của chúng mang tính chất gần giống như các tiệm cầm đồ
ngày nay. Các hoạt động này xuất phát từ việc hầu như mỗi quốc gia đều có
đồng tiền riêng. Quá trình giao lưu, buôn bán giữa các vùng, các lãnh thổ với


trò



“cầu nối”

giữa
người



thừa

vốn



người



nhu

cầu

về

vốn. Thông



tế,

ngân hàng

thương

mại
hình

thành

nên

quỹ

cho

vay

để

cung

cấp

tín

dụng



người

đi

vay

vừa

đóng
vai

trò là

người

cho

vay.
Với

chức

năng

trung

gian
tài chính
,

gia:

người

gửi

tiền,

ngân

hàng



người

đi
vay,

đồng

thời

thúc

đẩy

sự phát

triển

vốn

tạm

thời

nhàn

rỗi
của

mình dưới

hình

thức

lãi

tiền

gửi



ngân

hàng

trả

tiền

gửi



cung

cấp

các

dịch
vụ

thanh

toán

tiện lợi.
Đối

với

người

đi

vay,



phải

chi

phí

nhiều

về

sức

lực,

thời

gian

cho
việc

tìm

kiếm nơi

cung

ứng


sẽ

tìm

kiếm

được

lợi

nhuận

cho

bản
thân

mình từ

chênh

lệch

giữa

lãi

suất

cho



sở

để

tồn

tại



phát

triển

của

ngân
hàng

thương

mại.

Đối

với

nền

kinh

tế





đáp

ứng

nhu

cầu

vốn

để

đảm

bảo

quá

trình
tái

sản

năng

này,

ngân

hàng thương

mại

đã

biến

vốn

nhàn

rỗi

không

hoạt

động

thành
vốn

hoạt


năng

trung

gian
tài chính
được

xem



chức

năng

quan

trọng
nhất

của

ngân

hàng thương

mại



vay,

nó quyết

định

sự

tồn

tại



phát

triển

của
ngân

hàng.

Đồng

thời




trung
gian

thanh

toán

khi



thực

hiện

thanh

toán

theo

yêu cầu

của

khách

hàng

như

vụ
hoặc

nhập

vào

tài

khoản

tiền

gửi

của

khách

hàng

tiền

thu

bán

hàng



vai

trò


người

“thủ quỹ”

cho

các

doanh

nghiệp





nhân

bởi

ngân

hàng




toán

trên



sở

thực

hiện chức

năng

trung

gian

tín

dụng.

Bởi



thông
qua



dõi

các

khoản

thu,

chi.

Đó

chính



tiền

đề

để
khách

hàng

thực
hiện

thanh


nữa,

việc

thanh

toán

trực

tiếp

bằng

tiền

mặt

giữa

các

chủ

thể

kinh

tế

lớn,
đặc

biệt



với các

khách

hàng



cách

xa

nhau,

điều

này

đã

tạo

nên


hiện

chức

năng

trung

gian

thanh

toán



ý

nghĩa

rất to

lớn

đối

với
toàn



hàng

nhiều

phương

tiện

thanh

toán

thuận

lợi

như

séc,

uỷ

nhiệm
chi,

uỷ nhiệm

thu,



chọn

cho

mình

phương

thức

thanh

toán

phù

hợp.
Nhờ

đó



các

chủ

thể



phải

thanh

toán




gần

hay

xa



họ



thể

sử
dụng

một

phương


tế

sẽ

tiết

kiệm

được

rất

nhiều

chi

phí,

thời

gian,

lại

đảm bảo
được thanh toán an toàn. Như

vậy,



lưu

chuyển

vốn,

từ

đó

góp

phần

phát
triển

kinh

tế.

Đồngthời,

việc

thanh

toán



đến

tiết

kiệm

chi

phí

lưu
thông

tiền

mặt

như

chi

phí

in

ấn,

đếm



lợi
nhuận

cho

ngân hàng

thông

qua

việc

thu

lệ

phí

thanh

toán.

Thêm

nữa,





tài
khoản

tiền

gửi

của

khách

hàng.

Chức

năng này

cũng

chính





sở

hình


trong

hệ

thống

ngân

hàng,

hình

thành

nên

ngân
hàng

phát

hành

và các

ngân

hàng

trung

ngân

hàng

nữa.

Nhưng

với

chức
năng

trung

gian

tài chính



trung

gian thanh

toán,

ngân

hàng

đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không một Ngân hàng riêng lẻ
nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống Ngân hàng có
thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanh toán) gấp bội thông qua
hoạt động cho vay(tạo tín dụng).
1.1.2. Hoạt động tín dụng của NHTM
Tín dụng xuất phát từ chữ La tinh “Creditium” có nghĩa là tin tưởng, tín
nhiệm và trong tiếng Anh gọi là “Credit”. Cũng có thể hiểu nôm na “tín dụng” có
nghĩa là sự vay mượn. Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng
một lượng giá trị, dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang người
sử dụng, sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn. Trong mỗi một hành vi
tín dụng hai bên cam kết với nhau: Một bên giao một số tài hoá hay tiền bạc, còn
bên kia cam kết sẽ hoàn lại những đối khoản của số tài hoá đó trong một thời gian
nhất định và theo một số điều kiện nhất định nào đó.
Nhà kinh tế người Pháp, ông Louis Baundin, đã định nghĩa tín dụng
như là “một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai”. Ở đây,
chúng ta thấy yếu tố thời gian đã xen lẫn vào và cũng vì có sự xen lẫn đó, cho
nên có thể có sự bất trắc, rủi ro xảy ra và cần có sự tín nhiệm của hai bên
đương sự đối với nhau. Hai bên đương sự dựa vào sự tín nhiệm, sử dụng sự
tín nhiệm của nhau nên mới có danh từ tín dụng.
Những hành vi tín dụng có thể được thực hiện do bất cứ ai, chẳng hạn hai
người thường có thể cho nhau vay tiền. Tuy nhiên, với thời gian chúng ta thấy
một sự chuyên nghiệp đã xảy ra và ngày nay khi nói tới tín dụng người ta
thường nghĩ ngay tới các ngân hàng, vì các tổ chức này luôn làm những việc
như cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, ký thác…Mặt khác, trong một nền kinh tế đã
phát triển với thu nhập của những người làm công ăn lương gần tương đương
nhau và một hệ thống ngân hàng thế giới hiện đại thì mọi người chỉ có vay
mượn ngân hàng, hầu như không vay mượn lẫn nhau.
Hoạt động tín dụng có tầm quan trọng bậc nhất trong ngân hàng đặc biệt
là ở các nước đang phát triển và có nền kinh tế thị trường như ở nước ta. Đối
với hầu hết các ngân hàng, dư nợ tín dụng thường chiếm tới hơn 1/2 tổng tài sản

một yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng. Trong thực tế , một số nhân
viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở đánh giá mức độ tín
nhiệm về khách hàng mà lại chú trọng đến các bảo đảm, chính quan điểm này
đã ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay. Để thực hiện
được nguyên tắc này, phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát.
Tuy nhiên vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau nên trong một
số trường hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn lạm phát, ngoại lệ này
chỉ tồn tại trong một giai đoạn ngắn
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được trên cơ sở cam kết hoàn trả vô
điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như
hợp đồng tín dụng, khế ước…thực chất là lệnh phiếu trong đó bên đi vay cam
kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Các ngân hàng thương mại hiện nay thực hiện đa dạng các hình thức tín
dụng từ cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn .. đến bảo lãnh, cho thuê tài chính,
phục vụ cho nhiều đối tượng khách hàng. Có thể phân loại tín dụng theo nhiều
tiêu thức khác nhau như sau:
1.1.2.1 Phân chia theo thời hạn cho vay:
• Cho vay ngắn hạn: Là việc cho vay với thời hạn dưới một năm nhằm tài trợ
cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà nước, doanh
nghiệp, cá nhân ,hộ gia đình.
• Cho vay trung hạn: Theo quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam, cho vay trung hạn có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Tín dụng trung hạn
chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới
thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có
quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Trong nông nghiệp, chủ yếu cho
vay trung hạn để đầu tư vào các đối tượng sau: máy cày, máy bơm nước, xây
dựng các vườn cây công nghiệp như cà phê, điều…
Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn hình
thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là những

hàng, pháp luật, tư cách pháp nhân khách hàng…
• Cho vay không có bảo đảm
Khác với cho vay có bảo đảm, cho vay không có bảo đảm được dựa trên
uy tín, khả năng tài chính lành mạnh của khách hàng, lợi tức có thể có trong
tương lai cùng tình hình trả nợ trước đây. Với những doanh nghiệp, cá nhân mà
nguồn thu nhập ổn định, là khách hàng lớn của ngân hàng, hoạt động hiệu quả
có thể ngân hàng sẽ cho vay những khoản vay lớn mà thiếu giá trị tài sản đảm
bảo thậm chí không có tài sản đảm bảo. Ở Việt Nam, trong những năm 90 các
ngân hàng chỉ được phép cho vay có bảo đảm trừ các doanh nghiệp nhà nước
kinh doanh có hiệu quả và cho vay hộ nông dân từ 5 triệu đồng trở xuống. Ngày
29/12/1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm
tiền vay của các tổ chức tín dụng; theo nghị định này việc cho vay không có bảo
đảm được mở rộng hơn so với trước cho phép các tổ chức tín dụng được lựa chọn
khách hàng để cho vay không có đảm bảo khi cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài
hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển hoặc phương án sản xuất kinh doanh,
dịch vụ và đời sống. Tuy nhiên, khách hàng vay không đảm bảo phải hội đủ một
số điều kiện cơ bản sau:
- Có tín nhiệm với tổ chức tín dụng cho vay trong việc sử dụng vốn vay
và trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi
- Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi
có khả năng hoàn trả nợ hoặc có dự án, phương án phục vụ đời sống khả thi phù
hợp với quy định của pháp luật
- Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ
- Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của tổ
chức tín dụng nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hợp đồng tín
dụng, cam kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện pháp bảo
đảm bằng tài sản
- Tổng mức cho vay không đảm bảo và điều kiện cho vay không đảm bảo
do Ngân hàng Nhà nước quy định.
1.1.2.3. Phân chia theo hình thức tài trợ

chính, tín dụng rất phổ biến và cũng tạo điều kiện cho việc lưu chuyển vốn nhanh
hơn. Ở các nước có trình độ phát triển cao, các ngân hàng thương mại có mối
liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành cả một hệ thống hoạt động hiệu quả.
• Cho vay liên quan đến bất động sản:
Việc cho vay đầu tư bất động sản đã có thời gian đem lại lợi nhuận rất lớn
cho ngân hàng ở một số nước như Việt Nam, Thái Lan..Khi giá nhà, giá đất rơi
vào trạng thái đóng băng thì với các hoạt động tín dụng liên quan đến bất động
sản ngân hàng phải tăng cường sự giám sát, có sự điều chỉnh phù hợp mức cho
vay, định giá.. để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng
Ngoài các dịch vụ căn bản trên, hoạt động tín dụng của ngân hàng còn có
một số dịch vụ như:
 Bảo lãnh
Đây là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực
hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện
đúng nghĩa vụ với bên thứ ba. Bảo lãnh phát triển nhờ uy tín của ngân hàng
ngày được nâng cao. Bảo lãnh thường được áp dụng trong lĩnh vực xây lắp. Có
nhiều loại bảo lãnh : bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh
bảo hành, bảo lãnh tiền ứng trước, bảo lãnh thanh toán….Hoạt động bảo lãnh sẽ
giúp ngân hàng thu được phí bảo lãnh. Tuỳ từng trường hợp cụ thể và tuỷ vào
chính sách khách hàng của mỗi ngân hàng sẽ quy định khách hàng có phải có
bảo đảm cho khoản bảo lãnh hay không, khách hàng có thể được bảo lãnh mà
không cần tài sản bảo đảm hoặc phải có tài sản bảo đảm theo quy định hoặc có
thể sẽ phải ký quỹ một tỷ lệ nhất định đối với giá trị của khoản bảo lãnh, có thể
là 10%, 80% hay 100% số tiền bảo lãnh.

Trích đoạn Các nhân tố thuộc về bản thân các DNNQD
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status