NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỰ ÁN VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ - Pdf 64

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỰ ÁN VÀ
THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ
I) Dự án đầu tư
1) Khái niệm về đầu tư
Đầu tư với một nghĩa rộng nhất là sự bỏ ra và hi sinh những cái gì đó ở
hiện tại (như tiền, trí tuệ, sức lao động...) nhằm đạt được những kết quả có lợi
cho người đầu tư trong tương lai.
Đầu tư là quá trình sử dụng vốn đầu tư nhằm tái sản xuất giản đơn và
tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, của
địa phương, của ngành và của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ nói riêng.
Như vậy ta có thể hiểu đầu tư trên hai quan điểm:
- Theo quan điểm của chủ đầu tư: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh để
từ đó thu được vốn lớn hơn số vốn đã bỏ ra thông qua lợi nhuận.
- Theo quan điểm của xã hội (quốc gia): Đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát
triển để từ đó thu được hiệu quả kinh tế - xã hội vì mục tiêu phát triển quốc
gia.
2) Khái niệm dự án đầu tư
Một quốc gia muốn tăng trưởng và phát triển đòi hỏi phải đẩy mạnh các
hoạt động đầu tư. Có đẩy mạnh hoạt động đầu tư mới tận dụng được hết các
tiềm lực của nền kinh tế, thúc đẩy mọi hoạt động của nền kinh tế đi lên. Vấn đề
đặt ra là làm thế nào để đầu tư có hiệu quả, tức là làm thế nào để hoạt động
đầu tư vừa mang lại lợi ích cho nhà đầu tư, vừa phù hợp với mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước? Có thể khẳng định rằng đầu tư theo dự án
là điều kiện cần, quan trọng để đảm bảo một công cuộc đầu tư thành công,
hiệu quả.
Ta hãy xem xét các khái niệm về dự án đầu tư:
Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ, tài liệu trình bày một
cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt
được những hiệu quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong
tương lai.
Trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng

từ cơ chế đầu tư bằng vốn ngân sách đối với các doanh nghiệp Nhà nước có
tính chất bao cấp sang tín dụng đầu tư, mở rộng liên doanh, liên kết, thu hút
vốn trong nước và vốn nước ngoài. Do đó chính phủ đã tập trung hơn nguồn
vốn của ngân sách Nhà nước cho phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội. Đầu tư
của khu vực tư nhân được hình thành và hoạt động có hiệu quả phần lớn ở quy
mô vừa và nhỏ nhưng cũng có một số doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn, thu
hút nhiều lao động. Bộ mặt nền kinh tế đã thay đổi một cách cơ bản và phát
triển theo chiều hướng tích cực về mọi mặt. Tình hình huy động vốn đầu tư và
mức đầu tư trong những năm qua được thể hiện qua biểu sau:
Biểu 1: Đầu tư và tiết kiệm ở Việt Nam trong thời gian qua
Năm 2002 2003 2004 2005 2006
Đầu tư/GDP (%) 25.5 27.3 27.9 27.6 23.6
Tiết kiệm/GDP(%) 16.9 17.0 16.7 20.1 17.0
Qua số liệu trên cho thấy rằng nền kinh tế nước ta đã đạt được những
kết quả nhất định trong việc thúc đẩy các hoạt động đầu tư, huy động nguồn
vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt trong giai đoạn 1991 - 2003, mức
tiết kiệm và đầu tư trong GDP tăng mạnh, tốc độ tăng trưởng thời kỳ này
tương đối cao và ổn định. Năm 2003 có tỉ lệ đầu tư/ GDP là 27,3%, tiết kiệm/
GDP là 17,0% và đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trong suốt thời kỳ qua là
12,7%, tỉ lệ lạm phát dưới hai con số là 9,5%.Tuy nhiên nếu xét toàn cảnh nền
kinh tế và so sánh tình hình đầu tư của nước ta với các nước trong khu vực ta
thấy rằng mức tích luỹ và đầu tư của Việt Nam còn rất thấp. Tích luỹ của nền
kinh tế hạn hẹp, mức tiết kiệm (% trên GDP) gần như không tăng và chịu lệ
thuộc một phần vào lượng kiều hối bên ngoài. Tốc độ vốn đầu tư bình quân
hàng năm tăng nhanh từ 7,8% ở thời kỳ 1986 - 1990 lên 28,3% thời kỳ 1991 -
2003 đã giảm còn khoảng 15% suốt hai năm 2004 - 2005 và năm 2006 vẫn
tiếp tục xu hướng giảm. Thực tế đã cho thấy vốn đầu tư cho phát triển kinh tế
ở Việt Nam tuy đã có những kết quả ban đầu nhưng vẫn còn là một lĩnh vực
nóng bỏng và là một thách thức lâu dài đối với quá trình phát triển của Việt
Nam. Do đó cần phải có những chính sách thúc đẩy đầu tư phù hợp để tăng

Việt Nam nói chung hiện nay là rất thấp, công nghệ Việt Nam đang lạc hậu so
với các nước phát triển khoảng 50 - 100 năm. Trong các ngành công nghiệp, hệ
thống máy móc, thiết bị hiện tại lạc hậu từ 2 - 4 thế hệ so với thế giới và được
hình thành chắp vá từ nhiều nguồn. Các chỉ tiêu chủ yếu như mức tiêu hao
nhiên liệu, vật liệu thường lớn gấp 1,5 -2 lần so với mức chung của thế giới.
Giá thành sản phẩm cao, do nhiều yếu tố, nhưng trước hết là do công nghệ sử
dụng lạc hậu dẫn đến giá trị của sản phẩm thấp, khó có khả năng cạnh tranh
trên thị trường trong và ngoài nước. Cũng do sự bất cập của công nghệ nên
năng suất lao động rất thấp, tỉ lệ sản phẩm hỏng cao (năng suất lao động công
nghiệp chỉ đạt 30% mức trung bình của thế giới). Trình độ công nghệ thấp
cũng dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường do bản thân công nghệ và do sản
phẩm mà nó tạo ra, vì thế chi phí không chỉ của riêng doanh nghiệp mà của xã
hội phải bỏ ra để khắc phục ô nhiễm môi trường là lớn.
Việt Nam đang trong tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước,
các hoạt động đầu tư diễn ra sôi động, số lượng các dự án ngày càng nhiều,
yêu cầu của người tiêu dùng cũng ngày một cao hơn. Để đảm bảo tính khả thi
của các dự án đầu tư cần thiết phải đảm bảo đầu tư các trang thiết bị công
nghệ thích hợp, sản phẩm của dự án phải đáp ứng được các yêu cầu về kỹ, mĩ
thuật, chất lượng và cạnh tranh được trên thị trường. Việt Nam cần phải có
chính sách công nghệ và định hướng công nghệ trong thời gian tới để tăng
cường trình độ công nghệ của mình và đáp ứng được đòi hỏi của tình hình đầu
tư trong thời kỳ mới.
4) Chu trình của dự án đầu tư
Dự án đầu tư được xây dựng và phát triển trong một quá trình gồm
nhiều giai đoạn riêng biệt song gắn bó chặt chẽ với nhau và đi theo một tiến
trình lôgic được gọi là chu trình dự án.Có nhiều cách phân chia chu trình dự án
nhưng ở đây để tiện cho việc phân tích, ta phân chia thành 5 giai đoạn là: xây
dựng dự án, thực hiện dự án, vận hành dự án, đánh giá sau thực hiện dự án và
kết thúc dự án.
4.1. Giai đoạn xây dựng dự án

chế xã hội, thương mại, tài chính, kinh tế. Để thực hiện nhiệm vụ này phải thu
thập đầy đủ những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu về thị trường, môi
trường tự nhiên, các nguồn nguyên vật liệu, các chính sách có liên quan của
chính phủ, các đặc điểm kinh tế - văn hoá - xã hội của dân cư trong vùng.
Nghiên cứu khả thi còn được gọi là lập luận chứng kinh tế kỹ thuật, là
bước nghiên cứu dự án đầy đủ nhất, có nhiệm vụ tạo cơ sở để chấp thuận hay
bác bỏ dự án cũng như để xác định một phương án tốt nhất trong số các
phưong án còn lại. Nghiên cứu khả thi đúng như tên gọi của nó, nhằm chứng
minh khả năng thực hiện của dự án về tất cả mọi phương diện có liên quan.
Chuẩn bị tốt và kỹ lưỡng quá trình này sẽ làm giảm những khó khăn trong giai
đoạn thực hiện dự án cũng như cho phép đánh giá đúng đắn hơn tính hiệu quả
và khả năng thành công của dự án.
4.1.4 - Thông qua dự án (duyệt và thẩm định dự án)
Giai đoạn này thường được thực hiện với sự tham gia của các cơ quan
Nhà nước, các tổ chức tài chính và các thành phần tham gia dự án nhằm xác
minh lại toàn bộ những kết luận đã được đưa ra trong quá trình chuẩn bị và
phân tích dự án, trên cơ sở đó thông qua hay bác bỏ dự án. Dự án sẽ được
thông qua và đưa vào thực hiện nếu nó được chứng minh là có tính khả thi.
Ngược lại trong trường hợp còn có những bất hợp lý trong thiết kế dự án thì
tuỳ theo mức độ, dự án có thể được yêu cầu sửa đổi hay buộc phải xây dựng lại
hoàn toàn.
4.2. Giai đoạn thực hiện dự án
Thực hiện dự án là giai đoạn triển khai thực hiện dự án. Giai đoạn này
bao gồm một loạt các quá trình kế tiếp hoặc xen kẽ nhau từ khi thiết kế đến khi
đưa dự án vào vận hành khai thác.
Thực hiện dự án là kết quả của một quá trình chuẩn bị và phân tích kỹ
lưỡng. Song trong thực tế rất ít khi dự án được tiến hành hoàn toàn đúng như
hoạch định. Nhiều dự án đã không đảm bảo được tiến độ thời gian và chi phí
dự kiến, thậm chí một số dự án đã phải thay đổi thiết kế ban đầu do giải pháp
kỹ thuật không thích hợp hay do thiếu vốn... Nói chung những rủi ro buộc hoạt

Quá trình nghiên cứu, soạn thảo một dự án đầu tư được thực hiện theo
từng giai đoạn rất cẩn thận nhưng không thể tránh khỏi những sai sót nhất
định. Do đó, chúng ta cần phải có một quy trình thẩm định dự án thích hợp
nhằm phát hiện ra những sai sót để có biện pháp khắc phục, đảm bảo tính khả
thi của dự án.
Biểu 3: Chu trình phát triển của một dự án đầu tư
1.
II) Thẩm định dự án đầu tư
1) Khái niệm thẩm định dự án
Mỗi một hoạt động đầu tư đều có rất nhiều đặc điểm và sự phức tạp về
mặt kỹ thuật lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bất định. Do vậy trước khi
quyết định hoặc chấp thuận việc thực hiện một dự án, cấp có thẩm quyền cần
phải đánh giá toàn diện nội dung dự án xem dự án có thực sự có lợi nhuận
không, có đáp ứng được các mục tiêu phát triển chung của quốc gia hay không.
Nếu có thì bằng cách nào và đến mức độ nào. quá trình xem xét đánh giá dự án
nhằm đạt được các mục tiêu nói trên được gọi là thẩm định dự án đầu tư.
Ta hãy xem xét hai cách khái niệm sau:
Giai đoạn 1
Xây d ng d ánự ự
Thẩm định
dự án đầu tư
Nghiên cứu
khả thi
Nghiên cứu
tiền khả thi
Nghiên cứu
cơ hội đầu

Giai đoạn 5: Kết thúc
dự án

Trong sự phát triển tiếp theo của quản lý các dự án ở thập niên 70, sau cuộc
khủng hoảng dầu mỏ nổi lên hai đặc điểm: Một là số lượng cũng như mức độ
các rủi ro về kinh tế (nguồn nguyên liệu cạn kiệt, khan hiếm...) xã hội (thất
nghiệp gia tăng, lạm phát cao... ) chính trị (không ổn định...) đã đưa vào dự án
các mô hình xác suất thống kê cho phép tính đến độ bất định của các dữ kiện.
Hai là cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ tin học (máy tính
điện tử và các phần mềm tương ứng) người ta đã tiến hành mô phỏng để so
sánh nhiều phương án khác nhau (làm nhiều tính toán đơn giản thay vì một
tính toán duy nhất nhưng phức tạp như trước đây). Giai đoạn thập niên 80
đánh dấu bằng sự hình thành ngày càng nhiều các dự án kinh tế vi mô và các
dự án khu vực với sự tham gia cùng một lúc của nhiều quốc gia trong đó có dự
án liên kết giữa các nước công nghiệp phát triển. Cuối cùng trong việc lập,
phân tích, quản lý dự án những năm gần đây nổi lên một số vấn đề mới như
làm thế nào để nâng cao chất lượng các dự án mang tính chất nghiên cứu phát
triển, chú trọng đến các vấn đề định tính như: đặc điểm văn hoá, ảnh hưởng
môi trường sinh thái, giải quyết công ăn việc làm...
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các quốc gia là các công
cuộc đầu tư có quy mô ngày càng lớn và tính đa dạng cao. Cạnh tranh trên thị
trường trở nên gay gắt, khoảng thời gian mà mỗi sản phẩm trụ được trên thị
trường ngày một ngắn. Vì vậy việc hình thành ý tưởng dự án, lập dự án cũng
như quản lý tốt dự án trở thành một vấn đề hết sức bức thiết.
Mỗi doanh nghiệp thường phải tiến hành một lúc nhiều dự án liên quan,
phụ thuộc lẫn nhau (dự án sản phẩm mới thường đi liền với nhu cầu thay đổi
cơ cấu tổ chức, tin học hoá doanh nghiệp...) số lượng dự án nhiều, quy mô dự
án cũng lớn lên và phức tạp hơn do sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ,
nhiều dự án đòi hỏi phải có chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau cùng
tham gia. Trong khi đó các dự án phải đứng trước những hạn chế về kinh tế
như nguồn lực có hạn, những vấn đề về môi trường sinh thái, yêu cầu ngày
càng cao của khách hàng... Những đòi hỏi ngày càng nghiêm khắc đó của thực
tế buộc các nhà đầu tư phải quan tâm đến việc nghiên cứu tổ chức tối ưu toàn

thẩm định dự án. Trên thực tế, sau khi thẩm định một dự án, bộ phận thẩm
định sẽ có ý kiến đánh giá về dự án và có yêu cầu chủ đầu tư hoàn thiện bổ
xung thông tin trong trường hợp dự án có thiếu sót hoặc có ý kiến bác bỏ đối
với những dự án không đáp ứng được yêu cầu. Thông qua đó, chủ đầu tư sẽ
xác định và lựa chọn được phương án đầu tư tốt nhất, rủi ro thấp nhất đồng
thời loại bỏ được các phương án đầu tư không hiệu quả.
Công tác thẩm định dự án đầu tư không chỉ có ích đối với nhà đầu tư mà
còn có ý nghĩa rất quan trọng đối với Nhà nước. Bởi lẽ, một doanh nghiệp khi
có dự án đầu tư sẽ có rất nhiều mục tiêu cụ thể nhưng quy tụ lại vẫn là mục
tiêu lợi nhuận. Khả năng sinh lời càng lớn thì càng hấp dẫn doanh nghiệp
tham gia đầu tư. Vì vậy, khi lập dự án đầu tư, chủ đầu tư thường có khuynh
hướng thiên về mục tiêu tạo ra nhiêu lợi nhuận cho mình mà không quan tâm
đúng mức đến các lợi ích xã hội khác. Trách nhiệm của bộ phận thẩm định dự
án là đánh giá dược tính phù hợp của dự án đối với quy hoạch phát triển
chung của ngành, vùng lãnh thổ và của cả nước. Đặc biệt phải xác định được
phần lợi ích mà dự án đóng góp cho xã hội và phần chi phí mà xã hội phải bỏ
ra để từ đó xem xét khả năng sinh lợi của dự án trên phuơng diện xã hội. Từ đó
có kết luận loại bỏ những dự án không có hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội hoặc
hiệu quả thấp. Điều này sẽ đảm bảo các công cuộc đầu tư đều đóng góp vào lợi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status