Hoạt động nhập khẩu rượu tại Công ty TNHH Thương mại và Xuất nhập khẩu Tân Thịnh - Pdf 64

www.kilobooks.com – Thư viện điện tử Việt Nam
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP CUỐI KHÓA
Đề tài: “Hoạt động nhập khẩu rượu tại
công ty TNHH thương mại và XNK Tân
Thịnh”
GVHD Th.S Nguyễn Thị Thúy Hồng
Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thùy
MSSV CQ482803
Lớp KTQT48B
LỜI MỞ ĐẦU
Trang 1
www.kilobooks.com – Thư viện điện tử Việt Nam
1. Tính cấp thiết của việc lựa chọn đề tài
Đất nước ta từ sau đổi mới cùng với chính sách mở cửa phát triển nền
kinh tế thị trường đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong nhiều lĩnh vực đặc
biệt là kinh tế, đã biến nước ta từ một nước nghèo nàn lạc hậu trở thành một
nước có nền kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng
cao và mở rộng quan hệ với nhiều quốc gia trên thế giới. Điều này đã khẳng
định một điều, mở của hội nhập kinh tế quốc tế là một bước đi đúng đắn của
Đảng và Nhà nước.
Chỉ khi hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả thì chúng ta mới tạo ra
được thế đứng mới trên thương trường quốc tế, mới hạn chế được những đối
xử không công bằng. Tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta có thể
tranh thủ được nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến để đáp ứng với yêu
cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bên cạnh đó còn tạo điều kiên
cho chúng ta mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc tiêu thụ sản phẩm. Mở cửa hội nhập do đó không chỉ là để các doanh
nghiệp của ta vươn ra, mà còn để các doanh nghiệp nước ngoài đi vào sản
xuất và kinh doanh ở nước ta.
Trong hội nhập kinh tế quốc tế thì thương mại quốc tế là một lĩnh vực
hoạt động đóng vai trò mũi nhọn thúc đẩy nền kinh tế trong nước hội nhập với

động nhập khẩu rượu tại công ty Tân Thịnh
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu với mục đích tìm hiểu thực trạng hoạt động
nhập khẩu rượu tại công ty Tân Thịnh và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn
thiện hoạt động đó
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:
Thứ nhất, Tổng quan về công ty TNHH thương mại và XNK Tân Thịnh
Thứ hai, Thực trạng hoạt động nhập khẩu rượu tại công ty TNHH thương mại
và XNK Tân Thịnh
Thứ ba, Định hướng và môt số giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu
rượu tại công ty Tân Thịnh
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu ở đây là hoạt động nhập khẩu rượu
Trang 3
www.kilobooks.com – Thư viện điện tử Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: Hoạt động nhập khẩu rượu ở công ty Tân Thịnh
Thời gian: Từ năm 2005 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng các phương pháp duy vật lịch sử, nghiên cứu thống kê,
phân tích số liệu và dự báo để phân tích thực trạng và đưa ra một giải pháp
nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu rượu tại công ty Tân Thịnh
5. Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo đề tài bao gồm 3 chương
chính:
Chương 1: Tổng quan về công ty TNHH thương mại và XNK Tân
Thịnh
Chương 2: Thực trạng hoạt động nhập khẩu rượu tại công ty TNHH
thương mại và XNK Tân Thịnh
Chương 3: Định hướng và một số giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập

thì đây là một công ty nhỏ, số vốn huy động được còn hạn chế, kinh nghiệm
còn non nớt, chưa có thương hiệu trên thị trường và mới bước đầu tham gia
Trang 5
www.kilobooks.com – Thư viện điện tử Việt Nam
vào hội nhập kinh tế quốc tế nên thông tin có được về thị trường các nước bạn
hàng là rất ít.
Tuy nhiên chỉ sau 3 năm hoạt động kể từ khi được thành lập vào năm
1999 công ty đã có những bước khởi sắc đáng kể. Hoạt động kinh doanh đã
dần đi vào ổn định, công ty đã có một lượng khách hàng thân thiết, có những
đối tác làm ăn tin cậy, uy tín của công ty ngày càng được nâng cao.
Hiện nay Công ty đang trên đà phát triển và ngày càng lớn mạnh với
nhiều loại mặt hàng rượu có mẫu mã phong phú, đa dạng.
1.2. CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA CÔNG TY
Hiện tại chức năng chủ yếu của công ty là buôn bán và là nhà phân
phối các sản phẩm rượu nhập khẩu. Thị trường mà công ty cung cấp chủ yếu
là trên địa bàn Hà Nội và một số tỉnh thành lân cận. Bên cạnh đó công ty cũng
đang không ngừng nghiên cứu để nắm bắt những nhu cầu mới trên thị trường
để tìm cách thỏa mãn những nhu cầu đó.
Đi đôi với chức năng trên thì công ty Tân Thịnh còn phải thực hiện
những nhiệm vụ như sau:
+Thực hiện kinh doanh theo đúng ngành nghề đã được ghi trong giấy phép
kinh doanh.
+Xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và kế hoạch khác có liên
quan đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của công ty
+Thực hiện các cam kết trong hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng
kinh tế
+Thực hiện tốt chính sách cán bộ, chế độ quản lý tài sản, lao động tiền lương,
sử dụng phân công lao động hợp lý, đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ công nhân
viên của công ty để không ngừng nâng cao trình độ văn hoá, nghiệp vụ
chuyên môn

doanh
Cửa hàng
và kho dự
trữ
Phó giám
đốc
Phó giám
đốc
Giám đốc
Phòng kế
toán
www.kilobooks.com – Thư viện điện tử Việt Nam
-Giám sát và kiểm tra tất cả các hoạt động về sản xuất kinh doanh và đầu tư
của công ty
-Là người đề xuất các chiến lược kinh doanh
-Phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm
-Quyết định các chi tiêu về tài chính
-Giám sát toàn bộ hệ thống hoạt động của công ty
-Giám đốc được quyền tuyển dụng hoặc cho thôi việc người làm công không
đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, có quyền buộc thôi việc người làm
công vi phạm nội quy, quy chế hoạt động của công ty
1.3.2. Phó giám đốc
Giúp việc cho giám đốc có hai phó giám đốc là phó giám đốc phụ trách
kinh doanh và phó giám đốc phụ trách tài chính.
Phó giám đốc kinh doanh
-Chịu trách nhiệm trước giám đốc về mọi hoạt động kinh doanh trong công ty
-Nhận chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh của công ty
-Tổ chức thực hiện hoàn thành kế hoạch của công ty giao đồng thời đảm bảo
kế hoạch nguồn hàng bên ngoài để thu về lợi nhuận cao nhất
-Quản lý, điều hành và đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên

về sản xuất kinh doanh, báo cáo phân tích hoạt động kinh tế trong công ty
từng tháng, từng quý, lên bản nhu cầu về tài chính để giám đốc xử lý.
Kế toán trưởng được quyền kiểm tra giá cả các loại hàng hóa mua về.
Được tham gia các cuộc họp của lãnh đạo bàn về công tác kinh doanh, công
tác kế toán, tài chính, công tác khen, thưởng.
Dưới quyền kế toán trưởng còn có hai kế toán viên chuyên phụ trách về
việc ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh doanh hàng ngày, chịu trách
nhiệm về tính chính xác, chân thực của các số liệu hàng ngày.
1.3.4. Phòng xuất nhập khẩu
Phần lớn các sản phẩm kinh doanh của công ty là hàng nhập khẩu, do
đó mà phòng xuất nhập khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn
đầu vào cho công ty.
Phòng xuất nhập khẩu có các chức năng chính như sau:
-Tìm kiếm đối tác, tìm hiểu thị trường trong và ngoài nước để xây dựng kế
hoạch và tổ chức thực hiện phương án kinh doanh xuất nhập khẩu và các kế
hoạch khác có liên quan của công ty
Trang 9
www.kilobooks.com – Thư viện điện tử Việt Nam
-Tham mưu cho giám đốc trong quan hệ đối ngoại, chính sách xuất nhập
khẩu, luật pháp Việt Nam và quốc tế về hoạt động kinh doanh này. Giúp giám
đốc chuẩn bị các thủ tục hợp đồng, thanh toán quốc tế và các hoạt động ngoại
thương khác.
-Thực hiện các hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu và khi được ủy quyền
được phép ký các hợp đồng thuộc lĩnh vực này.
-Giúp giám đốc các cuộc tiếp khách, đàm phán, giao dịch, ký kết hợp đồng
với khách hàng nước ngoài
1.3.5. Phòng kinh doanh
Phòng kinh doanh của công ty bao gồm 6 nhân viên, được phân công
phụ trách theo từng phân đoạn thị trường cụ thể. Các nhân viên kinh doanh có
trách nhiệm bán hàng, cung ứng dịch vụ thông qua giao dịch trực tiếp với

Ngoài ra công ty còn có hai nhân viên phụ trách lái xe vận chuyển và
hai nhân viên marketing
Các lái xe có trách nhiệm vận chuyển hàng hóa theo yêu cầu của khách
hàng, tự chịu trách nhiệm về những mất mát, hư hỏng trong quá trình vận
chuyển hàng, có trách nhiệm bảo quản, bảo dưỡng phương tiện vận chuyển,
không sử dụng phương tiện của công ty vào việc khác khi chưa có sự đồng ý
của giám đốc
Các nhân viên marketing có nhiệm vụ tìm hiểu, điều tra thu thập các
thông tin hàng ngày trên thị trường, xử lý và sắp xếp những thông tin đó
nhằm đưa ra những biện pháp hữu hiệu giúp công ty và ban lãnh đạo đưa ra
quyết định phù hợp. Các nhân viên này còn có nhiệm vụ chào hàng, chiêu
hàng, giúp công ty mở rộng thị trường, tổ chức thực hiện các chương trình
quảng bá thương hiệu hàng hóa mà doanh nghiệp kinh doanh, thực hiện các
chương trình khuyến mại, hội nghị khách hàng…nhằm tạo mối quan hệ qua
lại tốt đẹp với khách hàng và đảm bảo chữ tín.
1.4. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY
1.4.1. Đặc điểm sản phẩm kinh doanh của công ty
Theo như trong giấy phép đăng ký kinh doanh thì công ty TNHH
thương mại và XNK Tân Thịnh được phép kinh doanh xuất nhập khẩu các
mặt hàng tiêu dùng, trong đó mặt hàng kinh doanh chính hiện nay của công ty
là các sản phẩm rượu nhập khẩu. Đây là một trong những mặt hàng được xếp
Trang 11
www.kilobooks.com – Thư viện điện tử Việt Nam
vào nhóm hàng tiêu thụ đặc biệt và mặt hàng này cũng chủ yếu hướng tới
phục vụ nhu cầu của một giới nhất định đó là nam giới.
Ở Việt Nam hiện nay nếu so sánh thị phần rượu ngoại với rượu nội thì
rượu ngoại chiếm tỉ trọng thị phần cao hơn khoảng 80% bởi vì theo tâm lí
chung người việt nam thích dùng các loại rượu ngoại hơn, đặc biệt rượu ngoại
thường được người tiêu dùng lựa chọn làm quà biếu trong các dịp lễ tết do
vậy mà nhu cầu về rượu ngoại ngày càng tăng cao.

doanh thì tổng số lao động có hợp đồng dài hạn cũng như ngắn hạn với công
ty đều có xu hướng tăng lên. Nếu như trong năm đầu mới thành lập số lượng
lao động của công ty chỉ có 5 người thì đến năm 2007 con số này đã tăng gấp
đôi. Năm 2007 công ty có tổng số 15 lao động, sang năm 2008 công ty đã
phải sử dụng tổng số 18 lao động tăng 15%. Không dừng lại ở con số đó, do
năm 2009 hoạt động kinh doanh của công ty đạt kết quả tương đối tốt, công ty
đã mở rộng qui mô hơn chính vì thế mà tổng số lao động đã tăng vọt lên 22
lao động tăng 22,3 % so với năm 2008.
Bảng 1.2.Cơ cấu lao động của công ty (ĐVT %)
Loại lao động 2007 2008 2009
Có bằng đại học 15,3 16,7 18,9
Có bằng trung học 54,8 54,6 47,8
Cán bộ khác 29,9 28,7 33,3
Tổng cộng 100 100 100
Nguồn: Phòng kế toán
Không những số lượng lao động trong công ty tăng lên mà cơ cấu lao
động cũng có sự thay đổi đáng kể đặc biệt có sự tăng lên của loại lao động có
bằng đại học. Nhìn vào bảng trên, năm 2007 công ty có 15,3% là lao động có
bằng đại học, năm 2008 loại lao động này chiếm 16,7% tăng 9,2% so với
năm 2007 và đến năm 2009 đã tăng lên 18.9% tăng 13,3% so với năm 2008.
Sự chuyển biến tốt đẹp này cũng một phần do chính sách của công ty muốn
thu hút những lao động có trình độ về làm việc, đồng thời công ty đã sử dụng
Trang 13
www.kilobooks.com – Thư viện điện tử Việt Nam
tương đối tốt quỹ tiền thưởng nhằm khuyến khích người lao động làm việc có
hiệu quả hơn. Tuy nhiên, sự tăng lên này của lao động có bằng đại học cũng
đang còn chưa cao do đó vẫn còn tồn tại một số khó khăn trong quá trình tổ
chức hoạt động kinh doanh.
1.4.4. Đặc điểm về khách hàng và bạn hàng
Khách hàng của công ty

2.1.1. Các dòng rượu đặc trưng trên thế giới
Hầu hết các quốc gia trên thế giới ngày nay đều có những loại rượu
riêng đặc trưng cho quốc gia mình, do đó mà trên thế giới có rất nhiều loại
rượu khác nhau với nhiều mùi vị khác nhau. Tuy nhiên trên thế giới hiện nay
đang thịnh hành các dòng rượu chính sau:
+Whisky: Là thức uống có độ cồn cao, chưng cất từ ngũ cốc, có nguồn
gốc từ các dòng tu sĩ ở Ireland, sản xuất để phục vụ cho các buổi lễ và bán ra
ngoài, sau đó được truyền bá sang Scotlen và một số nước khác. Whisky là
sản phẩm chưng cất từ những hạt lúa đại mạch, lúa mạch đen bắp và các loại
ngũ cốc có hạt nhỏ khác. Hiện nay trên thế giới có 4 nhà sản xuất rượu
Whisky nổi tiếng đó là Scotch Whisky, Canadian Whisky, American Whisky
và Irish Whisky.
+Brandy: Theo nghĩa rộng nhất là loại rượu mạnh được chế biến từ sự
chưng cất của rượu vang hay từ trái cây nghiền nát rồi ủ lâu trong thùng gỗ.
Thùng gỗ cho phép ôxy hoá nhẹ brandy, brandy ngấm màu của gỗ để trở
thành màu hổ phách và hấp thụ hương thảo mộc từ gỗ. Khi brandy đủ tuổi,
nồng độ sẽ được giảm bằng cách cho thêm nước cất. Brandy bao gồm 3 nhóm
chính là Brandy nho, Brandy táo và Brandy hoa quả
Brandy của Pháp gồm hai loại nổi tiếng nhất là Cognac và Armagnac
Cognac: Là một loại rượu mạnh sản xuất tại vùng Cognac của Pháp, được
chưng cất từ loại rượu nhẹ sản sinh trong tiến trình lên men nho quả, sau một
thời gian ủ trong thùng gỗ sồi được đem ra đóng chai và bán khắp thế giới.
Armagnac: Được làm ở vùng Gascony, phía nam Bordeaux, chúng cũng được
ủ trong thùng gỗ sồi địa phương, sau đó pha trộn cho các chất trong rượu
quyện vào nhau rồi đem đóng chai.
Trang 15
www.kilobooks.com – Thư viện điện tử Việt Nam
+Vodka: Là loại rượu mạnh không màu làm từ bất cứ chất liệu nào.
Lúc mới chưng cất Vodka đạt đến 95 độ cồn, sau giảm dần còn 40 – 50 độ.
Vodka không nhất thiết phải qua khâu ủ, nhưng cần xử lý nhằm loại bỏ hương

Vang Đức: thường là vang trắng, nhẹ, mát và thơm hương trái cây.
Vang Mỹ: có giống nho riêng là Zinfandel, và có hai bang trồng nho chính là
Californa và New York.
Vang Úc: Mùi vị rượu thơm, đậm mùi nho và trái cây, đặc biệt là vang trắng
Các sản phẩm rượu trên đang rất được ưa chuông trên thị trường quốc
tế và tại nước ta cũng vậy do đó việc kinh doanh các loại rượu này là một
hướng đi đúng của công ty nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân
trong nước.
2.1.2. Giới thiệu các sản phẩm rượu nhập khẩu của công ty Tân Thịnh
Công ty Tân Thịnh hiện đang kinh doanh rất nhiều các sản phẩm rượu
ngoại với mẫu mã đa dạng phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của nhiều đối tượng
khách hàng. Dưới đây là bảng giới thiệu các sản phẩm rượu của công ty:
Bảng 2.1. Giới thiệu các sản phẩm rượu nhập khẩu của công ty Tân Thịnh
Stt Loại rượu Dung tích Nồng độ Xuất xứ
WHISKY
1 Whyte & Mackey hộp giấy 70cl 40% Scotland
2 Why & Mackey 13 years 70cl 40% Scotland
3 Why & Mackey 22 years 70cl 43% scotland
4 Crow 99 70cl 35% Thai lan
5 Crow 99 35cl 35% Thai lan
6 Glenfiddich 70cl 43% Scotland
7 Grand’s 70cl 43% scotland
8 Sir Edward’s 450cl 40% scotland
COGNAC
9 Godet XO 70cl 40% Phap
10 Hemery XO 70cl 40% Phap
11 Doubbe VSOP 50cl 40% Phap
ARMAGNAC
12 Chabot Extra 70cl 40% Phap
13 Chabot 20YO 70cl 40% Phap

39 Lathibauth Melot 75cl 12% Phap
40 Bordeaux Andre 75cl 12% Phap
41 Bordeaux 2004 75cl 12,5% Phap
42 Bordeaux Roc 2003 75cl 12% Phap
42 Vang Kings Valley 75cl 11% Phap
43 Premier Baron 75cl 11,5% Phap
44 Billygoat Caberbt 75cl 13,5% Austalia
45 Billi goat Chardonay 75cl 13.5% Australia
Nguồn: Phòng xuất nhập khẩu
Trang 18
www.kilobooks.com – Thư viện điện tử Việt Nam
Từ bảng trên có thể thấy các sản phẩm mà công ty kinh doanh chủ yếu
được nhập khẩu từ Pháp, điều này là do các sản phẩm rượu từ nước Pháp du
nhập vào nước ta từ rất sớm do vậy mà người tiêu dùng trong nước đã quen
với việc sử dụng các sản phẩm rượu từ Pháp. Hơn nữa trong những ngày đầu
mới tham gia vào kinh doanh thì bạn hàng mà công ty chọn làm đối tác là các
nhà sản xuất rượu đến từ Pháp do đó Pháp đã trở thành thị trường truyền
thống và đáng tin cậy của công ty.
Bên cạnh các loại rượu có xuất xứ từ Pháp chiếm tỉ trọng lớn trong các
mặt hàng kinh doanh của công ty thì công ty cũng đang kinh doanh rất nhiều
các sản phẩm khác có xuất xứ từ nhiều quốc gia như Scotlen, Mỹ, Balan…
Với những chủng loại phong phú đa dạng như trên công ty hi vọng sẽ
đem lại cho khách hàng của mình sự hài lòng và an tâm khi sử dụng các sản
phẩm do công ty cung cấp.
2.2. QUY TRÌNH NHẬP KHẨU RƯỢU TẠI CÔNG TY TNHH
THƯƠNG MẠI VÀ XNK TÂN THỊNH
Quy trình nhập khẩu của công ty Tân Thịnh được thực hiện qua các
bước sau đây:
2.2.1. Nghiên cứu thị trường
Công tác nghiên cứu thị trường là xuất phát điểm để định ra chiến lược

Nhận xét:
Thông qua thực trạng của quá trình nghiên cứu thị trường, nhìn chung
công tác tìm hiểu nghiên cứu thị trường trong nước được công ty tiến hành
tương đối tốt, phân tích nhu cầu, giá, đối thủ cạnh tranh trên cơ sở tìm hiểu
thực tế cũng như suy luận rõ ràng. Công ty đã chỉ rõ được những nhân tố ảnh
hưởng đến nhu cầu trong nước từ đó đưa ra những dự báo sát với thực tế và
có kế hoạch cụ thể trong hoạt động nhập khẩu. Tuy nhiên với quy mô nhỏ nên
khả năng thâm nhập vào thị trường mới của công ty còn hạn chế do vậy mà
bỏ qua nhiều thị trường tiềm năng.
Nghiên cứu thị trường quốc tế
Công tác nghiên cứu thị trường quốc tế được công ty tiến hành nghiên
cứu ở một số thị trường mà tại đó công ty có nhiều đối tác cung cấp các sản
phẩm hàng hóa cho công ty. Mục đích nghiên cứu thị trường quốc tế đối với
hoạt động nhập khẩu là để biết về giá cả, các điều kiện thanh toán, khối lượng
cung ứng, thời gian cung cấp, và sự ưu đãi từ chính phủ nước xuất khẩu…
Trang 20
www.kilobooks.com – Thư viện điện tử Việt Nam
những yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của quá trình kinh
doanh và uy tín của công ty đối với khách hàng.
Công ty TNHH thương mại và XNK Tân Thịnh khi nghiên cứu thị
trường quốc tế thường sử dụng hai phương pháp là nghiên cứu trực tiếp và
gián tiếp. Do kinh phí còn hạn hẹp nên nghiên cứu bằng hình thức trực tiếp
thường đem lại những thông tin chính xác về thị trường nhưng lại rất ít được
sử dụng. Hiện tại công ty chủ yếu sử dụng hình thức nghiên cứu gián tiếp qua
sách báo, tạp chí, thông qua các trung tâm thông tin kinh tế đối ngoại hoặc
thông qua thông tin tự quảng cáo của đối tác. Hình thức nghiên cứu thị trường
này cho phép công ty giảm được chi phí nhưng kết quả đem lại không cao do
thiếu tính thực tế. Từ quá trình nghiên cứu thị trường quốc tế công ty Tân
Thịnh đã tiến hành giao dịch với rất nhiều đối tác thuộc một số thị trường như
Pháp, Balan, Mỹ, Scotlen…

nhiều thời gian chờ đợi để có được thông tin từ đối tác do thời gian chuyển
thư tín dài, do đó mà công ty có thể sẽ mất đi những cơ hội mua bán tốt hơn
đồng thời công ty cũng sẽ lúng túng trong việc đoán ý đồ của đối tác. Để khác
phục nhược điểm trên thì công ty đã rất chú trọng đến nội dung của thư đồng
thời không ngừng đạo tạo đội ngũ nhân viên giỏi để việc đàm phán là có lợi
nhất.
+ Giao dịch đàm phán qua Fax và điện thoại
Trong nhiều trường hợp thời gian sẽ không cho phép sử dụng hình thức
giao dịch qua thư, đó là những lúc công ty cần kí được hợp đồng trong thời
gian ngắn để nhập khẩu kịp thời hàng hóa cần thiết, khi đó công ty sẽ phải
thực hiện giao dịch đàm phán qua Fax hoặc điện thoại. Bằng cách này công ty
sẽ rút ngắn được thời gian giao dịch, nhanh chóng đi đến thống nhất và kí kết
hợp đồng với đối tác. Bên cạnh ưu điểm của hình thức này là nhanh chóng, dễ
dàng, đảm bảo tính thời điểm thì hình thức này cũng có những nhược điểm
như thời gian giao dịch bị hạn chế vì cước phí Fax và điện thoại quốc tế rất
cao, điều này làm chi phí giao dịch tăng dẫn đến giá thành của sản phẩm tăng,
gây ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty. Ngoài ra đàm phán qua điện thoại
rất dễ bị hiểu sai do dùng ngoại ngữ trong đàm phán, với thời gian nhanh gấp
nên sẽ không thể có thời gian cân nhắc, suy nghĩ, chỉ cần một chút sai sót sẽ
dẫn đến tranh chấp và khiếu kiện, quá trình giải quyết khó khăn vì giao dịch
Trang 22
www.kilobooks.com – Thư viện điện tử Việt Nam
bằng miệng, không có gì làm bằng chứng cho những thỏa thuận quyết định
trao đổi.
Ký kết hợp đồng nhập khẩu
Sau khi giao dịch đàm phán xong với đối tác nước ngoài công ty sẽ tiến
hành ký hợp đồng nhập khẩu. Trong quá trình ký kết hợp đồng công ty cũng
đã có những kinh nghiệm nhất định và luôn thận trọng, thực hiện nghiêm túc,
đúng pháp luật và đảm bảo lợi ích cho cả hai bên. Sau khi hợp đồng được ký
kết, quan hệ pháp lý được xác lập và các bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng

có nhiều chuyển biến đáng kể, kim ngạch nhập khẩu rượu liên tục tăng qua
các năm. Sự gia tăng này là do công ty đã không ngừng đổi mới trong cách
làm việc, cũng như nghiên cứu tìm ra những thị trường tiềm năng, phân tích
để tìm ra những điểm yếu và mạnh của mình để từ đó tìm ra những giải pháp
phù hợp, đưa công ty ngày càng phát triển. Bên cạnh đó là sự mở rộng hoạt
động kinh doanh của công ty ra các thị trường mới và với các đối tác mới,
điều này chứng tỏ công ty ngày càng khẳng định được chỗ đứng của mình
trên thị trường, tạo được lòng tin với khách hàng và bạn hàng.
Sau đây là kết quả cụ thể về kim ngạch nhập khẩu rượu của công ty
thời gian qua:
Bảng 2.2.Kim ngạch nhập khẩu của công ty từ năm 2005-2009
Năm Kim ngạch nhập
khẩu (USD)
Mức tăng giảm so với năm trước
Giá trị (USD) Tỷ lệ (%)
2005 82353 - -
2006 105882 23529 28,57
2007 133529 27647 26,11
2008 164705 31176 23,34
2009 188235 23530 14,29
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty qua các năm
Từ bảng trên có thể thấy kim ngạch nhập khẩu rượu của công ty không
ngừng gia tăng qua các năm với tốc độ tăng trung bình trung khoảng
23%/năm, cụ thể năm 2006 kim ngạch nhập khẩu tăng 28,57% so với năm
2005, năm 2007 tăng 26,11% so với năm 2006, năm 2008 tăng 23,34% so với
năm 2007. Riêng trong năm 2009 tốc độ tăng trong kim ngạch nhập khẩu
Trang 24
www.kilobooks.com – Thư viện điện tử Việt Nam
rượu giảm hơn so với những năm trước đó điều này là do năm 2009 nền kinh
tế thế giới gặp nhiều khó khăn, giá hàng hóa giảm do đó mặc dù lượng hàng

Tân Thịnh
Trang 25

Trích đoạn Kim ngạch nhập khẩu theo thị trường Kim ngạch nhập khẩu theo hình thức nhập khẩu Tình hình thực hiện kế hoạch nhập khẩu Kết quả tiêu thụ hàng nhập khẩu trong nước Phương thức tiêu thụ sản phẩm nhập khẩu của công ty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status