MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ - Pdf 64

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THANH
TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ.
1.1 Khái quát về hoạt động thanh toán quốc tế
1.1.1 Khái niệm.
Thanh toán quốc tế (TTQT) là việc thực hiện chi trả bằng tiền liên quan
đến mua bán hàng hoá dịch vụ và tư bản giữa các tổ chức hay cá nhân nước
này với các tổ chức hay cá nhân nước khác hay giữa một quốc gia với các tổ
chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.
TTQT bao gồm thanh toán mậu dịch, thanh toán phi mậu dịch, thanh toán
nợ cũ. TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ là một hình thức của thanh
toán mậu dịch, một hình thức thanh toán phục vụ cho hoạt động xuất nhập
khẩu.
Hiện nay, trong hệ thống Ngân hàng Công Thương Việt Nam (NHCTVN),
thanh toán quốc tế được hiểu là quá trình thực hiện các nghiệp vụ như: chuyển
tiền, thanh toán L/C, nhờ thu và các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế khác bằng
ngoại tệ trong nội bộ hệ thống NHCTVN, giữa NHCT với các tổ chức tài chính
khác ở trong và ngoài nước thông qua mạng IBS (hệ thống nghiệp vụ ngân
hàng quốc tế của NHCTVN), mạng SWIFT (mạng tài chính viễn thông liên ngân
hàng toàn cầu) hoặc các hệ thống khác.
TTQT là khâu kết thúc của một giao dịch mua bán hàng hoá hoặc dịch vụ,
là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu thụ thông qua việc chi trả lẫn
nhau trong trao đổi quốc tế. Vì vậy, có thể nói TTQT đã góp phần quan trọng
tạo nên sự liên tục của quá trình tái sản xuất và đẩy nhanh tốc độ lưu thông
hàng hoá. TTQT đã giúp cho ngoại thương thực hiện tốt chức năng của mình là
mở rộng lưu thông hàng hoá ra nước ngoài và đem ngoại tệ về cho đất nước.
Đồng thời, việc thanh toán diễn ra tốt đẹp như vậy sẽ để lại thiện chí, uy tín, sự
tin cậy giữa các bên, góp phần mở rộng và củng cố mối quan hệ hợp tác trên
nhiều lĩnh vực ( kinh tế, chính trị, ngoại giao, khoa học kĩ thuật... ) giữa các
nước.
TTQT giúp cho việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ, tư bản... giưã các quốc gia
ngày càng phát triển, từ đó tác động đáng kể vào sự phát triển sản xuất trong

cũng gây ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động TTQT chẳng hạn như : chính sách
quản lí ngoại hối hay các chính sách điều chỉnh XNK của Bộ thương mại...
Ngoài ra, sự ổn định và phát triển của hệ thống ngân hàng cũng là nhân tố
quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động TTQT bởi ngân hàng là trung gian tài
chính với chức năng, bề dày kinh nghiệm và khả năng tài chính sẽ tạo nên sự
tin tưởng và thuận lợi cho các bên tham gia trong hoạt động TTQT.
1.1.2 Vai trò của hoạt động TTQT đối với hoạt động kinh doanh của ngân
hàng.
Cùng với sự phát triển của các nghiệp vụ kinh doanh và dịch vụ trong
nước, xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế đã tạo điều kiện cho các nghiệp vụ
ngân hàng quốc tế đời và phát triển, trong đó TTQT là mảng hoạt động có vai
trò quan trọng đối với mỗi ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt
giữa các ngân hàng.
Thứ nhất, TTQT là nghiệp vụ bổ sung, hỗ trợ cho các mặt hoạt động khác
của ngân hàng, chẳng hạn như khi phát triển hoạt động TTQT sẽ tăng cường
được khả năng huy động và sử dụng vốn ngoại tệ của ngân hàng.
Thứ hai, tiến hành hoạt động TTQT tốt sẽ giúp ngân hàng đáp ứng tốt hơn
nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó nâng cao được uy tín của mình. TTQT là
một nghiệp vụ phức tạp, trong TTQT, ngân hàng không chỉ là trung gian tạo
nên sự tin tưởng lẫn nhau giữa người mua và người bán thông qua quan hệ
của mình với các ngân hàng khác mà các ngân hàng cần phải đẩy mạnh công
tác tư vấn, giúp khách hàng lựa chọn phương thức, công cụ thanh toán hiệu
quả nhất. Quá trình thanh toán diễn ra thuận lợi, người bán nhận đủ tiền,
người mua nhận được hàng đúng số lượng, phẩm chất, thời gian sẽ chứng tỏ
được khả năng của ngân hàng trong hoạt động của mình.
Thứ ba, TTQT sẽ giúp ngân hàng mở rộng quan hệ hợp tác với các ngân
hàng khác trên thế giới, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ
ngân hàng, từ trang bị kĩ thuật đến đào tạo chuyên viên, góp phần đưa ngân
hàng trở thành ngân hàng đa năng, hiện đại, phục vụ ngày càng tốt hơn nhu
cầu của khách hàng.

hay nhiều lần trong thời hạn của nó. Sở dĩ có được đặc điểm này, bởi vì hối
phiếu là lệnh đòi tiền của một người này đối với người khác, hối phiếu có một
trị giá tiền nhất định, có một thời hạn nhất định, thời hạn này thường là ngắn
hạn và được người trả tiền chấp nhận. Tóm lại, nhờ vào tính trừu tượng và
tính bắt buộc nghĩa vụ trả tiền mà có được tình lưu thông.
c) Nội dung của hối phiếu :
Hối phiếu vì cần phải được lưu hành, nên nó phải có một hình thức nhất
định để người ta có thể dễ dàng phân biệt hối phiếu với các phương tiện thanh
toán khác. Hối phiếu thương mại là một văn bản xác nhận một trái vụ trả tiền
có tính chất thương mại, cho nên hối phiếu phải có một nội dung nhất định phù
hợp với luật lệ chi phối nó.
 Về mặt hình thức :
− Hối phiếu làm thành văn bản. Hối phiếu nói, điện tín, điện thoại.. đều không
có giá trị pháp lí.
− Ngôn ngữ tạo lập hối phiếu là ngôn ngữ viết hoặc in sẵn, đánh máy bằng
một thứ tiếng nhất định và thống nhất. Tiếng Anh là thứ tiếng thông dụng của
ngôn ngữ tạo lập hối phiếu. Một hối phiếu sẽ không có giá trị pháp lí, nếu như
nó được tạo lập bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Những hối phiếu viết bằng
bút chì, bằng thứ mực dễ phai như mực đỏ đều trở thành vô giá trị.
− Hối phiếu có thể lập thành một hay nhiều bản, mỗi bản đều đánh số thứ tự,
các bản đều có giá trị như nhau. Khi thanh toán, ngân hàng thường gửi hối
phiếu cho người trả tiền làm hai lần kế tiếp nhau đề phòng sự thất lạc, bản nào
đến trước thì sẽ được thanh toán, bản nào đến sau sẽ trở thành vô giá trị. Hối
phiếu không có bản phụ.
 Về mặt nội dung : một hối phiếu phải bao gồm những nội dung bắt buộc
sau:
− Tiêu đề của hối phiếu : chữ “Hối phiếu” là tiêu đề của một hối phiếu, không
có tiêu đề này, hối phiếu sẽ trở thành vô giá trị.
− Địa điểm kí phát hối phiếu : thông thường địa chỉ của người lập phiếu là
địa điểm kí phát phiếu. Khôngloại trừ, hối phiếu được kí phát ở đâu thì lấy địa

hối phiếu không ghi rõ hoặc không ghi địa điểm trả tiền, người ta có thể lấy địa
chỉ ghi bên cạnh tên của người trả tiền là địa điểm trả tiền.
− Người hưởng lợi quy định ở mặt trước của tờ hối phiếu trước tiên là người
kí phát hối phiếu, hoặc có thể là người khác do người kí phát hối phiếu chỉ
định.
− Người trả tiền hối phiếu được ghi ở mặt trước, góc trái cuối cùng của tờ
hối phiếu, sau chữ “gửi”
− Người kí phát phiếu được ghi ở mặt trước, góc phải cuối cùng của tờ hối
phiếu. Cần đặc biệt chú ý là, tất cả những người có liên quan được ghi trên tờ
hối phiếu phải ghi rõ đầy đủ tên, địa chỉ mà họ đã dùng để đăng kí hoạt động
kinh doanh.
Ngoài những nội dung bắt buộc trên, hối phiếu còn có thể có những nội
dung khác do hai bên thoả thuận, miễn là những nội dung này không làm sai
lạc tính chất của hối phiếu do luật “Luật điều chỉnh về hối phiếu “ quy định.
d) Quyền lợi và nghĩa vụ của những người có liên quan đến hối phiếu
 Người kí phát hối phiếu : trong ngoại thương, người kí phát hối phiếu là
người xuất khẩu, người cung ứng các dịch vụ có liên quan đến xuất nhập khẩu
hàng hoá.
Người kí phát hối phiếu có trách nhiệm :
− Kí phát hối phiếu cho đúng luật.
− Kí tên vào góc bên phải, phía dưới ở mặt trước tờ hối phiếu.
− Khi hối phiếu đã được chuyển nhượng bị từ chối trả tiền, thì người kí phát
hối phiếu có trách nhiệm hoàn trả tiền lại cho những người hưởng lợi của tờ
hối phiếu đó.
Quyền lợi của người kí phát hối phiếu được thể hiện trên hai mặt chủ yếu :
− Quyền hưởng lợi số tiền ghi trên hối phiếu.
− Quyền chuyển nhượng quyền hưởng lợi đó cho người khác.
 Người trả tiền hối phiếu ; Trong ngoại thương, người trả tiền hối phiếu
thường là người nhập khẩu, là người sử các dịch vụ có liên quan đến xuất
nhập khẩu hàng hoá. Khi dùng hối phiếu là phương tiện đòi tiền của phương

Thông thường hối phiếu được gửi tới người trả tiền để người này kí chấp
nhận bất cứ lúc nào trước ngày hết hạn xuất trình hối phiếu. Thời hạn chấp
nhận có thể được hiểu như hai trường hợp sau : thứ nhất, nếu hai bên không
có sự thoả thuận nào khác thì ULB quy định thời hạn chấp nhận là 12 tháng kể
từ ngày kí phát hối phiếu ; thứ hai, nếu hai bên quy định rõ ràng với nhau
trong hợp đồng mua bán hoặc trong thư tín dụng thời hạn cụ thể phải xuất
trình hối phiếu để chấp nhận, thì hối phiếu phải được xuất trình để chấp nhận
trong thời hạn đó. Ví dụ, thời hạn hiệu lực của thư tín dụng là 45 ngày, hay là
hết hạn 20 ngày kể từ sau ngày giao hàng thì thời chấp nhận hối phiếu chỉ
trong vòng 20 ngày đó, nếu quá 20 ngày đó, tức là L/C hết hiệu lực, ngân hàng
mở L/C sẽ từ chối thanh toán tờ hối phiếu gửi đến (nếu là trả tiền ngay) hoặc
từ chối chấp nhận hối phiếu (nếu là trả tiền về sau).
Sự chấp nhận được ghi vào mặt trước, góc dưới bên trái của tờ hối phiếu
và được thực hiện bằng chữ chấp nhận (accept) viết kế bên chữ kí của người
trả tiền.Ngoài ra, ULB còn cho phép người trả tiền dùng những chữ khác
tương tự để thể hiện sự chấp nhận của mình như “xác nhận’, “đồng ý”, “đồng ý
trả tiền”.
Ngày tháng kí chấp nhận hối phiếu không phải là yêu cầu bắt buộc của
công thức kí chấp nhận. Song trong thực tiễn sử dụng hối phiếu, người ta thấy
có loại hối phiếu đòi hỏi kí chấp nhận có ghi ngày tháng, có loại không cần ghi
ngày tháng.
Đối với hối phiếu trả tiền ngay x ngày, người nhập khẩu muốn nhận bộ
chứng từ thanh toán thì phải kí chấp nhận vào loại hối phiếu trả tiền ngay này.
Trong trường hợp này việc ghi ngày tháng kí chấp nhận hối phiếu là không
thật cần thiết Đối với hối phiếu có kì hạn mà việc quy định kì hạn trả tiền hối
phiếu là rõ rệt, ví dụ hối phiếu ghi “X ngày kể từ ngày kí phát bản thứ... của hối
phiếu này” hoặc ghi “Đến ngày... trả cho bản thứ... của hối phiếu này ...” thì ghi
ngày tháng kí chấp nhận cũng không thật cần thiết.
Song đối với hối phiếu có kì hạn được xác định trong tương lai “X ngày kể
từ ngày nhìn thấy bản thứ... của hối phiếu này...” thì ngày tháng kí chấp nhận là

một hình thức khác.
− Kí hậu theo lệnh : là việc kí hậu chỉ định một cách suy đoán ra người hưởng
lợi hối phiếu do thủ tục kí hậu mang lại. Người kí hậu chỉ ghi câu “trả theo
lệnh ông X” và kí tên. Như vậy, người hưởng lợi hối phiếu trong trường hợp
này chưa quy định rõ ràng, cần phải suy đoán ý chí của ông X. Nếu ông X ra
lệnh trả cho một người khác thì người đó sẽ trở thành người hưởng hối phiếu,
nếu ông X im lặng thì người hưởng lợi hối phiếu chính là ông X. Với cách kí hậu
này, hối phiếu sẽ được chuyển nhượng kế tiếp nhau đến khi nào người hưởng
lợi cuối cùng không kí hậu chuyển nhượng nữa nhưng phải trước khi hối phiếu
hết hạn trả tiền. Vì vậy, kí hậu theo kệnh là loại kí hậu rất thông dụng trong
thanh toán quốc tế.
− Kí hậu hạn chế : là việc kí hậu chỉ định rõ rệt người được hưởng lợi hối
phiếu và chỉ người đó mà thôi. Với cách kí hậu này hối phiếu sẽ không được
tiếp tục chuyển nhượng bằng thủ tục kí hậu được nữa.
− Kí hậu miễn truy đòi : là việc kí hậu mà người kí hậu ghi thêm câu “Miễn
truy đòi người kí hậu” cùng với một trong ba loại kí hậu nêu trên. Một khi hối
phiếu bị từ chối thanh toán thì người hưởng lợi hối phiếu không được truy đòi
lại tiền của người kí hậu trực tiếp của mình. Kí hậu miễn truy đòi cũng là loại
kí hậu được sử dụng nhiều trong thanh toán quốc tế.
g) Bảo lãnh hối phiếu
Bảo lãnh hối phiếu là sự cam kết của người thứ ba trả tiền cho người
hưởng lợi khi hối phiếu đến kì trả tiền. Hình thức văn tự thông thường của sự
bảo lãnh được ghi bằng chữ “Bảo lãnh” và ngưòi bảo lãnh kí tên. Trong luật
ULB không qui định nơi kí bảo lãnh ở mặt trước hay ở mặt sau của tờ hối
phiếu, để tránh nhầm lẫn với chữ kí chấp nhận của người trả tiền, chữ kí hậu
của người chuyển nhượng, hình thức văn tự của bảo lãnh được ghi như nói ở
trên.
Ngoài hình thức bảo lãnh theo luật ULB qui định, một số nước dùng hình
thức bảo lãnh bằng văn thư riêng biệt thường gọi là bảo lãnh mật. Sở dĩ có
hình thức bảo lãnh này là do người trả tiền không muốn người thứ ba biết tình

− Hối phiếu trả tiền ngay : người trả tiền khi nhìn thấy hối phiếu này do
người cầm phiếu xuất trình thì phải trả tiền ngay cho họ.
− Hối phiếu trả tiền ngay sau một số ngày nhất định, thường là từ 5-7 ngày :
người trả tiền khi nhìn thấy hối phiếu này thì kí chấp nhận hối phiếu, sau đó
thì từ 5-7 ngày thì trả tiền tờ hối phiếu đó.
− Hối phiếu có kì hạn: sau một thời giạn nhất định ghi trên hối phiếu, người
trả tiền phải trả hoặc tính từ ngày kí phát hối phiếu hoặc tính từ ngày chấp
nhận hối phiếu hoặc từ ngày qui định cụ thể.
 Căn cứ vào hối phiếu có kèm chứng từ hay không, có thể chia hối phiếu
thành 2 loại :
− Hối phiếu trơn : loại hối phiếu này được gửi tới đòi tiền người trả tiền
không kèm chứng từ thương mại. Trong thanh toán quốc tế, hối phiếu này
dùng để thu tiền cước phí vận tải, bảo hiểm, hao hồng... hoặc dùng để đòi tiền
mua hàng của những thương nhân nhập khẩu tin cậy.
− Hối phiếu kèm chứng từ : loại hối phiếu này được gửi tới cho người nhập
khẩu có kèm theo chứng từ thương mại. Hối phiếu kèm chứng từ có 2 loại. Loại
hối phiếu kèm chứng từ trả tiền ngay và loại hối phiếu kèm chứng từ có chấp
nhận.
 Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng của hối phiếu có thể chia hối phiếu
thành 2 loại :
− Hối phiếu đích danh : là loại hối phiếu ghi rõ tên người hưởng lợi hối phiếu
không kèm theo điều khoản theo lệnh. Hối phiếu đích danh không chuyển
nhượng được bằng thủ tục kí hậu theo luật định.
− Hối phiếu theo lệnh : là loại hối phiếu ghi trả theo lệnh của người hưởng lợi
hối phiếu. Hối phiếu theo lệnh chuyển nhượng bằng hình thức kí hậu theo luật
định. Đây là loại hối phiếu được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế.
 Căn cứ vào người kí phát hối phiếu, hối phiếu được chia thành 2 loại :
− Hối phiếu thương mại, là loại hối phiếu do người xuất khẩu kí phát đòi tiền
người nhập khẩu trong nghiệp vụ về thanh toán hàng hoá xuất khẩu hoặc
cung ứng lao vụ lẫn cho nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status