GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC
DNVVN TẠI NHNN
0
và PTNT
3.1- ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CHI NHÁNH NĂM 2005
3.1.1- Định hướng chung
Năm 2005, chi nhánh chủ trương thực hiện mục tiêu chung của toàn ngành “ Tiếp
tục duy trì tăng trưởng hợp lý, đảm bảo cân đối, an toàn và khả năng sinh lời ”. Mục tiêu cụ
thể của chi nhánh “ Phấn đấu được nâng hạng chi nhánh trong năm 2005 ”.
Chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể của chi nhánh
* Nguồn vốn: 4100 tỷ tăng 23% so với 31/12/2004
+ Tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng: 40%
+ Tổng nguồn vốn ngoại tệ tăng tối thiểu: 30% so với năm trước.
* Dư nợ: 1200 tỷ, tăng 40% so với năm trước.
+ Dư nợ trung, dài hạn tối đa 45% tổng dư nợ.
* Nợ quá hạn: <= 1%
* Thu dịch vụ chiếm tỷ trọng 10% tổng thu nhập.
* Quỹ thu nhập tăng 10%: 47 tỷ.
* Tiền lương tối thiểu đát hện số bằng năm 2004(2,41).
* Chênh lệch lãi suất: 0,4%
* Tổ chức và màng lưới: mở thêm 2 PGD hoặc chi nhánh cấp III. Tổ chức lại các phòng
nghiệp vụ theo quy chế 454. Bổ sung đủ cán bộ chủ chốt.
3.1.2- Định hướng phát triển tín dụng năm 2005
Năm 2005 là năm đặc biệt khó khăn cho chi nhánh, tổng hợp nhu cầu vốn từ các dự
án, các hợp đồng tín dụng, các hạn mức tín dụng đã ký kết hết với các khách hàng, thì nhu
cầu tín dụng năm 2005 của chi nhánh tối thiểu phải là 1500 tỷ. Trong khi đó, theo chỉ đạo
của Hội đồng quản trị NHNN
0
Việt Nam, tốc độ tăng trưởng toàn ngành không quá 17%. Vì
vậy, để tăng trưởng đúng hướng, lại đảm bảo tăng trưởng lợi nhuận trong điều kiện hạch
toán theo thông lệ quốc tế, cải thiện chênh lệch lãi suất…Chi nhánh cần thực hiện đồng bộ
dụng.
3.2.1- Đẩy mạnh công tác huy động vốn nhằm đáp ứng kịp thời
nhu cầu của khách hàng
Đa dạng kỳ hạn nguồn là vấn đề chủ chốt. Có nhiều cách để tiến hành giải pháp này
nhưng đơn giản nhất là đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, có chính sách chăm sóc
khách hàng hợp lý, tích cực tiếp thị, tìm kiếm thêm khách hàng mới, tìm kiếm các dự án đầu
tư bằng vốn nước ngoài mới. Hiện nay, để huy động vốn có hiệu quả nên sử dụng triệt để các
hình thức thanh toán qua ngân hàng, mở rộng thị trường thẻ ATM và mở rộng mạng lưới
các phòng giao dịch. Nếu lâm vào tình trạng thiếu vốn, các cán bộ tín dụng nên có những
giải thích cụ thể cho khách hàng hiểu và nên có các hình thức giữ mối quan hệ với những
khách hàng truyền thống, không nên để cho họ mất thiện cảm với ngân hàng mình.
3.2.2- Nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án, tăng
cường kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay
Thẩm định là khâu quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới việc ra quyết định tín dụng
sau đó và tới chất lượng tín dụng sau này. Để cải thiện tình trạng thẩm định chưa hiệu quả
hiện nay, các cán bộ thẩm định nên đi sâu, đi sát hơn vào thực tế các DN từ đó lựa chọn
những khách hàng làm ăn có hiệu quả, có uy tín cao và trung thực trong quan hệ với ngân
hàng. Về phía ngân hàng, nên tổ chức các khoá tập huấn cho cán bộ thẩm định nhằm nâng
cao kiến thức của họ về thị trường, về pháp luật, từ đó sẽ nâng cao được hiệu quả công tác
thẩm định. Và một điều đáng nói nữa là nên xoá bỏ sự ưu đãi đối với các thành phần kinh tế
nhà nước, đối xử công bằng với mọi thành phần kinh tế trong việc quyết định cho vay hay
không.
Quyết định tín dụng là khâu mở đầu cho một hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, sau khi
giải ngân, các món tiền của ngân hàng mới thực sự gặp nhiều rủi ro. Vì vậy, công tác kiểm
tra kiểm soát sau cho vay là hết sức quan trọng, nó nhằm hạn chế tối đa những tổn thất có
thể xảy ra với ngân hàng. Trong quá trình kiểm tra cán bộ tín dụng có thể tư vấn, giúp đỡ
DN trong việc tìm đối tác, thậm chí còn có thể cấp thêm tín dụng nếu xét thấy nó phục vụ tốt
cho quá trình sản xuất kinh doanh, tuy nhiên tình huống này ít khi xảy ra. Nếu tình hình kinh
doanh quá xấu thì cán bộ tín dụng có thể đề nghị thu hồi nợ trước thời hạn nhằm hạn chế
rủi ro cho phía ngân hàng. Tóm lại, việc định kỳ kiểm tra là công tác rà soát lại chất lượng
thống ngân hàng Nông nghiệp cũng như các NHTM nói chung. Từ đó sẽ
thu thập được những thông tin cần thiết cho hoạt động của ngân hàng
mình một cách dễ dàng và kịp thời, tránh tình trạng quá thiếu thốn
thông tin về khách hàng.
3.2.5- Luôn chú trọng tới công tác đào tạo cán bộ
Một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, có tinh thần trách nhiệm với công
việc là niềm mơ ước của các nhà lãnh đạo, đặc biệt với lĩnh vực kinh doanh ngân hàng.
Thêm nữa, ngân hàng luôn phải hợp tác với nhiều DN kinh doanh, sản xuất trong nhiều lĩnh
vực kinh tế xã hội. Vì vậy, muốn có được đội ngũ nhân viên giỏi với trình độ chuyên môn cao,
ngân hàng không chỉ tuyển mộ những nhân viên giỏi từ bên ngoài mà còn phải có kế hoạch
cử các cán bộ đang công tác đi bồi dưỡng kiến thức, có kế hoạch đào tạo lâu dài, quan tâm
tới những sinh viên có triển vọng tại những trường đại học có liên quan đến hoạt động ngân
hàng như sinh viên các trường thuộc khối kinh tế: ĐH Kinh tế Quốc dân, Học viện Ngân
hàng, Học viện Tài chính…Đây là những nguồn cung cấp tốt nhất những nhân viên tốt cho
ngân hàng.
3.3- MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
3.3.1- Kiến nghị với Chính phủ
3.3.1.1- Tạo môi trường kinh tế tốt nhất cho hoạt động
Một thực trạng khách quan là cho dù hoạt động của cả hệ thống ngân hàng nói
chung và hoạt động tín dụng nói riêng có thay đổi như thế nào đi nữa cũng không thể tách
rời cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước. Do đó muốn nâng cao hiệu quả hoạt động tín
dụng đối với DNVVN nói riêng cũng như hoạt động của ngân hàng nói chung thì ngoài sự nỗ
lực phấn đấu của bản thân với các giải pháp nghiệp vụ của mình thì cần phải có một môi
trường pháp lý đầy đủ, đồng bộ tạo nên một môi trường kinh tế ổn định, lành mạnh cho
hoạt động ngân hàng.
Nền kinh tế có ổn định thì các DN mới yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh, hơn nữa
nếu có cấp tín dụng cho các DN này thì ngân hàng cũng tránh được rủi ro do sự bất ổn của
thị trường. Cụ thể Chính phủ điều tiết nền kinh tế thông qua chính sách tài khoá, chính sách
tiền tệ và hệ thống luật pháp Việt Nam. Trong những điều kiện cụ thể, Chính phủ còn có các
chính sách phát triển kinh tế của từng vùng, từng địa phương tạo điều kiện mở rộng hoạt