Hoạt động tài trợ cho thuê tại các công ty cho thuê tài chính ở VIệt Nam hiện nay
1. bối cảnh ra đời của hoạt động tài trợ cho thuê tại các công ty cho thuê tài chính
ở Việt nam
Để hiểu rừ bối cảnh ra đời của hoạt động tài trợ cho thuê tại các công ty
cho thuê tài chính thỡ trong phần này, chỳng ta cần nhỡn nhận trờn gúc độ tỡnh
hỡnh kinh tế - xó hội Việt Nam trong những năm đầu thập kỷ 90.
Sự nghiệp đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung
bao cấp sang cơ chế thị trường của Việt Nam đó và đang được xúc tiến rất mạnh
mẽ. Quá trỡnh tỏi cấu trỳc nền kinh tế được tiến hành đồng thời với quá trỡnh
Cụng nghiệp hoá - Hiện đại hoá. Áp lực đũi hỏi phải cú sự tăng trưởng kinh tế
với tốc độ cao phát sinh từ nhiều phía: nguy cơ tụt hậu, tỷ lệ gia tăng dân số cao,
nạn thất nghiệp trầm trọng… Để tránh khỏi nguy cơ tụt hậu, phải tạo ra những
bước chuyển biến mạnh mẽ về năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất để
trong khoảng thời gian 15 - 20 năm, biến nền kinh tế nước ta cơ bản thành một
nền kinh tế có trỡnh độ công nghiệp hiện đại so với thế giới, đồng thời, nâng cao
mức sống của nhân dân và tạo đà cho những bước phát triển bền vững tiếp theo.
1.1. tình hình cạnh tranh thông qua chất lượng sản phẩm đặt ra yêu cầu phải
đổi mới máy móc thiết bị
Trong suốt những năm nền kinh tế nước ta vận hành trong cơ chế kế hoạch
hoá tập trung bao cấp, trên thị trường không tồn tại sự cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp. Bởi doanh nghiệp sản xuất sản phẩm gỡ, số lượng bao nhiêu, giá
cả, nguyên vật liệu, hạch toán của doanh nghiệp đều do cơ quan kế hoạch của
nhà nước chỉ đạo. Khối cầu tiêu dùng vượt quá sức cung của các doanh nghiệp,
cùng với cơ chế giá bao cấp bán theo kiểu “bán như cho, mua như xin” dẫn tới
các doanh nghiệp sản xuất ra bao nhiêu, chất lượng tốt hay xấu cũng đều được
giao nộp hay tiêu thụ hết…
Nhưng tỡnh hỡnh trờn đó thật sự chấm dứt vào những năm 90, khi mà nền
kinh tế nước ta đó cú một thị trường hàng hoá, nguyên liệu… khá tự do và thống
Nhu cầu về vốn để đổi mới thiết bị, hiện đại hoá công nghệ, nâng cao công
suất của ngành giấy là rất cấp bách nhưng sau nhiều năm, nhiều phái đoàn của
ngành đi nước ngoài và nhiều phái đoàn của Thụy Điển, Nhật Bản, Đài Loan,
Pháp… vào nước ta tiến hành thương lượng đàm phán vẫn chưa có kết quả…
Nguyên nhân là do tính chất đặc thù hoạt động của ngành đũi hỏi tớnh đồng bộ
của dây chuyền và trỡnh độ tự động hoá trong sản xuất, xử lý ô nhiễm ngày càng
cao nên nguồn vốn đầu tư rất lớn, hàng triệu USD. Nhu cầu vốn này vượt quá
khả năng của ngành.
Vào những năm sau đó, mặc dù có những bước chuyển biến đáng kể trong
ngành giấy, đa dạng về chủng loại và chất lượng nâng cao hơn, song hiện tượng
khan hiếm giấy đang diễn ra và giá giấy khá cao so với vài năm trước đây.
Nhưng đó chỉ là hiện tượng do các biện pháp cấm nhập hoặc nõng mức thuế
nhập khẩu giấy của Chớnh phủ tạo ra. Rừ ràng là muốn tồn tại và giữ vững
thị trường nội địa, cạnh tranh được với các nhà máy giấy Việt Nam phải tiến
hành đầu tư thiết bị, trang bị các loại công nghệ hiện đại, cải tiến quản trị,
kinh doanh và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Qua trường hợp điển hỡnh trờn, chỳng ta cú thể thấy để đứng vững trên
thị trường, sản phẩm của các công ty rất cần phải được đảm bảo về chất
lượng và có giá cả hợp lý. Bởi khi nền kinh tế thị trường phát triển hoàn
chỉnh, chất lượng sản phẩm sẽ trở thành tiêu chuẩn số 1 sẽ đảm bảo cho sự
tồn tại của doanh nghiệp như sản phẩm của công ty Nhật đó cho thấy điều
này. Do đó nhu cầu đổi mới thiết bị, hiện đại hoá công nghệ đang ngày càng
trở thành những nhu cầu bức xúc đối với nhà sản xuất Việt Nam.
1.2. Tính cấp bách của nhu cầu đổi mới công nghệ
Quy mụ tài sản, mỏy múc thiết bị của doanh nghiệp là một yếu tố gắn
liền với trỡnh độ công nghệ của nó. Nhưng trên một phương diện nào đó, hai
phạm trù này có ý nghĩa và tỏc dụng khỏc nhau. Tăng cường mua sắm, bổ
sung tài sản, máy móc làm tăng quy mô của doanh nghiệp. Cũn đổi mới, trang
bị công nghệ hiện đại (đầu tư chiều sâu) là hiện đại hoá sản xuất của doanh
- sành sứ
- than
70
50
40
36
Bảng 1: Tỷ lệ hao mũn hữu hỡnh và hao mũn vụ hỡnh của một số ngành
2
Ở các nước khác, khi máy móc hao mũn chiếm khoảng 70% là phải thanh
lý, cũn ở nước ta nếu áp dụng các chỉ tiêu này thỡ cú lẽ phải tiến hành thanh lý
hàng loạt doanh nghiệp.
1 TS Đỗ Nguyên Khoát, “Có nên nộp toàn bộ khấu hao vào ngân sách Nhà nước không “, tạp
chí Tài chính, 1993
2 Nguồn: Tổng cục Thống kê 1992
Vỡ vậy, vấn đề cần đặt ra đối với các doanh nghiệp ở tất cả các lĩnh vực
phải biết cách tạo nguồn, tỡm vốn và mạnh dạn đầu tư để qua đó đảm bảo
chất lượng thông qua thiết bị hiện đại, nguyên liệu hợp chuẩn quản trị điều
hành tốt để giữ vững vị thế ở thị trường trong nước và tiến tới mở rộng thị
trường xuất khẩu.
1.3. yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền kinh tế đòi
hỏi phảI gia tăng nguồn vốn cho đầu tư, đổi mới thiết bị, công nghệ
Chiến lược phát triển nền kinh tế thông qua công nghiệp hoá - hiện hoá
được để ra với mục tiêu tăng gấp đôi thu nhập quốc dân bỡnh quõn đầu người
đạt mức 450 – 500 USD/ người/ năm. Để đạt được mục tiêu này, chúng ta cần
phải đầu tư cho nền kinh tế khoảng 45 tỷ USD và nền kinh tế phải đạt mức
tăng trưởng cao, tốc độ tăng trưởng trung bỡnh trờn 8%/ năm. Do đó, vốn –
công nghệ - máy móc - thiết bị… là những vấn đề rất được chú trọng, quan
tâm của các doanh nghiệp và của các cấp chính quyền.
Vốn đầu tư được huy động từ hai nguồn: trong nước và ngoài nước nhằm
cho đầu tư vẫn chưa khuyến khích được các nhà sản xuất.
Tỡnh hỡnh trờn dẫn tới tốc độ đầu tư chung vào sản xuất đang có chiều
hướng giảm sút, xu hướng ‘bói đầu tư’ hay chuyển dịch vốn đầu tư đó xuất
hiện. Bảng 2 trỡnh bày sự so sỏnh giữa lói suất cho vay ngắn hạn và mức lời
của các doanh nghiệp để giải thích một trong những nguyên nhân dẫn đến tỡnh
trạng này.
Loại hỡnh
doanh
nghiệp
Lói suất cho
vay theo
NHNN
(%/năm)
Lói suất cho
vay theo
thoả thuận
(%/năm)
Lói suất thực
(đó trừ lạm
phỏt - %/
năm)
tỷ suất
LNBQ
(%/năm)
Lói suất
thực/ tỷ suất
LNBQ (lần)
DNNN
DN ngoài
quốc doanh
320
266
965.5
1.3
39.4
1472
334
842
296
865.4
0.58
22.6
2149
208
1529
412
825.4
0.384
9.66
1342
117
1150
75
520
0.387
8.7
3 Nguồn: Ngân hàng Đầu tư và phát triển TP. HCM, 11-1995
Bảng 3
4
: tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực TP. HCM
định khá cởi mở so với luật đầu tư nước ngoài của các quốc gia trong khu vực. Sau hơn 7 năm thu hút vốn đầu
tư theo Luật đầu tư nước ngoài, Ủy ban Hợp tác đầu tư (SCCI) đó cấp 1.538 giấy phộp, với tổng số vốn đăng
ký là 18,435 tỷ USD. Tính đến hết tháng 12 năm 1995 đó thực hiện được gần 6 tỷ USD, đạt 32,55% so với số
vốn đăng ký. Đây là một tỷ lệ trung bỡnh khỏ so với cỏc quốc gia trong khu vực.
Nguồn vốn đầu tư này chủ yếu tập trung đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, khai
mỏ (38,9%), xây dựng (8,7%), nông – lâm nghiệp (4,2%), khách sạn – du lịch (35,9%)… Các xí nghiệp liên
doanh chiếm trên 66,6% các dự án và 69,62% số vốn đăng ký. Đầu tư nước ngoài đó tạo ra khoảng hơn 1 tỷ
USD giá trị hàng hoá, dịch vụ chủ yếu dành cho xuất khẩu, tạo ra hơn 70.000 chỗ làm việc cho người Việt
Nam và gần 10 vạn việc làm gián tiếp phục vụ hoạt động đầu tư.
Song bên cạnh những mặt tốt mà đầu tư quốc tế thực tiếp đem lại cho nền kinh tế và xó hội, cũng cú
nhiều vấn đề cần được xem xét và giải quyết để nâng cao hiệu quả kinh tế - xó hội của nguồn vốn đầu tư. Số
dự án bị thu hồi giấy phép trước thời hạn (do nhiều nguyên nhân) chiếm khoảng 6% tổng số dự án và 9% tổng
số vốn đăng ký.
Mặt khác, nguồn vốn tham gia các liên doanh của phía Việt Nam rất khó góp đủ 30% theo dự kiến và
đa số nguồn vốn góp bằng giá trị của khu đất thiết lập dự án, đây là một hỡnh thức bỏn quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, khoảng hơn 2.500 cán bộ nhà nước cử tham gia các liên doanh chỉ có một số đáp ứng được những
yêu cầu về trỡnh độ chuyên môn và đạo đức, tư cách để đại diện cho quyền lợi quốc gia.
Hơn nữa, phía nước ngoài thường góp của họ bằng máy móc, thiết bị và hàng hoá là chủ yếu. Bên cạnh
những công nghệ, thiết bị hiện đại không hiếm những trường hợp đưa vào tham gia liên doanh bằng những
4 Nguồn: Cục thống kê TP. HCM, 11-1995
dây chuyền công nghệ lạc hậu, đó bị cấm ở nước ngoài. Đồng thời, có những nhà đầu tư thiếu tư cách cũn khai
khống giỏ trị thiết bị gúp vốn cao gấp 2, 3 lần…
Thực trạng trên cần phải có những biện pháp khắc phục những yếu kém đó nờu, nhất là phải nõng cao
trỡnh độ đội ngũ cán bộ và công nhân làm việc hoặc có liên hệ với khu vực này của nền kinh tế. Hơn nữa cần
có giải pháp khắc phục những yếu kém về thông tin thị trường thiết bị, công nghệ để tránh những tỡnh huống
bất lợi trong hợp tỏc đầu tư quốc tế.
Qua những phân tích trên cho thấy việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp cũng nảy sinh những
vấn đề hết sức phức tạp và không dễ giải quyết nhanh chóng. Các nước và các tổ chức quốc tế đó viện trợ
ODA cho Việt Nam trong hai năm 1994-1995 gần 3 tỷ USD và cam kết sẽ viện trợ tiếp 6 tỷ trong vài năm tới.
Nhưng nếu các nguồn viện trợ cho ngân sách đầu tư của chính phủ không được sử dụng đúng mục đích, hay
Trước tỡnh hỡnh mới, những yếu điểm ngày càng bộc lộ ra và đũi hỏi phải cú những thay đổi một cách căn
bản các loại máy móc thiết bị đó cũ kỹ, già nua bằng những mỏy múc, cụng nghệ tiờn tiến để hiện đại hoá nền
sản xuất. Do đó, xuất hiện một thị trường có nhu cầu trang bị với khối lượng lớn các loại máy móc thiết bị
hiện đại. Song bên cạnh đó, do nhiều hạn chế về mặt thông tin, khả năng tài chính, môi trường pháp lý… thị
trường này cũng có những đặc tính riêng mà không phải bất cứ phương thức cung cấp thiết bị nào cũng đáp
ứng được các yêu cầu của nó. Là một thị trường mới đối với hoạt động thuê mua, Việt Nam chứa đựng những
tiềm năng riêng có đang cần được khai thác và hoàn thiện.
Mặt khác, thị trường máy móc, thiết bị và tài sản Việt Nam cũng là một thị trường có khối lượng cầu rất
lớn, bởi số lượng khách hàng của thị trường này là hàng nghỡn doanh nghiệp đang có những nhu cầu rất cấp
bách đũi hỏi phải thay đổi hầu như toàn bộ các loại máy móc thiết bị. Trong khi đó các nguồn tài chính để
thực hiện sự thay đổi nay gặp rất nhiều khó khăn và nhiều hỡnh thức tài trợ tớn dụng hiện có đó tỏ ra khụng
phự hợp hoặc khụng đáp ứng đúng nhu cầu này.
Do thị trường máy móc thiết bị Việt Nam cũn mới mẻ, hệ thống phỏp lý, thuế khoỏ chưa hoàn chỉnh, các
chính sách ưu đói chưa được quy định cụ thể và tính khuyến khích chưa cao. Hơn nữa, thuê mua thiết bị, tài