tiểu luận kinh tế lượng 2 các yếu tố ảnh hƣởng đến GDP các tỉnh thành việt nam từ năm 2008 – 2018 - Pdf 64

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
……………o0o……………

TIỂU LUẬN KINH TẾ LƢỢNG II

Đề tài : Các yếu tố ảnh hƣởng đến GDP
các tỉnh thành Việt Nam từ năm 2008 – 2018
Nhóm: 07

Họ và tên

1. Nguyễn Viết Trƣờng – 1714410234
2. Lê Thị Việt Hà

– 1714410065

3. Nguyễn Thị Sâm

– 1714410199

4. Phạm Thị Duyên

– 1714410056

5. Nguyễn Yến Nhi

– 1714410177

6. Phạm Xuân Quỳnh


Kinh tế là một trong những yếu tố cơ bản để đánh giá tổng quan về một quốc
gia. Không một cường quốc nào có thể có vị thế và tiếng nói ở thế giới nếu không
có kinh tế phát triển. Vì thế, đã từ lâu, kinh tế đã trở thành nhân tố hàng đầu mà mọi
chính phủ và người dân quan tâm trong đó có Việt Nam.Cấu thành nền kinh tế
chung của nước ta là những nền kinh tế nhỏ của 63 tỉnh thành thuộc bộ máy hành
chính cả nước, trong đó có 5 thành phố trực thuộc trung ương. Các nền kinh tế nhỏ
này thuộc sự điều hành của các hệquản lí cấp tỉnh vì vậy nên chúng có những đặc
thù và sự phát triển khác nhau, phụ thuộc vào chính sách kinh tế từng nơi .
Trong quá trình theo dõi những biến động kinh tế, chúng ta không thể bỏ qua
yếu tố GDP (Tổng sản phẩm quốc nội). GDP là một yếu tố rất quan trọng với một
nền kinh tế.Tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết
tắt của Gross Domestic Product) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ
cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là quốc
gia) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). GDP được xem là một trong
những chỉ số quan trọng nhất để đánh giá tình trạng sức khỏe nền kinh tế của một
quốc gia. Nó đại diện cho tình hình sản xuất, sự tăng trưởng kinh tế, là thước đo thể
hiện chất lượng cuộc sống của người dân. Nghiên cứu các nhân tố tác động đến
GDP luôn là một đề tài thiết thực, có tính ứng dụng cao. Đối với Việt Nam, giữa các
khu vực vẫn còn tồn tại những sự khác biệt về mặt tăng trưởng kinh tế. Vậy, đâu là
nguyên nhân dẫn đến những sự khác biệt đó? Những nguyên nhân đó tác động như
thế nào đến tăng trưởng kinh tế của khu vực? Đã có rất nhiều bài báo, nghiên cứu
khoa học nghiên cứu về vấn đề này, trong đó phải kể đến: nhóm tác giả của trường
đại học Văn Hiến (2016) đã công bố Nghiên cứu tác động của vốn đầu tư tư nhân,
lao động và cơ sở hạ tầng đến tăng trưởng kinh tế vùng Đồng bằng song Cửu Long,
Inflation and economic growth của tác giả Barro, R.J xuất bản năm 1995 với mục
tiêu phân tích tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế và đầu tư,…
Vì thế nên chúng em lựa chọn đề tài: Các yếu tố ảnh hƣởng đến GDP các
tỉnh thành Việt Nam từ năm 2008 đến 2018 với mong muốn sẽ tìm câu trả lời cho
câu hỏi trên. Với nghiên cứu của mình , chúng em hi vọng sẽ đánh giá được sự phát


trưởng kinh tế.
Theo lý thuyết của Keynes, trong ngắn hạn, sẽ có sự đánh đổi giữa lạm phát
và tăng trưởng. Nghĩa là, muốn cho tăng trưởng đạt tốc độ cao thì phải chấp nhận
một tỷ lệ lạm phát nhất định. Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng và lạm phát di
chuyển cùng chiều. Sau giai đoạn này, nếu tiếp tục chấp nhận tăng lạm phát để thúc
đẩy tăng trưởng thì GDP cũng không tăng thêm mà có xu hướng giảm đi. Theo chủ
nghĩa trọng tiền mà đại diện là Milton Friedman cho rằng lạm phát là sản phẩm của
việc gia tăng cung tiền hoặc tăng hệ số tạo tiền ở mức độ lớn hơn tốc độ tăng trưởng
kinh tế. Lập luận này cũng được thể hiện trong công thức nổi tiếng của Irving Fisher
(lý thuyết số lượng tiền tệ - Quantity theory of Money):
MV=PY
Trong đó:
M: cung tiền
V: Hệ số tạo tiền
P: Giá
Y: sản lượng đầu ra (GDP thật)
Cũng theo Friedman, nếu giá cả hàng hóa trong nền kinh tế tăng gấp 2 lần
mà thu nhập của người lao động cũng tăng gấp 2 lần, họ sẽ không quan tâm đến
việc tăng giá hàng hóa. Trong trường hợp như vậy, tăng trưởng không bị suy giảm

3


bởi lạm phát. Nếu lạm phát xảy ra theo hướng này thì không ảnh hưởng nguy hiểm
đến tăng trưởng kinh tế.
Nói tóm lại, theo quan điểm của thuyết trọng tiền, trong dài hạn, giá cả bị ảnh
hưởng bởi cung tiền chứ không thực sự tác động lên tăng trưởng. Nếu cung tiền
tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra. Nếu giữ
cung tiền và hệ số tạo tiền ổn định thì tăng trưởng cao sẽ làm giảm lạm phát.
Theo lý thuyết tân cổ điển: Tobin (1965, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif

công nghệ.
Để nghiên cứu được mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, cũng như
đánh giá được tác động của nó, phần sau đây trình bày một khung khổ lý thuyết sử
dụng mô hình tăng trưởng nội sinh.
Trong mô hình này, Y là sản phẩm đầu ra của nền kinh tế được tạo ra bởi khu
vực sản xuất sản phẩm cuối cùng bằng công nghệ sản xuất tổng quát, sử dụng các
yếu tố đầu vào là vốn vật chất K và vốn con người H:
Y(t) = A(t)f(K(t), H(t))
Giả sử tiến bộ công nghệ gọi là (t), tăng trưởng với tốc độ không đổi a (hay
(t) (0) với (0) là mức độ công nghệ tại thời điểm gốc), thì hàm sản xuất giả định ở
trên, trình độ công nghệ sẽ ảnh hưởng tích cực đến cả hai yếu tố đầu vào K(t), H(t).
Kết quả của cơ chế này là tiến bộ công nghệ sẽ tác động gián tiếp tới sản phẩm đầu
ra Y(t). Lúc này Y là tổng sản phẩm quốc nội GDP thể hiện tốc độ tăng trưởng kinh
tế qua mô hình sau:
gy = gGDP = -θ[Ω(F(b, N/N*))-1 -ρ]
Điều quan trọng nhất rút ra từ mô hình là tồn tại mối quan hệ trực tiếp giữa
FDI và tăng trưởng kinh tế. Thông qua FDI, không những hàng hóa vốn mới được
tạo ra (tăng tài sản vốn vật chất của nền kinh tế) mà chi phí để sản xuất ra chúng còn
giảm đi, qua đó tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế.
Lý thuyết chu kỳ sản phẩm của Raymond Vermon :
Lý thuyết chu kỳ sản phẩm của Raymond Vermon giải thích sự phát triển của
các công ty xuyên quốc gia qua 3 giai đoạn phát triển của sản phẩm mới: đổi mới,
tăng trưởng và bão hào. Để sản xuất tiếp tục được phát triển, công ty phải mở rộng
thị trường phát triển ở nước ngoài, nhưng do bị hạn chế bở hàng rào thuế quan và
hạn ngạch, nên hoạt động đầu tư nước ngoài sẽ đem lại hiệu quả hơn.
Lý thuyết chu kỳ sản phẩm bắt kịp của Akamatsu:
Theo Akamatsu, sản phẩm mới được phát minh và ra đời ở nước đầu tư. Sau
đó được xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Tại nước nhập khẩu, do ưu điểm cảu sản
5


. Đây là hình thức kinh doanh của các doanh nghiệp tổ chức trên lãnh thổ nền kinh

6


tế này trên lãnh thổ của nền kinh tế khác nhằm đạt được lợi ích lâu dài và vị thế ổn
định bản thân.
PCI là Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Provincial Competitiveness
Index) - là chỉ số đánh giá và xếp hạng chính quyền các tỉnh, thành của Việt Nam về
chất lượng điều hành kinh tế và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc
phát triển doanh nghiệp dân doanh. Đây là dự án hợp tác nghiên cứu giữa Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và dự án sáng kiến cạnh tranh Việt Nam (là
dự án do cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ - USAID, tài trợ và thí điểm vào năm
2005 và chính thức đưa vào triển khai từ 2006 đến nay.
Lạm phát là sự gia tăng mức giá chung của tiền tệ và hàng hóa theo thời gian
và là sự mất giá trị của một loại tiền nào đó. Lạm phát là một yếu tố xuất hiện ở hầu
hết các quốc gia và phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ.
1.2. Những nghiên cứu thực nghiệm
Theo những tài liệu chúng em tìm được thì trước nay có khá nhiều những bài
báo cáo liên quan đến sự ảnh hưởng của biến ngoại sinh tới biến phụ thuộc là GDP.
Inflation and economic growth của tác giả Barro, R.J xuất bản năm 1995 với
mục tiêu phân tích tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế và đầu tư bằng
phương pháp ước lượng hồi quy cổ điển đã dựa trên lí thuyết lạm phát chỉ có tác
động xấu đến nền kinh tế của Briault (1995) để cho thấy kết quả là nếu lạm phát
tăng trung bình 10% mỗi năm thì tốc độ tăng trưởng GDP thực tế sẽ giảm 0.2-0.3%
và tỷ lệ đầu tư cũng giảm 0.4 -0.6% mỗi năm . Tuy nhiên mặt trái của sự nghiên cứu
này là Kết quả thống kê chỉ có ý nghĩa khi tỉ lệ lạm phát cao được đưa vào trong
mẫu. Ở Việt Nam năm 2015 tạp chí của Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí
Minh cũng đã công bố một bài nghiên cứu của hai tác giả : Nguyễn Minh Sáng và
Tôn Nữ Diệu Khuê về vấn đề lạm phát và tăng trưởng kinh tế của các nước đang

(cointegration) để phân tích quan hệ giữa các biến số kinh tế sử dụng dữ liệu theo
dãy số thời gian.Nghiên cứu được phát triển bởi Granger (1981) và hoàn thiện bởi
Engle và Granger (1987). Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phân tích hồi
quy tuyến tính dựa trên lí thuyết xây dựng mô hình nghiên cứu định lượng. Tuy
nhiên mô hình lại không đảm bảo thuộc tính tĩnh cần có.
Năm 2003 Laura Alfaro xuất bản bài viết Foreign Direct Investment and
Growth: Does the Section Master? trên Harvard Business School bàn về việc phân
tích thực nghiệm sử dụng dữ liệu chéo và áp dụng các mô hình hồi quy kinh tế
lượng để chỉ ra rằng FDI ảnh hưởng tới rất nhiều mặt lĩnh vực kinh tế. Hạn chế của
8


bài viết lại là chỉ dừng lại ở mức tổng quan, chưa thể hiện rõ tác động bên trong vấn
đề, cơ chế truyền dẫn. Cũng trong cùng chủ đề về FDI có các nhóm tác giả thuộc
trường đại học International Black Sea University nghiên cứu về ảnh hưởng của
FDI lên sự phát triển kinh tế của một số nước trong khoảng từ 1997 đến 2010. Đề
tài : FDI and Economic Growth Relationship Based on Cross-Country Comparison
của nhóm tác giả đã khẳng định mối quan hệ giữa FDI và phát triển kinh tế là vô
cùng quan trọng như tạo nên những cơ hội việc làm mới, dòng vào của công nghệ
và nó có ảnh hưởng tích cực lên sự phát triển của thị trường hàng hoá.
Mặt khác năm 2016, nhóm tác giả của trường đại học Văn Hiến cũng đã công
bố Nghiên cứu tác động của vốn đầu tư tư nhân, lao động và cơ sở hạ tầng đến tăng
trưởng kinh tế vùng Đồng bằng song Cửu Long. Mục đích của nghiên cứu này là
phân tích tác động của vốn đầu tư tư nhân, lao động, cơ sở hạ tầng đến tăng trưởng
kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long bằng cách sử dụng hồi quy bằng phương
pháp ước lượng (FEM).Kết quả thu được cho rằng cơ sở hạ tầng, vốn và lao động có
tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế vùng ĐBSCL trong giai đoạn 20092013. Trong các điều kiện khác không thay đổi, các biến đôc lập của mô hình này
giải thích 64,17% sự thay đổi của biến phụ thuộc tăng trưởng kinh tế. Điểm yếu của
bài quan sát này chính là thời gian quan sát mới chỉ dừng lại ở 5 năm: chưa đánh giá
được độ trễ tác động các yếu tố cơ sở hạ tầng vào tăng trưởng kinh tế khu vực

xuất dạng mô hình nghiên cứu như sau:
Mô hình hàm hồi quy tổng thể:
PRF: ln(GDPi )= β1 + β2.ln(LABOi)+ β3.INFLAi + β4.PCIi + β5 .CITYi +
β6.ln(FDI)+ ui
Mô hình hàm hồi quy mẫu:
SRF: ln(GDPi )= 1 + 2.ln(LABOi ) + 3.INFLAi+ 4.PCIi + 5 .CITYi + 6 ln(FDIi) +
i

2.2. Phƣơng pháp luận đƣợc sử dụng trong nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp thu thập số liệu

10


Số liệu đã nhóm thu thập thuộc dạng thông tin thứ cấp, dạng số liệu hỗn hợp,
thể hiện thông tin của các yếu tố kinh tế của từng tỉnh trong giai đoạn từ 2008 đến
2018.
Nguồn dữ liệu thứ cấp được lấy từ nguồn xác minh có tính chính xác cao, cụ
thể là từ nguồn dữ liệu của Tổng cục thống kê, niên giám thống kê và trang thống kê
PCIVIETNAM.
Cụ thể:
 GDP: tính theo phương pháp thu nhập dựa trên số liệu của niên giám thống kê,
mục thu nhập phân theo 5 nhóm thu nhập và địa phương. GDP tính theo thu nhập
nhưng thực tế, chính phủ chỉ thực hiện điều tra thu nhập 2 năm một lần. Vậy nên, số
liệu của nhóm sử dụng không thể liên tục từng năm, mà sẽ chu kì 2 năm một lần
trong giai đoạn 2008 đến 2018.
 FDI: tính theo số liệu báo cáo của niên giám thống kê mục đầu tư trực tiếp nước
ngoài được cấp giấy phép phân theo từng địa phương.
 Lao động: tính theo số liệu của tổng cục thống kê mục lao động từ 15 tuổi trở lên
phân theo địa phương.

Nhóm tác giả sử dụng các biến số được ghi lại dưới bảng 3.1 với kỳ vọng
tương ứng.
Bảng 3.1: đặc điểm của các biến và kỳ vọng
Dấu kỳ
vọng

STT Ký hiệu biến

Nội dung

Đơn vị

1

GDP

Tỷ lệ mức tăng trưởng của tổng sản
phẩm quốc nội hàng năm

Nghìn
Dollar

+

2

LABO

Số lượng lao động



Có phải Thành phố trực thuộc trung
ương không?

+
triệu Dollar

+
+

(Nguồn: Dựa vào việc thu thập số liệu để có đơn vị của biến, và các nghiên cứu
đi trước để đưa ra kỳ vọng)
Bảng 3.1 cho ta thấy ngoại trừ tỉ lệ lạm phát, mọi thông số như số lượng lao
động, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh cũng như đầu tư trực tiếp nước ngoài hay
vùng đó có phải thành phố trực thuộc trung ương hay không, đều được nhóm kỳ
vọng sẽ tác động tích cực (theo chiều dương) đến tỷ lệ tăng trưởng tổng sản phẩm
12


quốc nội. Song song đó, tỉ lệ lạm phát sẽ được kỳ vọng tác động tiêu cực (theo chiều
âm) đến tỷ lệ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội.
Khi một vùng có số lượng lao động lớn, đầu tư trực tiếp nước ngoài cao, hay
là địa điểm tập trung nhiều loại hình dịch vụ (thành phố trực thuộc trung ương),
ngoài ra còn là nơi mà có chỉ số cạnh tranh cao hơn các vùng khác thì có thể thấy
việc phát triển kinh tế - xã hội sẽ dễ dàng hơn rất nhiều. Còn tỉ lệ lạm phát lại hoàn
toàn khác, khi nó càng lớn thì việc mất giá hàng hóa theo thời gian càng lớn, điều
đó sẽ gián tiếp đẩy GDP của vùng tụt xuống.
2.3.2. Quan sát tổng quan các biến trong mô hình
Chạy lệnh su ln(GDP) ln(LABO) INFLA PCI ln(FDI), ta được kết quả
Bảng 3.2 : Tổng quan các quan sát của biến

0.5582

5.191845

8.40492

INFLA

378

8.608333

7.148835

1.84

22.97

PCI

378

58.14072

5.435713

36.39006

72.18393



lnLABO

INFLA

PCI

lnGDP
lnLABO

1.0000
0.3988

1.0000

INFLA

-0.7279

-0.0864

1.0000

PCI

0.6055

0.2708

-0.4046

đa cộng tuyến giữa các biến độc lập.
Kết luận:
 Tương quan về dấu của các biến độc lập với biến phụ thuộc đúng như dấu kì
vọng (trừ biến FDI)
 Nhìn chung, các biến độc lập có tương quan trung bình thấp đối với biện phụ
thuộc là tỷ lệ thất nghiệp và có tác động theo chiều âm đến biến phụ thuộc,
trừ biến POP và biến FDI có tác động theo chiều dương lên biến phụ thuộc.

14


3 , KẾT QUẢ ƢỚC LƢỢNG VÀ THẢO LUẬN
3.1. Lựa chọn mô hình
Với dữ liệu dạng bảng, ta có thể sử dụng ba dạng mô hình đó là mô hình hồi
quy dạng gộp Pool OLS, mô hình tác động ngẫu nhiên RE hoặc mô hình tác động
cố định FE. Bảng 4.1 cho ta thấy kết quả ước lượng khi chạy hồi quy các mô hình
và kết quả kiểm định mô hình.

15


Bảng 4.1: Kết quả ước lượng và kiểm định mô hình

Tên biến

Mô hình RE

Mô hình FE

Mô hình Cluster


-0.04312492
0

-0.04312492
0

pci
p_value

0.02299804
0

0.01775588
0

0.01775588
0

city
p_value

0.32979298
0.0003

(omitted)

(omitted)

_cons

Prob>chi2 =

0.0004

Kđ tự tương quan
(xthrtest)

P_value = 0.0000
HR-stat = 7.07

Kđ phương sai sai
số thay đổi

Prob>chi2 =

0.0000

(xttest3)
Kđ tương quan
chéo (xtcsd,

P_value = 0.0000
Pesaran's test = 73.15

pesaran abs)
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ phần mềm Stata)

16



Nhóm tác giả dùng lệnh “xthrtest” để kiểm định tự tương quan của nhiễu.
Kết quả được trình bày ở Bảng 4.1 hệ số HR-stat nhận giá trị 7.07, p_value là 0.000.
Như vậy, mô hình FE bị mắc tự tương quan.
Để kiểm định giả thuyết MLR2, nhóm nghiên cứu dùng lệnh “xtcsd, pesaran
abs”. Kết quả nhận được hệ số Pesaran là 73.15, p_value là 0.0000, vậy mô hình đã
bị mắc nhiễu có tương quan chéo.
17


Tóm lại, mô hình FE trên đã bị mắc ba khuyết tật đó là có hiện tương tự
tương quan, nhiễu tồn tại tương quan chéo và phương sai không thuần nhất.
3.3. Khắc phục khuyết tật của mô hình
Từ các kết quả kiểm định các giả thuyết MLR1, MLR2, MLR3 ở trên, mô
hình được nhóm lựa chọn đang mắc phải cả ba khuyết tật tự tương quan, tương quan
chéo ở nhiễu và phương sai sai số thay đổi. Tuy nhiên do nghiên cứu sử dụng chuỗi
thời gian không liên tục nên không thể sử dụng lệnh xtscc để khắc phục tất cả các
khuyết tật. Đây được xem là hạn chế trong nghiên cứu này khi chưa giải quyết được
hết các khuyết tật trong mô hình nghiên cứu. Các tác giả đã thống nhất khắc phục
hai khuyết tật lớn nhất đó là: hiện tượng tự tương quan (autocorrelation) và phương
sai sai số không thuần nhất (heteroskedasticity).
Nhóm nghiên cứu đã hiểu chỉnh hồi quy mô hình FE với tùy chọn
“clustered” để khắc phục các khuyết tật trên, đưa về mô hình Cluster. Kết quả ước
lượng được thể hiện trong cột 4 (mô hình Cluster) của bảng 4.1.
ln(GDPi )= 1 + 2.ln(LABOi ) + 3.INFLAi+ 4.PCIi + 5 .CITYi + 6 ln(FDIi) +
i

Từ cột 4 bảng 4.1 trên, ta được mô hình hồi quy mẫu sau:
ln(GDP) = 3.98 + 0,63.ln(LABOi) – 0,043.INFLAi + 0.018. PCIi +
0,08.ln(FDIi)
Từ kết quả của mô hình được lựa chọn, có thể đưa ra những kết luận về các

ở phần trước. Với độ tin cậy là 95%, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi thì
khi tăng vôn đầu tư nước ngoài thêm 1% thì GDP tăng trung bình là 0.082%. Điều
này thể hiện các khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cao sẽ tạo điều kiện
phát triển, mở rộng đầu tư trong nước, tạo việc làm, thúc đẩy nền kinh tế của khu
vực đó tăng trưởng, theo đó mà GDP sẽ tăng.
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh: biến PCI có hệ số hồi quy là
0.0177559 và có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% (P-value=0.000 < 0.05) cho
thấy mối quan hệ thuận chiều giữa chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và biến độc
lập GDP, mang đúng với kỳ vọng của nhóm tác giả. Như vậy, với độ tin cậy là 95%,
trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
tăng 1 đơn vị thì GDP tăng trung bình 1.776%. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
được tính toán dựa trên 10 chỉ số thành phần gồm có: Gia nhập thị trường, tiếp cận
đất đai, tính minh bạch, chi phí thời gian, chi phí không chính thức, cạnh tranh bình
đẳng, tính năng động, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo lao động, thiết chế pháp
lý và an ninh trật tự. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh cao thể hiện khu vực đó có
môi trường phù hợp về mặt pháp lý, chi phí cũng như chế độ đãi ngộ, thể hiện

19


tín hiệu tốt giúp thu hút các nhà đầu tư, thúc đẩy tiêu dùng và xuất nhập khẩu, tạo đà
cho việc tăng trưởng kinh tế trong khu vực.
Lạm phát: biến số INFLA có hệ số hồi quy là -0.0431249 và có ý nghĩa
thống kê ở mức ý nghĩa 5% (P-value=0.000 < 0.05) cho thấy tác động nghịch chiều
của biến này lên biến phụ thuộc GDP, giống với kỳ vọng của nhóm tác giả. Với độ
tin cậy 95%, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi lạm phát tăng 1 đơn vị
thì GDP có xu hướng giảm trung bình 4.312%. Điều này hàm ý khi nền kinh tế có
dấu hiệu khủng hoảng, giá cả leo thang làm lạm phát tăng, điều này làm giảm tiêu
dùng của các hộ dân cư, các nhà đầu tư có tâm lý dè dặt trong việc đầu tư mới hoặc
mở rộng dự án đầu tư, làm cho kinh tế tăng trưởng chậm lại.

Ngoài ba hạn chế nêu trên, có thể trong bài nghiên cứu vẫn còn những điểm
chưa được sáng tỏ. Trên cơ sở của bài viết, nhóm tác giả hi vọng các nghiên cứu
tiếp theo làm về đề tài này sẽ kế thừa những thành công và khắc phụ những hạn chế
này, góp phần hoàn thiện về đề tài nghiên cứu cũng như tiếp tục tạo nền tảng cơ sở
vững chắc cho nhiều nghiên cứu về sau.

21


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Qua phân tích và ước lượng số liệu của các tỉnh thành Việt Nam, ta có thể
thấy GDP các tỉnh thành phụ thuộc vào các yếu tố: lực lượng lao động, lạm phát,
đầu tư trực tiếp nước ngoài, chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh. GDP của các tỉnh thành có
sự cải thiện rõ rệt qua các năm tuy nhiên mức độ chênh lệch giữ các tỉnh thành còn
lớn, đòi hỏi có sự can thiệp của chính phủ và chính quyền địa phương.
Lao động là yếu tố tác động mạnh nhất tới GDP, vì vậy các địa phương nên
tập trung phát triển nguồn nhân lực về cả số lượng và chất lượng, đảm bảo nguồn
nhân lực đầu vào giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đi lên. Bên cạnh đó chính quyền
còn cần quan tâm đến các chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, cùng với đó là nâng
cao năng lực cạnh tranh, tạo môi trường thuận lợi cho việc đầu tư và phát triển. Lạm
phát là nhân tố có ảnh hưởng tiêu cực đến GDP nên chính phủ cần đưa ra những
chính sách vĩ mô phù hợp để kiềm chế lạm phát.
Qua bài báo cáo này, nhóm tác giả hy vọng mô hình nghiên cứu của mình có
thể đóng góp trong việc ứng dụng thực tế và làm nền tảng cơ sở cho các nghiên cứu
sau này.

22


TÀI LIỆU THAM KHẢO

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status