TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Khoa Kinh tế quốc tế
---------
--------
BÀI GIỮA KỲ MÔN KINH TẾ LƯỢNG 2
ĐỀ TÀI:
Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số phát triển con người của
các quốc gia trên thế giới giai đoạn 2010 - 2016
Lớp tín chỉ: KTE318.2
Nhóm thực hiện: Nhóm 12
Chu Thúy Quỳnh
Lê Thị Hoàn
1714410195
1714410102
Nguyễn Thị Thùy Linh
1714410139
Khương Thanh Huyền
1714410118
Hà Nội, 9/2019
2.3.1. Mô tả thống kê................................................................................................. 12
2.3.2. Mức độ tương quan giữa các biến.................................................................... 13
3.
Kết quả ước lượng và thảo luận...................................................................... 14
3.1.
Lựa chọn mô hình........................................................................................... 15
3.2.
Kiểm định và khắc phục các khuyết tật mô hình............................................ 15
3.3.
Suy diễn thống kê........................................................................................... 16
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................... 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................... 19
PHỤ LỤC.................................................................................................................... 20
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Giải thích ý nghĩa các biến.......................................................................... 11
Bảng 2.3.1.Thống kê mô tả các biến............................................................................ 12
Bảng 2.3.2. Bảng ma trận tương quan giữa các biến.................................................... 13
Bảng 3. Bảng kết quả ước lượng và kiểm định............................................................ 14
Development Reports và sử dụng phần mềm stata để chạy mô hình hồi quy và kiểm
định mô hình.
1
1. Tổng quan về lý thuyết và tình hình nghiên cứu
1.1.
Cơ sở lý thuyết
HDI (viết tắt của Human Development Index) là chỉ số phát triển con người, là
thước đo tóm tắt về sự phát triển của con người, đo lường những thành tựu trung bình
của các quốc gia theo 3 chiều cơ bản của sự phát triển con người: một cuộc sống lâu
dài và khỏe mạnh, tiếp cận kiến thức và một mức sống ổn định.
Chỉ số HDI được phát triển nhằm nhấn mạnh vào các cá nhân chính xác hơn về
cơ hội của họ, để họ có thể nhận biết sự thỏa mãn về cuộc sống hoặc có những mong
muốn hơn về cuộc sống của chính mình. Từ đó giúp các quốc gia biết được mức phát
triển của con người và đề ra những chính sách phát triển hợp lí
Tuy nhiên, HDI không phản ánh cụ thể chất lượng các yếu tố cuộc sống, vì thế để
có một đánh giá toàn vẹn nhất về sự phát triển của một quốc gia, cần phải đi cùng
nghiên cứu về các bất bình đẳng giới, bất bình đẳng chủng tộc, tốc độ tăng trường kinh
tế, mở rộng cơ hội việc làm…
Cách tính HDI
Chỉ số phát triển con người thực chất là chỉ số trung bình của 3 chỉ số: chỉ số
GDP bình quân đầu người; chỉ số tuổi thọ và chỉ số tri thức.
Cụ thể, HDI được tính theo công thức: HDI = 3
×
√
quаn sát được.
HDI nhận giá trị từ 0 đến 1. HDI càng gần 1 có nghĩa là trình độ phát triển con
người càng cao, trái lại càng gần 0 nghĩa là trình độ phát triển con người càng thấp.
Các yếu tố nêu trong nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng em nhận thấy có một số yếu tố sau đây có ảnh
hưởng lớn đến chỉ số phát triển con người HDI: Mức độ giàu có (GNIcap); Chỉ số giáo
dục (educ); Số năm đi học trung bình (meaneduc); Tuổi thọ trung bình (lifeexp); Tỷ lệ
tử vong của trẻ sơ sinh (InfMort) và Chỉ số bất bình đẳng giới (GII).
Số năm đi học trung bình (meaneduc): Thể hiện mức độ tiếp cận tri thức của
con người nhân tố này cũng được nhóm em dự đoán có ảnh hưởng dương đến chỉ số
HDI. Số năm đi học trung bình càng cao, cơ hội và khả năng tiếp cận tri thức của con
người càng lớn, trình độ dân trí phát triển, con người sẽ được phát triển hơn, chỉ số
HDI sẽ tăng, và ngược lại
Tuổi thọ trung bình (lifeexp): Thể hiện một cuộc sống khỏe mạnh và lâu dài.
Dự đoán ảnh hưởng dương đến chỉ số HDI. Tức là nếu các chính sách y tế, chăm sóc
sức khỏe, chính sách xã hội…được áp dụng tốt, con người sẽ sống lâu dài và khỏe
mạnh, có nhiều cơ hội hơn để được giáo dục, sản xuất, phát triển tốt hơn, chỉ số HDI
tăng, và ngược lại
Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh (InfMort): mức độ tử vong của trẻ sơ sinh có thể
xuất phát từ nhiều nguyên nhân: sự thiếu hiểu biết của người mẹ do thiếu giáo dục hay
điều kiện, sự thiếu sơ sở vật chất nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống, các chính sách đãi
ngộ dành cho bà bầu,… Nếu các chính sách, học thức của bà mẹ tăng lên cũng như
môi trường tốt hơn thì số trẻ tử vong sẽ giảm đi thể hiện sự phát triển cũng như chất
lượng cuộc sống tang lên.
Chỉ số bất bình đẳng giới (GII): Bình đẳng giới trong giáo dục có ảnh hưởng
tích cực đến chất lượng nguồn nhân lực của tương lai. Khi mức độ bất bình đẳng giới
trong giáo dục giảm đi, tức là ở mỗi cấp đào tạo, tỷ lệ nữ so với nam tăng lên và khi
trình độ và nhận thức của phụ nữ trong gia đình được cải thiện, số lượng và chất lượng
3
Năm 1990, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đã xuất bản báo cáo
về phát triển con người (HDR) và lần đầu tiên đưa ra Chỉ số phát triển con người
(HDI). Trong Báo cáo này, UNDP đã đưa ra quan điểm mới về mục đích của sự phát
triển: “Của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó. Và mục đích
của phát triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng
4
cuộc sống dài lâu, khỏe mạnh và sáng tạo. Chân lý giản đơn nhưng đầy sức mạnh này
rất hay bị người ta quên mất trong lúc theo đuổi của cải vật chất và tài chính” (UNDP,
1990).
Nhằm mục đích khắc phục các quan điểm trước đây về sự phát triển, nó không còn
phù hợp với thế giới hiện đại khi đánh giá phát triển chỉ gói gọn trong tăng trưởng kinh
tế. Có những quốc gia tăng trưởng kinh tế rất cao, nhưng tình trạng đói nghèo bệnh tật và
thất học vẫn còn tồn tại nhiều và đang có chiều hướng tiêu cực. Do vậy cần có cách nhìn
nhận mới về phát triển. Từ các kết quả nghiên cứu, thế giới đã thừa nhận rằng tăng
trưởng kinh tế chưa hoàn toàn đồng nghĩa với phát triển, mà chỉ là một yếu tố của phát
triển, mặc dù đó là yếu tố quan trọng. Phát triển phải là mở rộng phạm vi lựa chọn của
con người để đạt đến một cuộc sống trường thọ, khoẻ mạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với
con người. Quan điểm này được gọi là phát triển con người, nó bao hàm hai khía cạnh
chính là mở rộng các cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực lựa chọn của con người nhằm
hưởng thụ một cuộc sống hạnh phúc, bền vững
Từ năm 1990 đến nаy, Báо cáо PTCN vẫn được xuất bản hàng năm với những
chủ đề khác nhаu, mới nhất là nhận định trong năm 2019: “Tập trung vào sự bất bình
đẳng”. Báo cáo sẽ vượt ra ngoài diễn ngôn chi phối tập trung vào chênh lệch thu nhập
để xem xét sự bất bình đẳng trong các khía cạnh khác như y tế, giáo dục, tiếp cận
công nghệ và tiếp xúc với các cú sốc liên quan đến kinh tế và khí hậu. Nó sẽ sử dụng
dữ liệu và phương pháp mới để làm nổi bật sự bất bình đẳng ảnh hưởng đến cuộc
sống của mọi người theo cách mà các biện pháp dựa trên mức trung bình không thể
Kế thừa những lí luận chung của Mahbub và Hopkins là các báo cáo để đưa ra
các quan điểm cụ thể như trong cuộc kiểm tra về bất bình đẳng chéo trong HDI và thu
nhập thực tế trên đầu người của Rati Ram năm 2008 thì Ram nhận xét về một số xu
hướng và phát hiện trong nghiên cứu về HDI và bất bình đẳng, đặc biệt liên quan đến
các quốc gia thực hiện kém trong các biện pháp HDI. Nghiên cứu lưu ý rằng các khu
vực thể hiện mức độ bất bình đẳng cao (như SubSaharan Châu Phi) hoạt động kém
trong các biện pháp HDI do các yếu tố, như nghèo đói cùng cực và tuổi thọ thấp, cũng
là đặc hữu của các khu vực đó. Tuy nhiên, Ram phát hiện ra rằng các biện pháp HDI
và bất bình đẳng khác nhau đáng kể giữa các khu vực, do đó có khả năng gây khó khăn
trong việc đưa ra mối tương quan trực tiếp trên cơ sở xuyên quốc gia. Từ nghiên cứu
đó của Ram đã khẳng định 2 biến HDI và thu nhập thực tế trên đầu người có sự tương
quan đến nhau. Tuy nhiên, nghiên cứu của ông vẫn còn tồn tại hạn chế đó là HDI bị
chỉ trích vì không thể thể hiện sự bất bình đẳng thu nhập trong nước, đặc biệt là đối với
các quốc gia thực hiện tốt các biện pháp HDI tổng hợp.
6
Cũng cùng với mục đích chứng minh mối tương quan tiêu cực mạnh mẽ giữa
mức độ phát triển của con người và mức độ bất bình đẳng trong một quốc gia thì năm
2009 báo cáo của Grimm với nội dung kiểm tra các thành phần riêng lẻ bao gồm HDI
trong nỗ lực so sánh tốt hơn các tác động của bất bình đẳng đối với sự phát triển của
con người cả trong và ngoài nước.
Ở khía cạnh khác, Srinivasan đã làm nghiên cứu để chứng minh việc mang lại thu
nhập tương đương với trọng lượng là không chính xác. Ông đã chỉ trích chỉ số về sơ đồ
trọng số không đồng đều, tùy ý của HDI. Cuối cùng thì ông phải nhận nhiều chỉ trích khi
kết quả hoàn toàn ngược lại với mục đích của ông. Thực tế ông đã nhận thất bại khi thấy
thu nhập ảnh hưởng đến sự phát triển con người của đất nước nhiều như giáo dục.
Phát triển con người là một quá trình mở rộng cơ hội lựа chọn và năng lực cho con
người, trong đó, có những sự lựа chọn mаng tính thiết yếu như có một cuộc sống mạnh
được hòа nhập về mặt xã hội). Bên cạnh đó, nó còn bаo gồm các cơ hội để nâng cаo
năng lực như được đến trường học, được tự do đưа rа các lựа chọn kinh tế, tự do di
chuyển và lựа chọn chỗ ở cho mình.
Khi kiểm tra đến các yếu tố liên quan HDI, cũng đã có nhiều nghiên cứu về vấn
đề sức khỏe vì đây là một trong các nhân tố quan trọng của chỉ số phát triển con người.
Ngày nay, chi tiêu cho sức khỏe - yếu tố được xem xét là quan trọng trong mối quan hệ
với sự phát triển con người. Bản báo cáo HDR vào năm 2013 của UNDP đã chỉ ra ở
những nước có chỉ số HDI rất cao có tổng chi tiêu cho sức khỏe lớn, trung bình 12,2 %
trên tổng GDP, trong đó các nước có chỉ số HDI rất thấp chỉ có tổng chi tiêu cho sức
khỏe là 5,2 % trên tổng GDP. Chi tiêu cho sức khỏe được cho là cải thiện sự phát triển
con người thông qua các kênh như: tăng trưởng kinh tế, tăng tuổi thọ trung bình và
giảm tỷ lệ tử. Tăng trưởng kinh tế là quá trình gia tăng sức chứa của nền kinh tế, góp
phần nâng cao mức thu nhập và sản xuất. Sự thúc đẩy về sức khỏe không chỉ làm tăng
vốn con người thông qua tích lũy vốn sức khỏe, ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng
mà còn cải thiện năng suất lao động thông qua tăng tuổi thọ, giảm số ngày nghỉ vì ốm,
ảnh hưởng gián tiếp đến năng suất. Bên cạnh đó, chi tiêu cho sức khỏe còn ảnh làm
tăng tuổi thọ trung bình và giảm tỷ lệ tử.
Bên cạnh yếu tố tương quan của sức khỏe lên chỉ số phát triển con người thì cũng có
các nghiên cứu chỉ ra ảnh hưởng củа sự bất bình đẳng tới sự phát triển củа con người.
Như theo Nghiên cứu củа UNDP về vấn đề này Trong báo cáo “Điều chỉnh Chỉ số Phát
triển con người ở khíа cạnh bất bình đẳng” củа UNDP, phản ánh vấn đề bất bình đẳng
trong từng khíа cạnh củа chỉ số HDI là một mục tiêu đã được đề rа ngаy từ Báo cáo Phát
triển Con người năm 1990. Báo cáo năm nаy giới thiệu chỉ số HDI có điều chỉnh khíа
cạnh bất bình đẳng (IАDI), một cách đo lường mức độ phát triển con người trong xã hội
8
trong đó có cân nhắc vấn đề bất bình đẳng. Trong điều kiện bình đẳng hoàn hảo, HDI
và IHDI sẽ bằng nhаu. Khi có sự bất bình đẳng trong phân bổ y tế, giáo dục và thu
Trong đó:
0:
ệ ố ℎặ
: ệ ố ó
: á
:
ế
ố
ố ó ả ℎ ℎưở
ẫ
̅
HDI
LnGNIcap
educ
meaneduc
Tên biến
Giải thích
Chỉ số phát triển
Biến đại diện cho chỉ số
con người
phát triển con người ở một
quốc gia
Logarit tự nhiên
Biến đại diện cho thu nhập
quốc dân trên đầu người đã
điều chỉnh của một quốc
gia (mức độ giàu có)
của GNIcap
Biến đại diện cho tỷ lệ tử
vong của trẻ sơ sinh ở một
quốc gia
Chỉ số bất bình
GII
2.2.
đẳng giới
Cách đo
Dấu
kỳ
vọng
Xây dựng thang đo có giá trị từ 0
đến 1 trong đó:
+ 1: Thể hiện trình độ phát triển
con người cao nhất
+ 0: Thể hiện trình độ phát triển con
người thấp nhất
(Dựa theo báo cáo phát triển con
người của UNDP)
Là hàm logarit tự nhiên của thu
nhập quốc dân bình quân đầu
người (USD)
Chỉ số càng cao thì chất lượng
giáo dục càng tốt
(+)
(-)
Biến đại diện cho chỉ số
Nguồn dữ liệu
Dữ liệu của nhóm được tổng hợp từ nhiều nguồn để tạo ra một bộ dữ liệu gắn kết
tất cả các biến mà nhóm tác giả quyết định quan sát. Cụ thể là:
Đối với các biến HDI, educ, meaneduc, lifeexp và GII nhóm tác giả thu thập từ
Báo cáo Phát triển con người của UNDP công bố ngày 14 tháng 9 năm 2018
Đối với các biến GNIcap, InfMort nhóm tác giả thu thập từ World Bank
11
(-)
2.3.
Mô tả thống kê và phân tích tương quan
2.3.1. Mô tả thống kê
Về số lượng các quan sát, nhóm tiến hành khảo sát hơn 194 quốc gia trên thế giới
và thu về 929 quan sát hợp lệ. Dưới đây là bảng thống kê mô tả chung cho các biến
thành phần:
Biến
Số quan
929
929
929
929
929
929
929
0.1543
0.3250
19436.1000
219.9199
0.1704
0.1890
3.1329
1.4000
8.1967
47.6000
11.0606
0.9000
0.1882
0.0400
Bảng 2.3.1. Thống kê mô tả các biến
Nguồn: Kết quả được nhóm tác giả tổng hợp từ phần mềm STATA
Qua quan sát 194 quốc gia từ năm 2010 đến năm 2016 nhìn vào Bảng 2.3.1 nhóm
tác giả rút ra các nhận xét:
HDI trung bình mỗi nước là 0.7188. Quốc gia có chỉ số HDI lớn nhất là 0.951
tương ứng với Na Uy. Quốc gia có chỉ số HDI nhỏ nhất là 0.325 tương ứng với
1
HDI
1
lnGNIcap 0.9223
0.8709
0.7804
1
educ
0.7804
0.8677
1
meaneduc 0.9055
lifeexp
0.8511
0.767
0.7845
0.694
1
-0.8272
-0.822
1
InfMort -0.9134 -0.7779 -0.7742
-0.8701 -0.7753
-0.787
-0.8274
-0.742
0.8427
GII
GII
Mô hình
cuối
0.0054
(11.12)
(6.53)
(1.48)
0.2435
0.3138
0.3138
(17.25)
(23.6)
(7.97)
0.0085
0.0042
0.0042
(11.29)
-0.0205
-0.0205
(-4.94)
(-3.52)
(-1.91)
0.1091
0.0681
0.0681
(5.09)
(3.31)
(1.45)
Số quan sát
929
929
929
Kết quả kiểm định
0.000
Mô hình cuối phù hợp
xttest0
chibar2 = 2207.42
Chọn mô hình RE
P-value = 0.000
hausman
chi2 = 1458.49
Chọn mô hình FE
P-value = 0.000
xtserial
F(1,133) = 77.055
Mô hình mắc bệnh tự
tương quan
p-value = 0.0000
xttest2
xttest3
3 ta thấy kết quả kiểm định có P-value = 0.000 nên biến bị bỏ sót là đáng kể, do
đó lựa chọn mô hình RE
Bước 4: Dùng lệnh xtreg HDI lnGNIcap educ meaneduc lifeexp InfMort GII,
fe để thực hiện hồi quy mô hình F-E, kết quả hồi quy được ghi lại ở Bảng 3 (cột 3)
Bước 5: Lưu kết quả vừa ước lượng của mô hình fe bằng lệnh est store mhfe
Bước 6: Thực hiện hồi quy lại mô hình RE qua lệnh như bước 2
Bước 7: Kiểm định lựa chọn mô hình RE và mô hình FE qua lệnh hausman
mhfe, từ Bảng 3 ta thấy kết quả kiểm định có P-value = 0.000 nên biến bị bỏ sót là
tương quan với các biến độc lập dẫn đến mô hình RE là chệch và không vững, do đó ta
lựa chọn mô hình FE
Bước 8: Hồi quy lại mô hình FE sau khi đã lựa chọn để thực hiện các kiểm định
khuyết tật mô hình
3.2.
Kiểm định và khắc phục các khuyết tật mô hình
Mô hình tác động cố định FE nghiên cứu các biến đang bị bỏ sót không quan sát
được (Ci) nên kiểm định khuyết tật bỏ sót biến được bỏ qua.
Dữ liệu của mô hình là dữ liệu bảng nên hạn chế được đa cộng tuyến, do đó
không cần kiểm định khuyết tật đa cộng tuyến.
Do mẫu lớn thì phân phối của nhiễu không chuẩn sẽ không ảnh hưởng kết quả
ước lượng mô hình nên ở bài nghiên cứu với số quan sát lớn (=5%, n= 929) cũng bỏ
qua kiểm định khuyết tật phân phối chuẩn của nhiễu.
15
Vì vậy, khi lựa chọn mô hình tác động cố định FE ta chỉ cần kiểm định các
khuyết tật sau: kiểm định tự tương quan, kiểm định tương quan chéo và kiểm định
phương sai sai số thay đổi.
Từ Bảng 3 kết quả kiểm định cho ta thấy mô hình bị mắc các khuyết tật là tự
dục tăng 1 đơn vị thì chỉ số phát triển con người tăng 0.3138 đơn vị
học trung bình tăng 1 năm thì chỉ số phát triển con người tăng 0.0042 đơn vị
̂̂
=
̂̂
0.0054: Trong điều kiện giữ cho các yếu tố khác không đổi, khi thu nhập
= 0.3138 : Trong điề u kiệ n giữ cho các yế u tố khác không đổi, khi chỉ số giáo
̂̂
̂̂
= 0.0042 : Trong điều kiện giữ cho các yếu tố khác không đổi, khi sô năm đi
̂̂
̂̂
=
0.0053 : Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi tuổi thọ trung bình
tăng thêm 1 tuổi thì chỉ số phát triển con người tăng thêm 0.0053 đơn
vị 16
HDI giảm 0.012% Tác động này có ý nghĩa thực tế khá nhỏ.
+ Đối với biến GII: Trong điều kiện giữ cho các yếu tố lnGNIcap, educ, meaneduc,
lifeexp, InfMort không đổi, nếu chỉ số chênh lệch giới tính tăng lên 10% thì chỉ số
HDI giảm 0.205% Tác động này có ý nghĩa thực tế khá nhỏ.
Qua phần đánh giá mức độ tác động của các biến khi xét đến ý nghĩa thực tế, ta
nhận thấy biến educ có tác động nhiều nhất lên biến HDI và biến lnGNIcap gần như
không tác động lên biến HDI
17
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Quan điểm phát triển con người nhằm mục tiêu mở rộng cơ hội lựa chọn cho
người dân và tạo điều kiện để họ thực hiện sự lựa chọn đó (có nghĩa là sự tự do).
Những lựa chọn quan trọng nhất là được sống lâu và khỏe mạnh, được học hành và có
được một cuộc sống ấm no.
Bài nghiên cứu của nhóm nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố khác lên chỉ số
phát triển con người HDI có tác động như thế nào. Kế thừa các nghiên cứu cũng như báo
cáo của các nhà nghiên cứu trên thế giới, chúng em đã cập nhật số liệu trong những năm
gần đây để kết quả có thể phù hợp với cuộc sống hiện nay. Phát triển con người chính là,
và phải là, sự phát triển mang tính nhân văn. Đó là sự phát triển vì con người, của con
người và do con người. Và để có thể phát triển con người thì có rất nhiều yếu tố tác động
lên chỉ số này, nhóm nghiên cứu chúng em nhận thấy rằng tác động lên chỉ số phát triển
con người HDI không chỉ đơn thuần là chỉ có chỉ số sức khỏe, giáo dục và thu nhập mà
còn có cả sự bất bình đẳng trong giới tính, mức độ giàu có (thu nhập quốc dân bình quân
đầu người),… Đây là điểm mới mà nhóm nghiên cứu hướng tới.
Sau khi sử dụng phần mềm stata chạy mô hình kiểm định thì nhóm nghiên cứu
rút ra kết luận rằng yếu tố giáo dục có ảnh hưởng mạnh nhất lên HDI còn mức độ giàu
6. />7. \ Data \ Chọn Human Develpment Index (HDI) ở mục Data
bên trái
8. />
19
PHỤ LỤC
Do-file
****cập nhật dữ liệu vào data editor****
import excel "D:\KTLR\data_hdi.xlsx", sheet("Sheet3") firstrow clear
****xử lý số liệu****
sort HDI educ meaneduc GNIcap lifeexp InfMort GII
drop if HDI==.| educ==.| meaneduc==.| GNIcap==.| lifeexp==.| InfMort==.| GII==.
xtset id year // khai báo dữ liệu bảng
save "D:\KTLR\data_HD .dta", replace
use "D:\KTLR\data_HDI.dta", clear
****bảng mô tả thống kê dữ liệu****
su HDI GNIcap educ meaneduc lifeexp InfMort
GII gen lnGNIcap = ln(GNIcap)
****bảng và đồ thị ma trận tương quan *****
corr HDI lnGNIcap educ meaneduc lifeexp InfMort GII
graph matrix HDI lnGNIcap educ meaneduc lifeexp InfMort GII, half
****chạy hồi quy kiểm định lựa chọn mô hình****
xtreg HDI lnGNIcap educ meaneduc lifeexp InfMort GII, re
est store mhre
xttest0
xtreg HDI lnGNIcap educ meaneduc lifeexp InfMort GII, fe
est store mhfe
xtreg HDI lnGNIcap educ meaneduc lifeexp InfMort GII, re