Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số phát triển con người tỉnh Hưng Yên - Pdf 29


Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o Bé N¤NG NGHIÖP & PTNT
HäC VIÖN N¤NG NGHIÖP VIÖT NAM


VŨ NGỌC ÂN PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỈ SỐ
PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TỈNH HƯNG YÊNChyªn ngµnh: kinh TÕ N¤NG NGHIÖP
M sè: 60.62.01.15

Ng−êi h−íng dÉn khoa häc:
TS. VŨ THỊ PHƯƠNG THỤY Hµ Néi - 2014Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page i


Khoa kinh tế & Phát triển nông thôn – Học viên Nông nghiệp Việt Nam đã giúp
đỡ và hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình viết và hoàn thiện luận văn, đặc biệt là
cô giáo hướng dẫn khoa học TS. Vũ Thị Phương Thuỵ người đã hướng dẫn tôi
hoàn thiện từ đề cương sơ bộ đến luận văn.
Xin gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo, cán bộ sở ban ngành và nhân dân tỉnh
Hưng Yên, các đồng nghiệp tại Chi cục Thống kê huyện Yên Mỹ, Tổng cục
Thống kê đã giúp đỡ và cung cấp các số liệu và tài liệu tham khảo cho luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo Cục Thống kê tỉnh Hưng Yên, gia đình
và bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành khoá học và bản
luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Tác giả Vũ Ngọc Ân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC ĐỒ THỊ vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài i
1.2 Mục tiêu nghiên cứu iii
1.2.1 Mục tiêu chung iii
1.2.2 Mục tiêu cụ thể iii

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu l
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU liii
4.1 Thực trạng chỉ số HDI tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2008-2012 liii
4.1.1 Thực trạng chỉ số tuổi thọ liii
4.1.2 Thực trạng chỉ số giáo dục lvi
4.1.3 Thực trạng chỉ số thu nhập lviii
4.1.4 Chỉ số phát triển con người HDI giai đoạn 2008-2012 lxii
4.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến HDI tỉnh Hưng Yên giai
đoạn 2008-2012 lxvii
4.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số tuổi thọ lxvii
4.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số giáo dục lxxv
4.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số thu nhập lxxxi
4.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng khác xcvii
4.3 Định hướng các giải pháp nâng cao chỉ số HDI xcvii
4.3.1 Cơ sở đề suất xcvii
4.3.2 Các giải pháp nâng cao chỉ số HDI ci
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ cvi
5.1 Kết luận cvi
5.2 Khuyến nghị cviii
TÀI LIỆU THAM KHẢO cx
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Giá trị biên của các thành phần xxi
Bảng 2.2: Xếp hạng HDI năm 2012 một số nước trên thế giới xxxii
Bảng 3.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số tỉnh Hưng Yên năm 2012 xlii
Bảng 3.2: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế tỉnh Hưng Yên xliii
Bảng 3.3: Tổng sản phẩm (GDP) tỉnh Hưng Yên theo giá so sánh 1994 xlv

Bảng 4.25: Tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Hưng Yên lxxxiii
Bảng 4.26: Vốn đầu tư phát triển bình quân của hộ (Số liệu điều tra) lxxxiv
Bảng 4.27. Doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên năm 2012 lxxxv
Bảng 4.28: Giá trị tổng sản phẩm và cơ cấu kinh tế tỉnh Hưng Yên lxxxviii
Bảng 4.29: Quy mô và cơ cấu kinh tế các huyện Yên Mỹ, Ân Thi lxxxix
Bảng 4.30: Thu NSNN trên địa bàn tỉnh Hưng Yên xc
Bảng 4.31: Tỷ lệ lao động có việc làm và thu nhập của hộ (Số liệu điều tra) xci
Bảng 4.32: GDP bình quân đầu người tỉnh Hưng Yên xcii
Bảng 4.33: Bảng thu nhập BQ một nhân khẩu, một tháng tỉnh Hưng Yên xciii
Bảng 4.34: Cơ cấu thu nhập các nhóm qua 3 năm 2008, 2010 và 2012 xcv
Bảng 4.35: Tỷ lệ hộ nghèo tỉnh Hưng Yên qua các năm xcvi
Bảng 4.36: Mục tiêu chủ yếu tỉnh Hưng Yên đến năm 2015 và 2020 c
Bảng 4.37: Dự báo HDI tỉnh Hưng Yên Giai đoạn 2013-2017 ci

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Biểu 4.1: Cấu thành HDI của tỉnh Hưng Yên năm 2010 lxii
Biểu 4.2: Các chỉ số cấu thành HDI của tỉnh Hưng Yên qua các năm lxiii
Biểu 4.3 Chi cho y tế của các hộ qua các năm lxxiv
Biểu 4.4 Chi cho giáo dục của các hộ qua các năm lxxviii
Biểu 4.5 Vốn đầu tư phát triển bình quân một hộ qua các năm lxxxiii
Biểu 4.6 Thu nhập của các hộ qua các năm xci
Biểu đồ 4.7: Đường cong LORENZ biểu thị thu nhập dân cư năm 2008
và 2012 94

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii

VNĐ đồng Việt Nam
WB Ngân hàng Thế giới

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page i

Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người, từ khá sớm trong lịch sử nhận thức cho đến tận hôm nay vẫn được
nhiều học thuyết khoa học xã hội coi là vị trí trung tâm của sự phát triển. Theo
thời gian, quan điểm về phát triển con người đã được thừa kế, bổ sung, được Liên
hợp quốc và nhiều quốc gia đề cao và chú trọng thực hiện trong chương trình phát
triển kinh tế - xã hội, nhằm đạt tới mục tiêu phát triển bền vững.
Ngày nay, với sự phát triển liên tục và ngày càng ấn tượng của thế giới và
nhiều quốc gia, quan điểm phát triển thuần tuý chỉ dựa trên tăng trưởng kinh
tế (tốc độ tăng GDP) đôi khi không còn ý nghĩa tích cực và tính thời sự. Bởi
nếu chỉ tăng trưởng kinh tế mà không chú ý tới các vấn đề xã hội, không chú
ý tới xoá đói giảm nghèo, bỏ qua các vấn đề y tế, giáo dục thì sự phát triển ấy
không đem lại lợi ích chung cho con người. Nhiều quốc gia, tuy có tốc độ
tăng trưởng GDP cao, nhưng tỷ lệ nghèo đói vẫn lớn, số người mù chữ vẫn
nhiều, tuổi thọ của người dân vẫn thấp. Từ thực tế đó, đòi hỏi phải có một
quan điểm và cách tiếp cận khác đối với vấn đề phát triển [1].
“Human Development’ là khái niệm bằng tiến Anh để chỉ sự phát triển
không phải là tăng trưởng kinh tế thuần tuý. Đó sự phát triển có tính nhân
văn, tổng hợp giữa các vấn đề kinh tế và các vấn đề xã hội như giáo dục, y tế.
Bản chất của nó được thể hiện ở quá trình mở rộng sự lựa chọn cũng như
nâng cao năng lực lựa chọn cho người dân. Để đo lường phát triển có tính
nhân văn (phát triển con người), cần phải có một chỉ số tổng hợp, đó là chỉ số
phát triển con người (HDI).

trong nước bình quân 7-8%/năm. GDP năm 2020 theo giá so sánh bằng
khoảng 2,2 lần so với năm 2010; GDP bình quân đầu người theo giá thực tế
đạt khoảng 3000USD (Đô la Mỹ); Về văn hoá xã hội ”Xây dựng xã hội dân
chủ, kỷ cương, đồng thuận, công bằng, văn minh. Đến năm 2020, Chỉ số phát
triển con người đạt nhóm trung bình cao của thế giới; tốc độ tăng dân số ổn
định ở mức khoảng 1%; tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi; đạt 9 bác sỹ và 26
giường bệnh trên một vạn dân, thực hiện bảo đảm y tế toàn dân; lao động qua
đào tạo đạt trên 70%, đào tạo nghề chiếm 55% tổng số lao động xã hội, tỷ lệ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii

nghèo bình quân 1,5-2%/năm; phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và chăm sóc sức
khoẻ cộng đồng được đảm bảo. Thu nhập thực tế của dân cư gấp khoảng 3,5
lần so với năm 2010.
Để so sánh, đánh giá một cách toàn diện sự phát triển kinh tế - xã hội mỗi
quốc gia, vùng lãnh thổ thì việc tính Chỉ số phát triển con người là cần thiết.
Đây cũng là chỉ tiêu đánh giá tổng hợp, bao quát, phản ánh mối liên hệ giữa
phát triển kinh tế với công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, đáp ứng được
mục tiêu mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã đề ra.
Trong Quyết định số 43/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
02/3/2010 về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, theo Quyết
định này có 350 chỉ tiêu thống kê quốc gia được tính toán và công bố hàng
năm, chỉ tiêu Chỉ số phát triển con người có số thứ tự 300 và mã số 1901. Theo
Thông tư số 02/2011/TT-BKHĐT ngày 10/01/2011 của Bộ Kế hoạch và Đầu
tư về Danh mục và nội dung Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh được công bố
hàng năm thì Chỉ số phát triển con người có số thứ tự 201 và mã số T1701.
Do vậy, việc nghiên cứu, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến Chỉ số phát
triển con người là cần thiết phục vụ cho công tác đánh giá một cách toàn diện
sự phát triển kinh tế - xã hội ở cả cấp vĩ mô và vi mô (cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương). Đó cũng là mục tiêu của đề tài nghiên cứu khoa học

- Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu HDI và cơ
sở thực tiễn ?
- Tổng quan tài liệu thực tiễn của thế giới và
Việt Nam về chỉ số HDI ?
2. Đánh giá thực trạng về
Chỉ số phát triển con
người của tỉnh Hưng Yên
-Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh
Hưng Yên ?
- Vận dụng phương pháp xác định và đối chiếu
chỉ số HDI của tỉnh Hưng Yên thời gian qua ?
-Đánh giá kết quả và tồn tại của phát triển và
phát triển con người ?
3. Phân tích các yếu tố ảnh
hưởng tới Chỉ số phát triển
con người tỉnh Hưng Yên
-Yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập ?
-Yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục ?
-Yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thọ ?
4. Đề xuất phương hướng
và một số giải pháp nâng
cao Chỉ số phát triển con
người
-Những thuận lợi, khó khăn và cơ hội thách
thức cho phát triển con người ?
- Định hướng phát triển kinh tế - xã hội và mục
tiêu nâng cao chỉ số HDI ?
- Giải pháp chủ yếu nâng cao chỉ số HDI ở tỉnh
Hưng Yên ?
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Khái niệm và ý nghĩa nghiên cứu của HDI
2.1.1.1 Khái niệm về HDI
Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) là chỉ
số so sánh, định lượng về mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số
nhân tố khác của các quốc gia trên thế giới. HDI giúp tạo ra một cái nhìn tổng
quát về sự phát triển của một quốc gia (hoặc một địa phương).
HDI được Văn phòng báo cáo phát triển con người của Liên hiệp quốc
nghiên cứu từ những năm thuộc thập kỷ 80 và bắt đầu đưa vào tính toán từ
năm 1990. Mục đích của việc tính toán HDI là tìm ra một chỉ tiêu tổng hợp
phản ánh một cách toàn diện sự phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia và
vùng lãnh thổ thay thế cho chỉ tiêu GDP bình quân đầu người tính theo sức
mua tương đương trước đây.
Chỉ tiêu GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương tuy
khắc phục được vấn đề khác biệt về mệnh giá “đích thực” của chỉ tiêu GDP
bình quân đầu người tính theo giá thực tế. Song chỉ tiêu GDP bình quân đầu
người tính theo sức mua tương đương cũng chỉ phản ánh một yếu tố kinh tế,
còn các yếu tố khác như giáo dục, y tế, môi trường, an toàn xã hội chưa được
thể hiện. Vì vậy, khi so sánh sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia và
lãnh thổ với nhau, nếu chỉ sử dụng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người tính
theo sức mua tương đương vẫn hết sức phiến diện. Để khắc phục tình trạng
trên, cơ quan HDRO của Liên hợp quốc đã nghiên cứu chỉ số HDI như một
thước đo khá toàn diện làm phương tiện để so sánh sự phát triển kinh tế - xã
hội của các quốc gia và vùng lãnh thổ.
Từ năm 1990 trở lại đây, hàng năm cơ quan HDRO của Liên hợp quốc

hiện đại khi đánh giá phát triển chỉ gói gọn trong tăng trưởng kinh tế. Có
những quốc gia tăng trưởng kinh tế rất cao, nhưng tình trạng đói nghèo, bệnh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii

tật và thất học vẫn còn hiện hữu. Do vậy cần có cách nhìn nhận mới về phát
triển. Từ các kết quả nghiên cứu thế giới đã thừa nhận rằng tăng trưởng kinh
tế chưa hoàn toàn đồng nghĩa với phát triển, mà chỉ là một yếu tố của phát
triển, mặc dù đó là yếu tố quan trọng. Phát triển phải là mở rộng phạm vi lựa
chọn của con người để đạt đến một cuộc sống trường thọ, khoẻ mạnh, có ý
nghĩa và xứng đáng với con người. Quan điểm này được gọi là phát triển con
người, nó bao hàm hai khía cạnh chính là mở rộng các cơ hội lựa chọn và
nâng cao năng lực lựa chọn của con người nhằm hưởng thụ một cuộc sống
hạnh phúc, bền vững.
Mở rộng cơ hội lựa chọn: Chọn thu nhập cao hơn, nhưng đó chưa phải là
duy nhất, mà còn muốn chọn dịch vụ y tế, giáo dục tốt hơn, điều kiện sống và
môi trường dễ chịu hơn, tham gia và hoà nhập vào cộng đồng. Trong số rất
nhiều cơ hội lựa chọn thì người dân, đặc biệt là dân nghèo, người lao động
phổ thông luôn có quan điểm lựa chọn là sống lâu, khoẻ mạnh, hạnh phúc,
được học hành, có việc làm, được hoà nhập và cống hiến cho cộng đồng.
Tăng cường năng lực lựa chọn: Năng lực ở đây được hiểu là khả năng đạt
đến các mục tiêu đã chọn. Năng lực chính là điều kiện cần thiết để biến các cơ
hội trở thành hiện thực, thậm chí còn tạo ra cơ hội mới. Tăng cường năng lực
con người là trau dồi kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm, hay nói rộng hơn là
trình độ học thức, học vấn và vận dụng chúng vào cuộc sống.
Quan niệm mới về phát triển con người còn bao hàm nhiều khía cạnh:
Thứ nhất: Quan niệm này nhấn mạnh mục tiêu của phát triển là vì con
người, vì việc cải thiện chất lượng cuộc sống con người một cách bền vững.
Thứ hai: Phát triển con người phải do chính con người thực hiện, có
nghĩa là mọi người dân phải có cơ hội được tham gia tích cực và sáng tạo vào

qua các hoạt động giáo dục, y tế, bảo đảm việc làm, cuộc sống là cách đầu
tư thiết thực nhất, hiệu quả nhất đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững của mỗi quốc gia. Cái khác biệt căn bản giữa phát triển con người và
phát triển nguồn nhân lực là ở chỗ trong phát triển con người thì con người là
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page x

mục tiêu có quyền và có nhu cầu được hưởng thụ, còn trong phát triển nguồn
nhân lực thì con người được nhìn nhận như một nguồn vốn cũng như các
nguồn vốn khác, dù rằng là quan trọng.
Lịch sử loài người đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, song tất thẩy
đều hướng tới mục đích chung đó là: "nâng cao giá trị của con người". Gắn
liền với từng giai đoạn đó, nền kinh tế thế giới đã trải qua rất nhiều các mô
hình phát triển. Ví dụ:
Vào những năm 50 đến 70 của thế trước, khi thế giới chỉ mới thoát ra
khỏi đống tro tàn đổ nát của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Nhiều quốc
gia bị tàn phá nặng nề, kể cả một số quốc gia mà bây giờ trình độ phát triển
đứng hàng cao nhất của thế giới. Do bị chiến tranh huỷ hoại nhiều tài sản và
của cải, người dân của nhiều dân tộc bị bần cùng, lâm vào cảnh khó khăn,
túng thiếu và đói nghèo. Cho nên, chính sách ưu tiên của nhiều quốc gia thời
kỳ sau chiến tranh này là đáp ứng đủ các nhu cầu thiết yếu, cơ bản nhất của
người dân. Do vậy, mô hình phát triển của giai đoạn này là đáp ứng các nhu
cầu thiết yếu. Và mục tiêu phát triển của hầu hết các quốc gia là cung cấp
nhiều hơn, đầy đủ hơn những nhu cầu cơ bản về vật chất, kinh tế và các nhu
cầu về dịch vụ xã hội cho dân chúng của nước mình.
Do mô hình phát triển và mục tiêu chính sách như vậy, nên hậu quả xã
hội là nguồn vốn con người được cải thiện rất chậm chạp, tức là vấn đề y tế,
sức khoẻ, giáo dục, đảm bảo về mặt xã hội cho con người được thực hiện
chậm chạp. Cũng chính vì vậy, hậu quả kinh tế đối với quá trình phát triển là
tăng trưởng rất chậm, có thể nói hầu như bằng không, không có tăng trưởng gì

tỉnh ra rằng, chỉ có tăng trưởng kinh tế không thể giải quyết được hết vấn đề,
mà còn làm trầm trọng thêm tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng xã hội.
Tăng trưởng không hoàn toàn trùng khớp với phát triển, mà chỉ là một mảng
của phát triển, dù quả thật đó là một mảng rất quan trọng. Do đó người ta thay
đổi hẳn quan niệm về phát triển. Thừa nhận tầm quan trọng của Phát triển là
tăng trưởng kinh tế (GDP), mà từ xưa tới nay người ta vẫn sử dụng tiêu chí
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page xii

GDP và tăng trưởng GDP này để phân biệt giữa các nước phát triển và các
nước đang phát triển, nhưng người ta còn nhấn mạnh thêm khía cạnh xã hội
của sự phát triển (nghèo đói, sức khoẻ, bất bình đẳng giới, bất bình đẳng xã
hội, cơ hội phát triển ). Khái niệm phát triển được mở rộng từ thuần tuý tăng
trưởng kinh tế ấy sang cả việc cải thiện các khía cạnh xã hội của cuộc sống,
người ta định nghĩa là Phát triển con người. Và mô hình phát triển của các
quốc gia trong giai đoạn này là mô hình phát triển con người. Khi đó mục tiêu
chính sách của các quốc gia là làm thế nào mở rộng phạm vi lựa chọn của
người dân, và nâng cao năng lực lựa chọn cho người dân, để họ đạt tới mức
sống tử tế cho mình.
Kết quả, về mặt xã hội của quá trình phát triển như vậy là làm nâng cao
nguồn vốn con người và giảm tỷ lệ nghèo đói trong dân chúng. Nâng cao
nguồn vốn con người là ám chỉ nâng cao tuổi thọ của họ, nâng cao sức khoẻ,
và đặc biệt là nâng cao trình độ dân trí để có khả năng tiếp cận tới mục tiêu
mình lựa chọn. Về mặt kinh tế của phát triển con người là tạo điều kiện để xã
hội phát triển một cách bền vững, môi trường được bảo vệ và các nguồn tài
nguyên thiên nhiên vẫn bảo toàn được cho các thế hệ mai sau.
Từ những nhận thức ấy, trên góc độ thống kê, để phản ánh phát triển
con người phải có thước đo chuẩn về nâng cao năng lực lựa chọn và mở
rộng phạm vi lựa chọn cho con người (thu nhập, tuổi thọ và trình độ tri
thức cũng như các khía cạnh liên quan khác). Thước đo chuẩn đó được

nhưng chỉ số HDI ở mức trung bình (trên 100).
+ Để phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Giả sử, từ công thức tính HDI trên cơ sở lấy số bình quân của ba chỉ số
thành phần. Tuổi thọ (I
1
); Tri thức (I
2
) và GDP bình quân đầu người theo sức
mua tương đương (I
3
) sẽ cho nhận xét cụ thể về các mặt sau:
Nếu 2 nước có cùng một chỉ số HDI như nhau, nhưng các chỉ số thành
phần (I
1
, I
2
và I
3
) khác nhau sẽ có những nhận xét như sau:
+ Nếu I
1
1
> I
1
2
có thể rút ra kết luận: môi trường sống, tình hình xã hội,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page xiv

chăm sóc sức khoẻ của nước thứ nhất tốt hơn nước thứ hai;

3
1
= I
3
2
và I
2
1
< I
2
1
thì chúng ta có thể rút ra nhận
xét: Tuy hai nước có mức độ phát triển như nhau, nhưng nước thứ nhất chú
trọng nhiều đến các vấn đề môi trường, xã hội, còn nước thứ hai chú trọng
đến vấn đề giáo dục.
Với cách làm tương tự, có thể đi sâu phân tích nhiều ngữ cảnh khác
nhau và đưa ra những khuyến cáo có giá trị về chính sách, kinh tế, xã hội, môi
trường và văn hoá
Có thể khẳng định, nếu tính toán được chỉ số HDI sẽ cung cấp cho
chúng ta nhiều tư liệu quý để phân tích đánh giá thực trạng phát triển kinh tế
xã hội và đó là điều thu hút sự quan tâm của nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới.
- Ý nghĩa của chỉ số HDI.
+ HDI là thước đo tổng hợp đo lường trình độ phát triển của thế giới,
của một khu vực, một quốc gia, hay là một vùng, một tỉnh, một địa phương,
thay thế cho tiêu chí phát triển chỉ thuần tuý sử dụng tốc độ tăng trưởng kinh
tế thông qua GDP;
+ Vì là thước đo tổng hợp sự phát triển, nên HDI được sử dụng để làm
công cụ quản lý và đề ra chính sách. Trên cơ sở tính toán HDI và các chỉ số
thành phần, các nhà quản lý và những người đề ra chính sách dễ dàng phát
hiện những khía cạnh non yếu để từ đó có những giải pháp thích hợp nhằm

- Về sức khoẻ: nói chung nếu con người khoẻ mạnh thì cuộc sống sẽ
trường thọ. Ngược lại, trường thọ là một biểu hiện của một cơ thể khoẻ mạnh.
Vì vậy, sức khoẻ được “lượng hoá” bằng chỉ tiêu tuổi thọ trung bình hay còn
gọi là kỳ vọng sống trung bình được tính từ khi sinh ra.
- Về giáo dục: được đánh giá bằng kiến thức, hay còn gọi là trình độ tri
thức, là sự tổng hợp theo tỷ lệ biết chữ của người lớn (với quyền số 2/3) và tỷ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page xvi

lệ nhập học của tất cả các cấp (tiểu học, trung học và sau trung học với quyền
số tổng cộng chung là 1/3);
- Về thu nhập: được đo bằng giá trị GDP bình quân đầu người thực tế theo
sức mua tương đương (PPP và thường đưa về USD).
HDI được xác định bằng trung bình cộng của 3 chỉ số thành phần: Chỉ
số tuổi thọ, Chỉ số giáo dục và Chỉ số thu nhập.

SƠ ĐỒ: Mô hình 3 nhân tố
2.1.2.2. Quan điểm 2:
Xác định chỉ số HDI theo mô hình 4 nhân tố - Mô hình hình thoi: Bao
gồm Sức khoẻ - Giáo dục - Thu nhập và Lành mạnh xã hội.
Trong quá trình tính chỉ số HDI của các nước trên thế giới, hàng loạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status