Tiểu luận Kinh tế lượng - Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số phát triển con người của một số quốc gia năm 2015 - Pdf 57

z

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
********************

TIỂU LUẬN KINH TẾ LƯỢNG
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỈ SỐ PHÁT
TRIỂN CON NGƯỜI CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA NĂM 2015

Hà Nội, ngày 05 tháng 06 năm 2018


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI.......... 3
1.1. Lý thuyết về HDI...................................................................................................... 3
1.1.1. Khái niệm và ý nghĩa của chỉ số HDI .................................................................... 3
1.1.2. Phương pháp tính HDI .......................................................................................... 4
1.1.3. Các thành phần của chỉ số HDI ............................................................................ 5
1.2. Các nghiên cứu đi trước .......................................................................................... 9
CHƯƠNG 2. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU .................................................................... 11
2.1. Xây dựng mô hình nghiên cứu .............................................................................. 11
2.1.1. Mô hình hồi quy ................................................................................................... 11
2.1.2. Giải thích biến ...................................................................................................... 11
2.2. Mô tả số liệu ........................................................................................................... 12
2.2.1. Nguồn số liệu ....................................................................................................... 12
2.2.2. Mô tả thống kê ..................................................................................................... 12
2.2.3. Ma trận tương quan giữa các biến....................................................................... 13
CHƯƠNG 3. ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH VÀ KIỂM ĐỊNH ........................................ 15
3.1. Ước lượng mô hình ................................................................................................ 15



LỜI MỞ ĐẦU
Con người, từ khá sớm trong lịch sử nhận thức đến tận hôm nay, vẫn được nhiều học
thuyết khoa học xã hội coi là chiếm vị trí trung tâm của sự phát triển. Trong thời đại hiện
nay, khi mà “Phát triển bền vững” là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia thì nhân tố
con người nổi lên hàng đầu trong tổng thể các nhân tố tác động và giữ vị trí trung tâm trong
cả ba trụ cột sinh thái, kinh tế và xã hội của mục tiêu này. Nghiên cứu về vấn đề phát triển
con người ở mỗi thời đại, mỗi giai đoạn sẽ được chú ý trên các bình diện khác nhau. Song,
đến nay, quan điểm hiện đại về phát triển con người đã được thừa kế, bổ sung bằng nhiều
nội dung mới và được nhiều quốc gia đề cao, chú trọng thực hiện trong chương trình phát
triển kinh tế - xã hội của mình, nhằm đạt tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đã được
đặt ra.
Trong các nghiên cứu khoa học về nguồn nhân lực, một số các chỉ tiêu đã được đưa ra
để đánh giá về sự phát triển của con người, trong số đó có thể kể đến Chỉ số Thông minh
(hay còn được gọi là chỉ số IQ), Chỉ số Thông minh cảm xúc ( hay còn được gọi là chỉ số
EQ), Chỉ số Thông minh xã hội (hay còn được gọi là chỉ số SQ), Chỉ số Đạo đức (hay còn
được gọi là chỉ số MQ)… Tuy vậy, điểm chung của các chỉ số trên đều không xem xét đến
yếu tố phát triển kinh tế trong tương quan phát triển con người. Chính vì vậy, một thành
tựu quan trọng đã được ra đời bởi một kinh tế gia người Pakistan là Mahbub ul Haq, đó là
Chỉ số phát triển con người (hay còn được gọi là Chỉ số HDI- Human Development Index).
Đây là một thành tựu chiến lược có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu về sự phát triển kinh
tế dựa trên nền tảng phát triển con người, đặc biệt là trong bối cảnh mục tiêu lớn nhất của
của nước hiện nay là phát triển kinh tế bền vững.
Với tầm quan trọng của Chỉ số phát triển con người (sau đây gọi là Chỉ số HDI), nhóm
tác giả nhận thấy sự cần thiết trong việc nghiên cứu chuyên sâu về những yếu tố ảnh hưởng
đến Chỉ số HDI, từ đó có thể đánh giá một cách toàn diện và đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng
đến sự phát triển của con người trong tương quan với sự phát triển của nền kinh tế. Vì vậy,
nhóm tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ
số phát triển con người (HDI) của một số quốc gia năm 2015 ”.

Chương 2: Mô hình nghiên cứu
Chương 3: Ước lượng mô hình và kiểm định
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và đề xuất giải pháp
2


CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI
1.1. Lý thuyết về HDI
1.1.1. Khái niệm và ý nghĩa của chỉ số HDI
1.1.1.1. Khái niệm chỉ số HDI
Tài sản thực sự của một quốc gia là con người và mục đích của phát triển là tạo môi
trường cho phép người dân được hưởng thụ một cuộc sống trường thọ, mạnh khoẻ và sáng
tạo. Con người là vốn quý nhất, là mục tiêu phải hướng tới của mọi hoạt động kinh tế - xã
hội của mỗi quốc gia và toàn thế giới. Việc lựa chọn chỉ tiêu phản ánh sự phát triển con
người có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt là trong xã hội hiện đại ngày nay. Trước đây,
người ta thường dựa vào các chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người
(GDP/người) hoặc tổng thu nhập quốc gia bình quân đầu người (NGI/người) để phân chia
thành các nhóm nước giàu, nghèo. Nhưng trên thực tế, không phải cứ nước nào có thu nhập
cao thì trình độ dân trí đều cao và đều chú ý chăm lo sức khoẻ, phúc lợi xã hội cho con
người. Ngược lại, không ít nước tuy có thu nhập bình quân đầu người thấp, đời sống vật
chất còn khó khăn, nhưng lại quan tâm tới mục tiêu giáo dục, y tế, sức khoẻ cho mọi thành
viên.
Để đánh giá tổng hợp và xếp loại trình độ phát triển kinh tế - xã hội chung giữa các quốc
gia hay giữa các địa phương, năm 1990 Liên Hiệp Quốc đưa ra một chỉ tiêu tổng hợp có
tên gọi là Chỉ số phát triển con người (HDI - Human Development Index):
“Chỉ số HDI hay Chỉ số phát triển con người (Human Development Index) là thước
đo tổng hợp về sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia hay vùng lãnh thổ trên các
3 phương diện: sức khỏe, thu nhập và giáo dục. Chỉ số HDI được sử dụng để đánh giá
trình độ phát triển về con người của mỗi một quốc gia, có ý nghĩa phân cấp và được rà
soát đánh giá lại theo chu kỳ, thường là chu kỳ 1 năm.”

mạnh, phát triển văn hóa cộng đồng. Hiện nay một trong những mô hình tính toán HDI
được sử dụng phổ biến trên thế giới phải kể đến mô hình ba nhân tố hay còn gọi là mô hình
tam giác bao gồm : Sức khỏe – Giáo dục – Thu nhập.
Về sức khỏe: Nói chung nếu con người khỏe mạnh thì cuộc sống sẽ trường thọ. Vì vậy
sức khỏe được “lượng hóa” bằng chỉ tiêu tuổi thọ trung bình hay còn gọi là kì vọng sống
trung bình được tính từ khi sinh ra.

4


Về giáo dục: Được đánh giá bằng kiến thức hay còn gọi là trình độ tri thức, là sự tổng
hợp theo tỉ lệ biết chữ của người lớn (với quyền số 2/3) và tỉ lệ nhập học của tất cả các cấp
(tiểu học, trung học, và đại học với quyền số tổng cộng chung là 1/3)
Về thu nhập: Được đo bằng giá trị GDP bình quân đầu người thực tế theo sức mua tương
đương (PPP - Purchasing Power Parity và thường đưa về USD)
Công thức tính chỉ số HDI:
𝐇𝐃𝐈 =

𝑰𝒕𝒖ổ𝒊 𝒕𝒉ọ + 𝑰𝒕𝒓𝒊 𝒕𝒉ứ𝒄 + 𝑰𝑮𝑫𝑷
𝟑

Mô hình 3 nhân tố:
Chỉ số
tuổi thọ

HDI
Chỉ số

Chỉ số


Công thức tính chỉ số tri thức phản ánh thành tựu giáo dục là:

𝐈𝐭𝐫𝐢 𝐭𝐡ứ𝐜 = (2/3)𝐈𝐛𝐢ế𝐭 𝐜𝐡ữ + (1/3)𝐈𝐧𝐡ậ𝐩 𝐡ọ𝐜
Qua công thức trên thấy rõ một điều : trong số của tỷ lệ người lớn biết chữ chiếm 2, và
tỷ lệ nhập học chiếm 1 trong tổng số 3 phần của chỉ số tri thức.
Ibiết chữ : Là chỉ số biết chữ của người lớn
Inhập học : Là chỉ số nhập học tổng hợp
Tỷ lệ biết chữ của người lớn ( Xbiết chữ ) là tỷ lệ phần trăm số người từ 15 tuổi trở lên biết
đọc biết viết so với tổng dân số từ 15 tuổi trở lên.

Tỷ lệ người lớn biết chữ =

Số người từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết
Tổng dân số từ 15 tuổi trở lên

Tỷ lệ nhập học tổng hợp (X nhập học ) là tỷ lệ phần trăm số học sinh ở tất cả các cấp học
(tiểu học, trung học, sau trung học) không kể tuổi trên số dân trong độ tuổi đi học.

Tỷ lệ nhập
=
học tổng hợp

Số học sinh phổ thông các cấp và số học sinh
THCN; dạy nghề;cao đẳng và đại học
Tổng dân số từ 6−24 tuổi

Trong đó:
Tỷ lệ nhập học tổng hợp là sự tổng hợp tỉ lệ nhập học của các cấp;
6


7


giá trị thực theo thời gian; nếu không, tỷ giá hối đoái danh nghĩa có thể đánh giá quá cao
hoặc quá thấp sức mua.
Để có thể so sánh quốc tế, người ta phải chuyển các chỉ tiêu trên tử tiền nội tệ sang một
đồng tiền chung, thường người ta lấy đô la Mỹ (USD). Có nhiều cách chuyển từ nội tệ sang
USD, ví dụ sử dụng tỷ giá hối đoái chính thức mà các quốc gia vẫn công bố thường xuyên.
Nhưng phương pháp này thiểu chuẩn xác vì trong tỷ giá hối đoái chính thức còn chứa đựng
yếu tố chính sách của các Chính phủ khi điều hành nền kinh tế nước mình. Vả lại tỷ giá hối
đoái chính thức chỉ thể hiện khía cạnh xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ là chủ yếu. Nó
chỉ phản ánh quan hệ của những hàng hoá và dịch vụ có thể xuất nhập khẩu được. Ngoài ra
còn vấn đề yếu tố giá cả khác nhau trên các lãnh thổ khác nhau. Thu nhập theo nội tệ khi
tính chuyển sang USD theo tỷ giá hối đoái có thể không lớn, nhưng giá cả hàng hoá và dịch
vụ tiêu dùng trên lãnh thổ ấy rẻ, dùng nội tệ người ta vẫn mua được khối lượng hàng hoá
và dịch vụ nhiều.
Sức mua tương đương là khả năng mua được một “rổ" hàng hoá và dịch vụ xác định của
các loại đồng tiền. Các loại nội tệ nhân với sức mua tương đương này sẽ được chuyển thành
USD-PPP, GDP các nước tính theo nội tệ nhân với sức mua PPP này sẽ được chuyển thành
GDP theo USD-PPP. Khi tính HDI người ta sử dụng số liệu này.
GDP thực tế bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương của một nước được
chuyển đổi sang Đôla Mỹ trên cơ sở tỷ giá sức mua ngang bằng.
Khi tính được thu nhập bình quân đầu người ta tính chỉ số thu nhập. Công thức tính toán
IGDP là:
IGDP =

𝐿𝑜𝑔(𝑋𝑡ℎự𝑐 ) − 𝐿𝑜𝑔(𝑋𝑚𝑖𝑛 )
𝐿𝑜𝑔(𝑋𝑚𝑎𝑥 )−𝐿𝑜𝑔(𝑋𝑚𝑖𝑛 )

Trong đó:

số HDI như sau: tỷ lệ sinh sản và tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi, tỷ lệ tử
vong của các bà mẹ, và tỷ lệ sinh sản tổng thể. Kết luận đưa ra đã khẳng định tầm ảnh
hưởng rất đáng kể của các yếu tố này đến Chỉ số Phát triển con người.
Báo cáo Phát triển con người năm 2014 (HDR) đã đề cập tới Hệ số bất bình đẳng con
người, hệ số này là trung bình của bất bình đẳng trong y tế, giáo dục và thu nhập, được tính
toán bằng giá trị trung bình số học phi trọng số của những sự ước tính bất bình đẳng trong
các nhóm nêu trên. Hệ số bất bình đẳng con người ảnh hưởng ngược chiều đến chỉ số HDI.
Các nghiên cứu trước chủ yếu lựa chọn hệ số bất bình đẳng trong thu nhập làm nhân tố ảnh
9


hưởng đến chỉ số HDI. Tuy nhiên hệ số GINI chưa toàn diện, chính vì vậy dựa trên nền
tảng yếu tố bất bình đẳng, nhóm tác giả đã đưa hệ số bất bình đẳng con người vào mô hình
nghiên cứu.
Dựa trên cơ sở lý thuyết và sự kế thừa các nghiên cứu đi trước, nhóm tác giả lựa chọn
các biến số sau đây để phục vụ cho mục đích bài viết: Tuổi thọ từ lúc sinh (LEAB), tỷ lệ
người lớn biết chữ - tính cho người từ 15 tuổi trở lên (LITE), thu nhập bình quân đầu người
theo ngang giá sức mua (GDP), tỷ lệ sinh sản (FER) và hệ số bất bình đẳng con người
(INE).

10


CHƯƠNG 2. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1. Xây dựng mô hình nghiên cứu
2.1.1. Mô hình hồi quy
Có nhiều mô hình đã được đưa ra nhằm đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau
lên Chỉ số phát triển con người HDI. Nhóm tác giả quyết định kế thừa và áp dụng mô hình
của bài nghiên cứu: “Các nhân tố quyết định đến Chỉ số phát triển con người HDI: Phân
tích thực nghiệm giữa các quốc gia” của tác giả Smit Shah (2016).

+

4

lnGDP

Logarit cơ số e thu nhập bình quân đầu người theo
ngang giá sức mua

+

5

lnFER

Logarit cơ số e tỷ lệ sinh sản

-

6

lnINE

Logarit cơ số e hệ số bất bình đẳng con người

-

Nội dung

Dấu kỳ

quan
sát
110

0.652727

0.139776

0.352

0.89

lnLEAB

110

4.227469

0.095947

3.889777

4.422449

LITE

110

81.948


lnINE

110

-1.59232

0.425682

-2.84731

-0.80296

Biến

Giá trị trung
bình

Độ lệch
chuẩn

Giá trị nhỏ
nhất

Giá trị lớn
nhất

Nguồn: Kết quả xử lí, phân tích số liệu bằng phần mềm Excel và Gretl
Từ bảng trên, nhóm tác giả đưa ra nhận xét về bộ số liệu như sau:
Chỉ số HDI cao nhất trong bộ số liệu được thống kê là của Slovenia với 0.89, Chỉ số HDI
thấp nhất là 0.352 của Central African Republic. Ta có thể thấy trong 110 nước này 58 nước


lnGDP

lnFER

lnINE

1,0000

0,8476

0,8551

0,9455

-0,8744

-0,8167

1,0000

0,6849

0,7305

-0,7648

-0,7000

1,0000

13


Hệ số tương quan giữa HDI và LITE là 0,8551 >0 thể hiện mối quan hệ thuận chiều
khá lớn
Hệ số tương quan giữa HDI và lnGDP là 0,9455>0 thể hiện mối quan hệ thuận chiều
khá lớn
Hệ số tương quan giữa HDI và lnFER là -0.8744
Hình 3.3. Kết quả kiểm định đa cộng tuyến
Nguồn: Kết quả phân tích số liệu bằng phần mềm Gretl
Bảng kết quả trên cho nhận thấy VIF của các biến độc lập lnLEAB, LITE, lnGDP,
lnFER, lnINE đều có giá trị nhỏ hơn 10.
Nhận xét: mô hình không tồn tại đa cộng tuyến giữa các biến độc lập.
3.2.3.3. Kiểm định phương sai sai số thay đổi
Để kiểm định phương sai sai số thay đổi nhóm tác giả sử dụng cặp giả thiết sau::
{

𝐻0 : 𝑃ℎươ𝑛𝑔 𝑠𝑎𝑖 𝑠𝑎𝑖 𝑠ố 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 𝑛ℎấ𝑡
𝐻1 : 𝑃ℎươ𝑛𝑔 𝑠𝑎𝑖 𝑠𝑎𝑖 𝑠ố 𝑡ℎ𝑎𝑦 đổ𝑖

Tiến hành thực hiện kiểm định White thu được:

17


Hình 3.4. Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi
Nguồn: Kết quả phân tích số liệu bằng phần mềm Gretl
Bảng kết quả trên cho thấy:
p-value = P(Chi-square (20) >36.244312) = 0.014395 < α = 0.05
 Bác bỏ Ho
Nhận xét: Mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi tại mức ý nghĩa α = 5%
3.2.1.3. Kiểm định phân phối chuẩn của nhiễu
Để kiểm định phân phối chuẩn của nhiễu trong mô hình nghiên cứu nhóm tác giả sử
dụng cặp giả thiết sau:

{

𝐻0 : Sai số ngẫu nhiên có phân phối chuẩn


3.3. Kiểm định hệ số hồi quy
Để kiểm định hệ số hồi quy của mô hình sau khi khắc phục khuyết tật phương sai sai số
thay đổi bằng cách sử dụng hồi quy Robust, nhóm tác giả sử dụng cặp giả thuyết như sau:
{

𝐻0 : 𝛽𝑖 = 0
𝑣ớ𝑖 𝑚ứ𝑐 ý 𝑛𝑔ℎĩ𝑎 𝛼 = 5%
𝐻1 : 𝛽𝑖 ≠ 0

Sử dụng p-value: Nếu p-value < 𝛼 = 5% thì bác bỏ giả thiết H0
Nếu p-value > 𝛼 = 5% thì không bác bỏ giả thiết H0

Bảng 3.1. Bảng kiểm định hệ số hồi quy
Biến

Hệ số hồi quy

P - value

Kết quả

lnLEAB

𝛽2

4,26𝑒 −12 < 𝛼

Có ý nghĩa thống kê


Có ý nghĩa thống kê

Nguồn: Kết quả phân tích số liệu bằng phần mềm Gretl
Nhận xét:
Dựa vào giá trị thống kê này có thể kết luận rằng các hệ số hồi quy của các biến lnLEAB,
LITE, lnGDP, lnINE có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 𝛼 = 5%. Hay nói cách khác tuổi
thọ từ lúc sinh, tỷ lệ người lớn biết chữ tính cho người 15 tuổi trở lên, GDP bình quân đầu
người theo ngang giá sức mua, hệ số bất bình đẳng con người có ảnh hưởng đến chỉ số HDI.
Biến lnFER không có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 𝛼 = 5%, nghĩa là tỷ lệ sinh sản
không ảnh hưởng đến chỉ số HDI
3.4. Kiểm định sự phù hợp của mô hình
Kiểm định này nhằm xem xét trường hợp các tham số của biến độc lập 𝛽𝑖 đồng thời xảy
ra bằng 0 có xảy ra không.
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status