TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ QUẢN TRỊ KINH DOANH
VÕ THỊ HỒNG ĐÀO
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN CHI TIÊU CHO GIÁO DỤC GIỮA CÁC
NHÓM TỈNH, THÀNH PHÂN THEO THU
NHẬP Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: Kinh Tế Học
Mã số ngành: 52310101
Tháng 12 Năm 2013
LỜI CẢM TẠ
Trước tiên, em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Kinh Tế - Quản
Trị Kinh Doanh Trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy, truyền đạt
cho em những kiến thức vô cùng quý giá trong suốt thời gian học tại trường để
làm hành trang giúp em vững bước trong cuộc sống.
Em xin chân thành cảm ơn thầy Khổng Tiến Dũng – giáo viên trực tiếp hướng
dẫn đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Cuối cùng em xin chúc quý thầy, cô luôn dồi dào sức khỏe, gặt hái được nhiều
thành công trong công tác giảng dạy, nghiên cứu.
Cần Thơ, ngày…… tháng ……. năm 2013
Sinh viên thực hiện Võ Thị Hồng Đào
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng đề tài này do chính tôi thực hiện, các số liệu và kết
quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với đề tài nghiên
cứu khoa học nào. Nếu có gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Cần Thơ, ngày…… tháng ……. năm 2013
Sinh viên thực hiện
2.1 Phương pháp luận 6
2.1.1 Khái niệm hộ gia đình 6
2.1.2 Khái niệm chi tiêu hộ gia đình 6
2.1.3 Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình 6
iv
2.1.4 Sự cần thiết của phân tích cơ cấu chi tiêu 6
2.1.5 Sự cần thiết của phân nhóm thu nhập 6
2.1.6 Một số vấn đề về giáo dục 7
2.1.6.1 Khái niệm giáo dục 7
2.1.6.2 Hệ thống giáo dục Việt Nam 7
2.1.7 Chức năng của giáo dục 8
2.1.7.1 Chức năng kinh tế - sản xuất 8
2.1.7.2 Chức năng chính trị - xã hội 9
2.1.7.3 Chức năng tư tưởng, văn hóa 9
2.2 Phương pháp nghiên cứu 10
2.2.1 Số liệu sử dụng 10
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 11
2.2.2.1 Thống kê mô tả 11
2.2.2.2 Mô hình hồi qui kiểm duyệt 11
Chương 3: THỰC TRẠNG NỀN GIÁO DỤC Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG 15
3.1 Khái quát về tình hình kinh tế xã hội trong khu vực Đồng Bằng Sông Cửu
Long 15
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 15
3.1.2 Dân số, lao động và mức sống dân cư 15
3.1.3 Tình hình kinh tế 20
3.2 Thu nhập 21
3.3 Đặc điểm chung của nền giáo dục Đồng Bằng Sông Cửu Long 23
vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long theo hai nhóm thu nhập 53
4.3.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 53
4.3.2 Kết quả mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục giữa
các nhóm tỉnh, thành phân theo thu nhập ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long
56
4.4 Giải pháp nhằm nâng cao trình độ học vấn cho người dân ở vùng Đồng
Bằng Sông Cửu Long 59
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Kiến nghị 61
5.2.1 Đối với Nhà Nước 62
vi
5.2.2 Đối với các hộ gia đình 62
5.2.3 Đối với chính quyền địa phương 63
5.2.4 Đối với các cơ quan liên ngành giáo dục 63
Tài liệu tham khảo 64
Phụ lục 1: Kiểm tra tự tương quan các biến trong mô hình 65
Phụ lục 2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 65
Phụ lục 3: Kết quả ước lượng mô hình 65
Phụ lục 4: Kiểm tra sự khác biệt của trong cơ cấu chi tiêu của hai nhóm tỉnh
66
vii
DANH MỤC BIỂU BẢNG
Bảng 2.1: Diễn giải và kì vọng các biến độc lập trong mô hình hồi qui 14
Bảng 4.9: Cơ cấu chi tiêu của người dân vùng ĐBSCL theo hai nhóm tỉnh 47
Bảng 4.10: Cơ cấu chi tiêu của người dân vùng ĐBSCL 48
Bảng 4.11: Cơ cấu chi tiêu của các hộ dân vùng ĐBSCL theo hai nhóm thu
nhập 50
Bảng 4.12: Thống kê mô tả các biến trong mô hình 54
Bảng 4.13: Kết quả ước lượng mô hình 56
ix
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo của các vùng năm 2012 17
Hình 3.2: Tỷ lệ đi học đúng tuổi của các khu vực năm 2010 26
Hình 3.3: Cơ cấu chi tiêu cho giáo dục của người dân vùng ĐBSCL năm 2010
37
Hình 3.4: Chi tiêu cho giáo dục của người dân vùng ĐBSCL theo cấp học 38
x
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL : Đồng Bằng Sông Cửu Long
ĐBSH : Đồng Bằng Sông Hồng
VHLSS : Điều tra Mức sống dân cư Việt Nam
KSMS : Khảo sát mức sống dân cư
TOBIT : Mô hình hồi quy kiểm duyệt
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
THCS : Trung học cơ sở
dục càng cần được chú trọng. Tuy nhiên trình độ giáo dục của các vùng ở Việt
Nam có sự chênh lệch đáng kể. Đáng nói đến là vùng Đồng Bằng Sông Cửu
Long (ĐBSCL) nơi có trình độ thuộc vào loại thấp nhất trên cả nước, chỉ cao
hơn Tây Nguyên và các vùng miền núi, hải đảo khác. Khu vực ĐBSCL với
dân số hơn 17 triệu người gồm 13 tỉnh, thành và là vựa lúa, vựa trái cây, trung
tâm thủy sản lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục đào tạo ở
ĐBSCL hiện vẫn được đánh giá chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của
vùng. Trong những năm qua, ĐBSCL luôn được coi là “vùng trũng” về giáo
dục đào tạo và có tỉ lệ học sinh bỏ học cao nhất nước. Cụ thể, tỉ lệ dân số từ 15
tuổi trở lên biết chữ của ĐBSCL vào năm 2012 là 93,1%, chỉ cao hơn Trung
du và miền núi phía Bắc (89,2%) và Tây Nguyên (92,1%) (Niên giám thống
kê, 2012).
Như vậy, nguyên nhân của vấn đề này có thể là do người dân trong vùng
có thu nhập bình quân đầu người còn tương đối thấp, thu nhập khác nhau gây
nên sự khác biệt trong cơ cấu chi tiêu cũng như chất lượng giáo dục, làm
người dân hạn chế chi tiêu nói chung cũng như chi tiêu trong giáo dục nói
riêng. Ngoài ra, người dân có thể chưa thực sự đánh giá hết vai trò của giáo
dục trong kinh tế gia đình cũng như tương lai của con em nên hạn chế việc chi
tiêu cho giáo dục. Vậy, có phải chỉ có một nguyên nhân chủ yếu là do lượng
chi tiêu cho giáo dục của người dân ở ĐBSCL là quá nhỏ hay chưa đúng
hướng. Vì giáo dục là vấn đề xã hội hết sức quan trọng nên việc thực hiện đề
tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục giữa các
nhóm tỉnh, thành phân theo thu nhập ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” là
hết sức cần thiết.
2
1.1.2 Căn cứ khoa học và thực tiễn
Hiện nay, chất lượng giáo dục ở vùng ĐBSCL đang là vấn đề hết sức cấp
bách được nhà nước và toàn xã hội quan tâm. Bởi vì vai trò to lớn của giáo
tỉnh có thu nhập bình quân đầu người cao hơn thu nhập bình quân của vùng
(tạm gọi là nhóm tỉnh giàu) và nhóm các tỉnh còn lại (tạm gọi là nhóm tỉnh
nghèo).
3
Mục tiêu 2: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục
của người dân ở vùng ĐBSCL.
Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp làm cơ sở cho việc thực hiện các
chính sách nhằm phân bổ hợp lý các nguồn lực trong giáo dục để nâng cao
trình độ học vấn cho người dân ở ĐBSCL.
1.3 CÂU HỎI VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Cơ cấu chi tiêu của người dân trong hai nhóm thu nhập ở khu vực
ĐBSCL như thế nào và có hay không sự khác nhau trong hoạt động chi tiêu
giữa hai nhóm tỉnh giàu và nhóm tỉnh nghèo?
(2) Có các yếu tố nào ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của người dân
ở vùng ĐBSCL?
(3) Các giải pháp nào cần được thực hiện để góp phần nâng cao trình độ
học vấn cho người dân trong vùng ĐBSCL?
1.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
Có sự khác nhau trong chi tiêu cho giáo dục của người dân giữa nhóm
tỉnh giàu và nhóm tỉnh nghèo.
Các yếu tố như trình độ học vấn của chủ hộ, thu nhập của gia đình, số
người trong gia đình, tình hình học thêm của người đi học, trợ cấp cho
hộ gia đình về giáo dục, nhóm tỉnh, vị trí, giới tính chủ hộ và tuổi chủ
hộ có ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của người dân vùng
ĐBSCL.
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Không gian: Đề tài nghiên cứu trên 13 tỉnh thành thuộc khu vực
trung học cơ sở và xu hướng học thêm càng cao ở các cấp cao hơn. Ngoài ra,
học thêm cũng ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập của học sinh. Tác giả đã chỉ
ra được rằng việc học thêm đối với học sinh, sinh viên là quan trọng trong việc
cải thiện thành tích học tập ở trường; học thêm cần thiết đối với giáo dục bậc
đại học hay cao hơn hơn là đối với học sinh trung học và thấp hơn. Nghiên
cứu cho rằng không có sự phân biệt trong chi tiêu cho học thêm đối với nam
và nữ và chi tiêu cho dạy kèm tư nhân sẽ giảm đi đáng kể ở cấp tiểu học nếu
chất lượng của các trường học đã được cải thiện bằng cách tăng trình độ của
giáo viên tiểu học.
Hơn thế nữa, một số nghiên cứu còn tìm ra được các nhân tố ảnh hưởng
đến chi tiêu cho giáo dục. Cụ thể: tổng chi tiêu, trình độ học vấn của cha mẹ,
khu vực sống và một số yếu tố khác ảnh hưởng đến chi tiêu cho học thêm của
người dân ở Thổ Nhĩ Kì (Tansel, 2005). Để chứng minh được các yếu tố này,
Tansel đã xây dựng một đường cong Angel cho chi phí học thêm bằng cách sử
dụng mô hình Tobit. Đầu tiên tác giả nhìn nhận tổng quan về các trung tâm
dạy thêm và tác giả xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho việc học
thêm ở Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng kết quả của cuộc điều tra về chi tiêu của hộ gia
đình năm 1994. Mô hình Tobit được sử dụng với các biến tổng chi tiêu cho gia
đình, trình độ học vấn của cha mẹ và những biến về đặc điểm gia đình. Kết
quả nghiên cứu cho thấy tổng chi tiêu của gia đình, trình độ học vấn của cha
mẹ có ảnh hưởng lớn đến chi tiêu cho giáo dục của người dân. Trong khi đó
5
Nguyễn Thanh Bình (2010) khẳng định trình độ học vấn có ảnh hưởng đến chi
tiêu, trong đó có chi tiêu cho giáo dục, tác giả khẳng định những gia đình có
trình độ học vấn thấp đầu tư cho sản xuất nhiều hơn, do người có trình độ thấp
ở quận Cầu Giấy thường làm trong lĩnh vực nông nghiệp hoặc tự sản xuất nên
đòi hỏi chi phí đầu tư kinh doanh nhiều hơn. Ngược lại, với người dân được
hỏi đều cho rằng đầu tư cho giáo dục của con cái là quan trọng và cần thiết,
khác trong lớp, chi phí học thêm và đào tạo kĩ năng; ngoài ra còn một số
khoản chi khác phục vụ cho quá trình học tập của học sinh. Hoạt động chi tiêu
cho giáo dục có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng giáo dục của người dân.
2.1.4 Sự cần thiết của phân tích cơ cấu chi tiêu
Cơ cấu chi tiêu thể hiện được nhiều khía cạnh của người dân trong cuộc
sống như tình hình thu nhập, thói quen hay các vấn đề khác. Thực hiện phân
tích cơ cấu chi tiêu của người dân trong khu vực ĐBSCL để có được cái nhìn
tổng quan hơn về chi tiêu của người dân trong vùng. Hơn nữa chi tiêu cho giáo
dục là một bộ phận trong tổng chi tiêu, do đó mà từ kết quả phân tích được để
có những giải pháp phù hợp trong trường hợp cơ cấu chi tiêu chưa hợp lý
nhằm phân bổ hợp lý các khoản chi tiêu. Chi tiêu hợp lý cho giáo dục có tác
động tích cực đến chất lượng giáo dục của người dân ở vùng ĐBSCL do vậy
mà việc phân tích cơ cấu chi tiêu là hết sức cần thiết.
2.1.5 Sự cần thiết của phân nhóm thu nhập
Trong kinh tế thu nhập bình quân là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức
sống, sự phân hóa giàu nghèo hay tính tỉ lệ nghèo và nhiều chỉ tiêu quan trọng
khác của các hộ dân, làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách nhằm nâng
cao mức sống cho người người dân. Hơn nữa, thu nhập có ảnh hưởng trực tiếp
7
đến hoạt động chi tiêu của người dân trong gia đình. Việc phân nhóm các tỉnh,
thành theo thu nhập ở khu vực ĐBSCL sẽ làm rõ được sự khác biệt trong thu
nhập đến hoạt động chi tiêu đặc biệt là tình hình chi tiêu cho giáo dục của
người dân trong vùng ĐBSCL.
2.1.6 Một số vấn đề về giáo dục
2.1.6.1 Khái niệm giáo dục
Theo Giáo trình giáo dục học đại cương (Liên, 2009) thì giáo dục là một
hiện tượng xã hội đặc biệt, về bản chất nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh
nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người. Chức năng trọng yếu của giáo
- Giáo dục thường xuyên.
Hệ thống trường lớp của nền giáo dục Việt Nam bao gồm:
- Các loại hình trường lớp công lập, bán công, dân lập và tư thục;
- Những loại hình trường, lớp dành cho những đối tượng phổ biến, dành
cho học sinh có tài năng, năng khiếu, và những loại hình trường lớp dành cho
những đối tượng đặc biệt như trẻ có khuyết tật, chậm đi học hoặc bỏ học v.v
Hoạt động giáo dục, đào tạo được thực hiện theo nhiều phương thức: dài hạn,
ngắn hạn; tập trung, không tập trung, đào tạo, bồi dưỡng; chính qui, không
chính qui; tự học, từ xa và các hình thức khác.
2.1.7 Chức năng của giáo dục
2.1.7.1 Chức năng kinh tế - sản xuất
Thể hiện tập trung nhất thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực. Cụ thể là
đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và phẩm chất nhân
cách cao, giáo dục tạo ra sức lao động mới một cách khéo léo, tinh xảo, hiệu
quả để vừa thay thế lao động cũ mất đi vừa tạo ra sức lao động mới cao hơn,
góp phần tăng năng suất đẩy mạnh sản xuất phát triển kinh tế xã hội. Chính
giáo dục đã tái sản xuất sức lao động xã hội, tạo ra lực lượng trực tiếp sản xuất
và quản lí xã hội với trình độ cao, năng lực cao. Giáo dục giúp cho mọi thành
viên trong xã hội các cơ hội được mở mang trí tuệ, trau dồi nhân cách, phát
triển các sức mạnh tinh thần và thể chất để vươn lên làm chủ trong lao động,
trong cuộc sống cộng đồng. Khi mọi thành viên của xã hội đều được tiếp nhận
một nền giáo dục đúng đắn thì xã hội thực sự được tái sản xuất sức lao động
với chất lượng cao hơn. Người lao động do kết quả đào tạo của nhà trường sẽ
được phát triển hài hòa các nhân lực chung và riêng và do đó xã hội sẽ được
tăng thêm sức lao động mới thay thế sức lao động cũ bị mất đi. Sức lao động
mới có chất lượng tốt hơn sẽ đem lại năng suất lao động nhiều hơn.
Đặc biệt trong xã hội hiện đại, khi trình độ phát triển của nền kinh tế là
do trình độ của con người được giáo dục và đào tạo quyết định thì vai trò của
giáo dục càng được khẳng định. Trong nền kinh tế thị trường nguồn nhân lực
còn được gọi là nguồn vốn nhân lực (cùng với vốn tài nguyên, nguồn vốn sản
người, giáo dục góp phần nâng cao trình độ học vấn chung đã làm cho các
tầng lớp xã hội được xích lại gần nhau. Nhờ đó trong xã hội ta và các tầng lớp
xã hội tuy khác nhau về lợi ích xã hội, về tính chất và trình độ xã hội, về hoạt
động và phát triển xã hội, song cùng đoàn kết, hợp tác đấu tranh xây dựng xã
hội nhằm đạt tới mục tiêu chung “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”.
2.1.7.3 Chức năng tư tưởng, văn hóa
Giáo dục có tác động to lớn đến việc xây dựng một hệ tư tưởng chi phối
toàn xã hội, hình thành mỗi cá nhân ở thế giới quan, tư tưởng chính trị, ý thức,
tình cảm và hành vi đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội. “Nền giáo
dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân tộc, dân tộc, khoa
học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng chính trị (Điều 3, chương 3 Luật Giáo Dục 2005). Nền giáo dục Việt
Nam phải phục vụ mục đích chính trị tốt đẹp và tư tưởng cao quý của Đảng
10
Cộng Sản Việt Nam, hướng tới mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước giàu
mạnh.
Giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội
của các thế hệ, quá trình này giúp cho mỗi cá nhân tích lũy kiến thức, mở
mang trí tuệ, hình thành và nâng cao trình độ văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ cho
mỗi cá nhân và cho toàn xã hội. Một quốc gia giàu mạnh là một quốc gia có
nền kinh tế vững mạnh, khoa học công nghệ tiên tiến, chính trị bền vững và
trình độ dân trí cao. Giáo dục góp phần xây dựng và nâng cao trình độ dân trí
– trình độ văn hóa chung cho toàn xã hội. Nền giáo dục không chỉ hướng vào
việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực mà còn hướng vào quá trình phát hiện
và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Giáo dục không chỉ thực hiện sứ mệnh lịch sử là truyền tải nền văn hóa
của thế hệ này cho thế hệ kia mà còn là phương thức đặc trưng cơ bản để bảo
cho giáo dục của người dân ở vùng ĐBSCL và kiểm định t để kiểm tra sự khác
biệt giữa nhóm tỉnh giàu và nhóm tỉnh nghèo.
Bên cạnh đó, mô hình hồi quy kiểm duyệt cũng được sử dụng để xác
định các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của người dân ở vùng
ĐBSCL.
Từ kết quả phân tích đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao trình độ học
vấn cho người dân ở vùng ĐBSCL.
2.2.2.1 Thống kê mô tả
Thống kê mô tả là một trong hai hình thức chính của thống kê (thống kê
mô tả và thống kê ứng dụng). Thống kê mô tả là tập hợp các phương pháp đo
lường, mô tả và trình bày số liệu bằng các phép tính và các chỉ số thống kê
thông thường như số trung bình (Mean), số trung vị (Median), phương sai
(Variance), độ lệch chuẩn (Standard deviation) cho các biến số liên tục và các
tỷ số (Proportion) cho các biến số không liên tục. Các chỉ số thống kê được
dùng để mô tả dữ liệu cũng như hỗ trợ các phân tích có liên quan. Trong
phương pháp thống kê, các đại lượng thống kê mô tả chỉ được tính đối với các
biến định lượng.
Trong đề tài này thống kê mô tả dùng phân tích để mô tả bức tranh tổng
thể về tình hình chi tiêu của người dân trong vùng. Bằng phương pháp này cơ
cấu chi tiêu cho giáo dục trong tổng chi tiêu cũng được làm rõ.
2.2.2.2 Mô hình hồi qui kiểm duyệt
Mục đích của việc thiết lập phương trình hồi quy là tìm ra các nhân tố
ảnh hưởng đến chi tiêu cho giáo dục của người dân. Xác định các nhân tố ảnh
hưởng tốt để phát huy và nhân tố ảnh hưởng xấu để khắc phục. Trong nghiên
cứu này, các dữ liệu quan sát về chi tiêu giáo dục của các hộ dân cho thấy có
một tỷ lệ đáng kể các quan sát có chi tiêu cho giáo dục bằng không (trong gia
đình không có ai đi học). Điều này có nghĩa là biến phụ thuộc bị kiểm duyệt
(censored sample). Do vậy phương pháp hồi quy kiểm duyệt được sử dụng.
Dựa trên kết quả mô hình hồi quy của Tansel tìm ra các yếu tố ảnh
hưởng đến chi phí học thêm của người dân ở Thổ Nhĩ Kì là: thu nhập, trình độ
)
0
= Pr(y*>0|x
i
)
y* + 0
= Pr(y*>0|x
i
)(
Xi
+ u)
Mô hình Tobit được sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu
cho giáo dục giữa các nhóm tỉnh thành, phân theo thu nhập của người dân ở
vùng ĐBSCL như sau :
CTGD
i
=
0
+
1
HVAN +
2
TTHUNHAP +
3
SONGUOI +
4
TTHUNHAP: là tổng thu nhập của các thành viên trong gia đình (1.000
đồng) có phục vụ cho hoạt động chi tiêu hàng ngày của các thành viên trong
gia đình. Thu nhập là tất cả các khoản thu từ gia đình có được từ tiền lương,
tiền công, tiền thu từ hoạt động sản xuất và các khoản thu khác. Nếu gia đình
có thu nhập cao thì khả năng chi tiêu nhiều hơn cho các hoạt động trong gia
đình. Do đó hệ số
2
được kì vọng là dương.
13
SONGUOI: số người trong gia đình. Trong gia đình có càng nhiều
người tham gia đi học thì việc chi tiêu cho giáo dục càng nhiều, tuy nhiên nếu
số người trong gia đình nhiều nhưng số người có tham gia đi học ít thì chi tiêu
cho giáo dục không đổi. Do đó hệ số
3
được kì vọng là dương.
HOCTHEM: là biến giả về tình hình học thêm của các thành viên trong
hộ gia đình, nếu trong gia đình có người học thêm thì nhận giá trị là 1, không
có học thêm thì giá trị là 0. Nếu học sinh có học thêm thi chi tiêu cho giáo dục
tăng. Theo tình hình thực tế hiện nay cho thấy đa số các bậc phụ huynh đều
tạo điều kiện cho con em mình tham gia ít nhất một lớp học khác ngoài buổi
học chính thức trong trường. Còn đối với sinh viên học sinh phổ thông thì
thường học thêm anh văn, vi tính hay bồi dưỡng nâng cao kiến thức là rất cần
thiết. Do đó hệ số
4
được kì vọng là dương.
TROCAP: trợ cấp giáo dục cho hộ gia đình. Biến giả nhận giá trị 1 nếu
gia đình có nhận được sự trợ cấp về giáo dục, nhận giá trị 0 nếu không có trợ
cấp. Đối với người có thu nhập thấp, trợ cấp có ảnh hưởng rất lớn đến đời
dục cho các thành viên trong gia đình được sáng suốt và đúng đắn hơn so với
chủ hộ lớn tuổi hơn. Chủ hộ có tuổi đời càng lớn thì quan điểm còn mang tính
truyền thống nhiều hơn. Do đó hệ số
9
được kì vọng là âm.