PHÂN TÍCH YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VAY NGÂN
HÀNG CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ
CẦN THƠ
5.1 PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐỊNH LƯỢNG
ĐẾN VAY NGÂN HÀNG
5.1.1 Sự ảnh hưởng tương quan của của từng nhân tố đến các nhân tố
khác
Ma trận tương quan trong nội bộ các nhóm chung cho thấy tương quan giữa
các biến dự đoán khá thấp (các hệ số tương quan đều nhỏ hơn 0,5), như vậy có
thể nói rằng hiện tượng đa cộng tuyến không đáng kể. Do những đặc điểm của hệ
số tương quan nên chúng ta cần xem xét mối tương quan giữa từng biến với các
biến khác để xem mối liên hệ của chúng với nhau có thực sự tồn tại hay không.
Bảng 12: HỆ SỐ TƯƠNG QUAN CÁC YẾU TỐ TRONG NỘI BỘ NHÓM
X1 X2 X3 X4 X5 X6
X1 1,000 -0,114 0,388 0,214 0,127 0,019
X2 1,000 0,514 -0,454 -0,185 -0,230
X3 1,000 -0,117 0,145 -0,195
X4 1,000 0,015 0,312
X5 1,000 0,271
X6 1,000
(Nguồn: Tính toán từ số liệu thu thập trực tiếp năm 2006)
Trước hết, xét mối tương quan giữa biến năm hoạt động (X1) với những
biến khác. Biến này có mối tương quan với biến mức độ hiểu biết (X4) là có ý
nghĩa bởi và qua nhiều năm hoạt động doanh nghiệp đã có kinh nghiệm hoạt động
vì thế hệ số tương quan dương. Mối tương quan với các biến còn lại thì không
chắc chắn. Đối với vay người thân (X2) thì theo mối tương quan nghịch tức là
doanh nghiệp hoạt động càng lâu năm thì vay người thân ít lại. Điều này đúng khi
doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả liên tiếp nhiều năm, tuy nhiên nếu hoạt động
không hiệu quả thì vay người thân có thể sẽ không giảm. Cách giải thích tương tự
đối với các mối tương quan giữa biến số năm hoạt động với các biến còn lại.
Xét mối tương quan giữa biến vay người thân (X2) với các biến còn lại. Đối
thuộc (phân loại vay hay không vay) được giải thích bởi mô hình. Hay nói cách
khác là các yếu tố nêu ra trong mô hình này tác động đến sự phân biệt giữa hai
nhóm vay và không vay của doanh nghiệp, còn lại là do các yếu tố khác tác động
không được đề cập trong mô hình
Tiếp theo, em kiểm định xem hàm phân biệt được ước lượng có ý nghĩa hay
không về mặt thống kê, bởi vì nếu hàm phâm biệt không có ý nghĩa về mặt thống
kê thì không thể giải thích kết quả phân tích. Giả thiết:
- H
0
ở đây là trong tổng thể các trung bình của các hàm phân biệt trong tất
cả các nhóm là bằng nhau (không có sự phân biệt), giả thiết này phải được kiểm
định xem có ý nghĩa thống kê không.
- H
1
là trung bình của các hàm phân biệt trong tất cả các nhóm là khác
nhau.
Qua kết quả phân tích thấy rằng hệ số Wilks’ Lamda của hàm này là 0,018,
chuyển thành đại lượng Chi-square là 134,513 với 7 bậc tự do. Và mức ý nghĩa
quan sát là 0,000 nhỏ hơn rất nhiều so với mức ý nghĩa xử lý 15%. Ta có đủ cơ sở
để bác bỏ giả thiết H
0
ở trên. Khi giả thuyết H
0
bị bác bỏ, tức là sự phân biệt có ý
nghĩa thống kê.
Theo phần ước lượng và kiểm định trên cho thấy sự tương quan giữa các
biến dự đoán khá yếu nên em sử dụng độ lớn của các hệ số phân biệt chuẩn hóa
(Standardized Canonical Discriminant Function Coefficients) và hệ số tương quan
kết cấu (Structure Corrlation) để giải thích kết quả hàm phân biệt trong bài luận
văn này.
Yếu tố tổng tài sản đóng góp vào quyết định vay hay không vay là lớn thứ
hai. Trong bảng giá trị trung bình nhóm vay và không vay tuy có sự chênh lệch
nhiều nhau về tổng tài sản giữa các doanh nghiệp vay và không vay, tuy nhiên xét
nếu xét kỹ hơn ta thấy trong những doanh nghiệp có vay thì số lượng doanh
nghiệp có tổng tài sản duới 500 triệu cũng có một số, do đó đã dẫn đến độ lệch
chuẩn trung bình về tài sản của các doanh nghiệp khá lớn. Xét trong những doanh
nghiệp không vay thì có đến 41,66% doanh nghiệp có tài sản nhỏ hơn 3.000 triệu
và chỉ có 1 doanh nghiệp có tài sản là 5.000 triệu, trong khi đó những doanh
nghiệp đi vay thì có đến 62,5% doanh nghiệp có tài sản lớn hơn 5.000 triệu và
50% doanh nghiệp được hỏi trả lời là có vay với tài sản của doanh nghiệp lớn hơn
5.000 triệu. Do đó những doanh nghiệp có tài sản lớn thì quyết định vay càng
thuận lợi làm cho giá trị biệt số tăng.
Những yếu tố mức độ hiểu biết, thời gian xét duyệt và vay người thân có độ
lớn tương đương nhau cho thấy những nhân tố này ảnh hưởng tương đương nhau
về độ lớn. Yếu tố mức độ hiểu biết nói lên sự hiểu biết về thủ tục vay và khả
năng quản lý của chủ doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có mức độ hiểu biết cao
thì khả năng lựa chọn vay vốn ngân hàng càng thuận lợi. Trong số những doanh
nghiệp được hỏi thì mức độ hiểu biết trung bình của nhóm vay là 6,75 điểm cao
hơn 1,00 điểm so với nhóm không vay. Tuy nhiên khi xem xét kỹ hơn thì trong
nhóm không vay chỉ có 50% doanh nghiệp mức độ hiểu biết trên trung bình, trong
khi đó con số này là 92,5% trong những doanh nghiệp không vay. Do đó với
những doanh nghiệp với mức độ hiểu biết cao thì càng có xu hướng tìm vốn vay
ngân hàng.
Yếu tố thời gian xét duyệt món vay cho thấy nếu thời gian xét duyệt món
vay càng lâu thì doanh nghiệp càng ít chọn quyết định vay do đó yếu tố này mang
dấu âm. Tương tự với những doanh nghiệp vay người thân thì nhu cầu tìm đến
ngân hàng sẽ thấp hơn. Bởi vì những ràn buộc ở các món vay người thân dễ dàng
hơn đối với khoản tín dụng của ngân hàng.
5.1.3 Đánh giá tầm quan trọng của từng yếu tố đối với việc vay ngân hàng
Giá trị hệ số tương quan kết cấu cho thấy sự tương quan của từng yếu tố đối
Có vay 3,936
(Nguồn: Tính toán từ số liệu thu thập trực tiếp năm 2006)
Giá trị biệt số trung bình của từng nhóm nhóm không vay mang dấu âm với
giá trị khá lớn, trong khi đó nhóm có vay mang dấu dương. Các giá trị này cho
thấy các yếu tố trong mô hình có sự tác động rất rõ đối với sự phân biệt đối với
mẫu trong từng nhóm phân loại mà trong đó tác động đối với những mẫu không
vay mạnh hơn những doanh nghiệp có vay.
Như đã trình bày trong phần xác định vấn đề, các dữ liệu được chia thành
hai phần: mẫu phân tích dùng để ước lượng hàm phân biệt và mẫu kiểm tra dùng
để kiểm tra tính đúng đắn của hàm phân biệt được xây dựng.
Bảng 16: KẾT QUẢ PHÂN BIỆT
Phân loại Kết quả phân biệt Tổng số
Không vay Có vay
Mẫu phân
tích
Số doanh
nghiệp
Không vay 9 0 9
Có vay 0 30 30
%
Không vay 100,0 0,0 100,0
Có vay 0,0 100.0 100,0
Mẫu kiểm
tra
Số doanh
nghiệp
Không vay 3 0 3
Có vay 0 10 10
% Không vay 100,0 0,0 100,0