Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến tính kháng thuốc của vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis tại thành phố Cần Thơ - Pdf 26



i

LỜI CẢM TẠ
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS. TS. Trần Nhân Dũng và
PGS.TS. Trần Ngọc Dung, hai ngƣời đã dành nhiều thời gian hƣớng dẫn tận tình,
động viên giúp đỡ, cung cấp tài liệu, kiến thức quí báu, tạo mọi điều kiện thuận
lợi và tốt nhất để tôi hoàn thành quyển luận án này.
Tôi muốn gửi lời cám ơn đến Bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Thị Thanh
Nhàn, Giám đốc Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thành phố Cần Thơ, Bác sĩ
Nguyễn Ngọc Thủy, phó trƣởng phòng xét nghiệm, các Bác sĩ phòng khám, các
Anh chị em nhân viên y tế của Bệnh viện lao và bệnh phổi Cần Thơ, nhân viên y
tế của các Trung tâm phòng chống lao Quận Ninh Kiều, Cái Răng, Phong Điền đã
giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi đƣợc tiếp xúc với bệnh nhân, từ đó, tôi có cơ hội
chọn đƣợc các mẫu đạt tiêu chuẩn cho mục tiêu nghiên cứu của luận án.
Về phía Trƣờng Đại học Y Dƣợc Cần Thơ, tôi vô cùng biết ơn lãnh đạo nhà
trƣờng, đặc biêt, tôi vô cùng biết ơn GS.TS. Phạm Văn Lình đã cho phép, ủng hộ,
tạo cơ hội tốt nhất trong thời gian vừa qua để tôi có điều kiện học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận án nghiên cứu sinh này.
Tôi sẽ không bao giờ quên tập thể Bộ môn Sinh Lý Bệnh-Miễn dịch, Khoa
Y, Trƣờng Đại học Y Dƣợc Cần Thơ, nơi đã động viên, chia sẽ, khích lệ, an ủi tôi
trong suốt quá trình 4 năm học tập, nghiên cứu, giúp đỡ để tôi có thể vừa hoàn
thành công tác, vừa hoàn thành nhiệm vụ học tập, nghiên cứu và hoàn thành
quyển luận án này.
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến Ths. Đỗ Tấn Khang và Em Trần Văn Bé
Năm của phòng Sinh học phân tử, thuộc Viện Nghiên cứu và phát triển Công
nghệ sinh học, Trƣờng Đại học Cần Thơ, đã tích cực hổ trợ, không ngại khó khăn
cùng với tôi thực hiện các kỹ thuật PCR, gửi sản phẩm PCR giải trình tự, nhằm
giúp tôi hoàn tất mục tiêu phát hiện các đột biến gen của những chủng vi khuẩn
lao trên các bệnh nhân tại Thành phố Cần Thơ.
iii

TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hƣởng đến tính kháng thuốc của vi khuẩn
Mycobacterium tuberculosis tại thành phố Cần Thơ“ đƣợc thực hiện tại phòng xét
nghiệm Sinh học phân tử, khoa Y - Trƣờng Đại học Y Dƣợc Cần Thơ; phòng thí
nghiệm Sinh học phân tử thuộc Viện Nghiên cứu và phát triển Công nghệ Sinh học,
phòng Thí nghiệm chuyên sâu, Trƣờng Đại học Cần Thơ; phòng Xét nghiệm vi sinh
thuộc bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ; Viện Pasteur thành phố Hồ
Chí Minh, trong thời gian từ tháng 6.2010 đến tháng 1.2014.
Đề tài đƣợc thực hiện với các mục tiêu (i) Xác định tỷ lệ kháng thuốc ở
bệnh nhân lao phổi tái trị tại thành phố Cần Thơ, (ii) Tìm hiểu một số yếu tố ảnh
hƣởng đến tính kháng thuốc của vi khuẩn lao gồm: (iia) Xác định các kiểu gen
đột biến kháng thuốc rifampicin của vi khuẩn lao, (iib) Xác định nồng độ thuốc
rifampicin trong huyết tƣơng của bệnh nhân lao phổi tái trị (iic) Xác định số
lƣợng các tế bào miễn dịch trong máu của bệnh nhân lao phổi đa kháng thuốc.
Việc xác định tỷ lệ kháng thuốc đƣợc thực hiện với 246 bệnh nhân mắc lao
phổi tái trị tại thành phố Cần Thơ có mẫu đàm đƣợc thu thập, đem nhuộm bằng
phƣơng pháp Ziehl-Neelsen, nuôi cấy vi khuẩn trong môi trƣờng Lowenstein-

thể đơn dòng có đánh dấu chất huỳnh quang. Kết quả cho thấy có sự giảm một
cách có ý nghĩa (p<0,05) số lƣợng các tế bào lympho T chung, lympho T giúp đỡ,
lympho T gây độc và tế bào diệt tự nhiên ở nhóm bệnh nhân lao phổi đa kháng
thuốc. Trong khi đó, số lƣợng monocyte trong công thức bạch cầu ở nhóm lao
phổi đa kháng thuốc lại tăng cao có ý nghĩa thống kê so với nhóm lao mới và
nhóm ngƣời bình thƣờng với p<0,05.
Các kết quả trong nghiên cứu này cho thấy: kiểu đột biến gen của vi khuẩn
lao, nồng độ thuốc rifampicin trong huyết tƣơng và số lƣợng các tế bào miễn dịch
trong máu bệnh nhân, có thể là các yếu tố ảnh hƣởng đến việc kháng thuốc của vi
khuẩn lao.
Từ khóa: bệnh lao phổi, lao phổi đa kháng thuốc, lao phổi tái điều trị,
rifampicin, sắc ký lỏng hiệu năng cao, tế bào miễn dịch.

types of drug were 13.1%; four types of drug were 8.5% and five types of drug
were 3.3%.
Determination of mutated genotypes was carried out on 42 strains of
Mycobacterium tuberculosis in which 40 patients were multidrug-resistant
tuberculosis and 2 patients were still sensitive with drug and positive with
tuberculosis. DNA was extracted and used as template to amplify the rpoB gen by
PCR method. The rpoB gen length (411bp) in which contains 81bp fragment (a
rifampicin resistance determining region). The DNA were sequenced and
compared with DNA from the gene bank. This activity was aimed to find vi

mutation from the codon 507 to 534. The results showed that there were 30 over
40 strains showing base substitutions mutation (75%) and in 10 over 40 strains
(25%) showed phenotypically rifampicin-resistance, but no nucleotide changes
were detected at the rpoB gene.
The concentration of rifampicin in plasma of retreated pulmonary
tuberculosis patients was determined by high performance liquid chromatography
(HPLC). The results showed that 92.4% of retreated pulmonary tuberculosis and
90% of new pulmonary tuberculosis having low concentration of rifampicin in
plasma (<8 µg/ml), while recommended concentration of drugs should be
between 8 to 24µg/ml in plasma.
The immunocytes in blood of multidrug-resistant tuberculosis patients were
investigated. The Flow cytometry method was used to determine the number of
immunocytes by antigen markers in leucocytes and these antigen combine with
the monoclonal antibody was recognized with fluorescence method. The results
showed that the number of T lymphocyte, helper T cells, cytotoxic T cells and
natural killer cells signicficantly decreased (p<0,05) in multidrug-resistant
tuberculosis (MDR-TB) patients, while number of monocytes in multidrug-

viii

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ I
TÓM TẮT III
ABSTRACT V
TRANG CAM KẾT KẾT QUẢ VII
MỤC LỤC VIII

34
2.5.3 Tình hình bệnh lao phổi kháng thuốc trên thế giới và tại Việt nam 36
2.6 Kỹ thuật xác định nồng độ thuốc chống lao và đếm số lƣợng các tế bào miễn dịch
trong máu bệnh nhân 38 ix

2.6.1 Phƣơng pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao trong xác định nồng độ thuốc chống
lao 38
2.6.2 Phƣơng pháp đếm dòng chảy tế bào trong xác định số lƣợng các tế bào miễn
dịch trong máu bệnh nhân lao phổi 38
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
3.1 Sơ đồ nghiên cứu tổng quát 40
3.2 Nội dung nghiên cứu 41
3.2.1 Xác định tỷ lệ kháng thuốc ở bệnh nhân lao phổi tái trị tại thành phố Cần Thơ
41
3.2.2 Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hƣởng đến tính kháng thuốc của vi khuẩn lao tại
thành phố Cần Thơ 45
3.3 Vấn đề y đức 58
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 60
4.1 Tỷ lệ kháng thuốc ở bệnh nhân lao phổi tái trị tại thành phố Cần Thơ 60
4.1.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 60
4.1.2 Tỷ lệ kháng thuốc ở bệnh nhân lao phổi tái trị tại thành phố Cần Thơ 60
4.2 Một số yếu tố ảnh hƣởng đến tính kháng thuốc của vi khuẩn lao nghiên cứu 66
4.2.1 Các kiểu đột biến gen gây kháng thuốc rifampicin của vi khuẩn lao tại thành
phố Cần Thơ 66
4.2.2 Sự giảm nồng độ thuốc chống lao rifampicin trong huyết tƣơng của bệnh nhân
lao phổi tái trị so sánh với nhóm bệnh nhân lao phổi mới 86
4.2.3 Sự giảm số lƣợng các tế bào miễn dịch trong máu của bệnh nhân lao phổi đa

Bảng 4.5 Các kiểu đột biến thay thế base không gây thay đổi acid amin 79
Bảng 4.6 Tỷ lệ bệnh nhân mang vi khuẩn lao có đột biến tại 1 codon 80
Bảng 4.7 Tỷ lệ bệnh nhân mang vi khuẩn lao có kiểu đột biến tại 2 codon 81
Bảng 4.8 Tỷ lệ bệnh nhân mang vi khuẩn lao có kiểu đột biến tại 3 codon 82
Bảng 4.9 Tỷ lệ bệnh nhân mang vi khuẩn lao có kiểu đột biến tại 4 codon 83
Bảng 4.10 Tỷ lệ bệnh nhân mang vi khuẩn lao có kiểu đột biến tại 7 codon 84
Bảng 4.11 Sự khác nhau về kiểu đột biến của vi khuẩn lao kháng RMP ở các nghiên cứu 85
Bảng 4.12 Đặc điểm giới tính, nhóm tuổi và cân nặng của 2 nhóm bệnh nhân nghiên cứu
87
Bảng 4.13 Liều điều trị RMP trung bình theo cân nặng ở 2 nhóm bệnh nhân nghiên cứu
89
Bảng 4.14 Nồng độ thuốc RMP trong huyết tƣơng đo ở thời điểm 2 giờ của 2 nhóm bệnh
nhân nghiên cứu 90
Bảng 4.15 Nồng độ thuốc RMP trong huyết tƣơng đo ở thời điểm 3 giờ của 2 nhóm bệnh
nhân nghiên cứu 91
Bảng 4.16 Nồng độ RMP trung bình trong huyết tƣơng ở cả 2 thời điểm của 2 nhóm
bệnh nhân nghiên cứu 92
Bảng 4.17 Nồng độ tối đa trong huyết tƣơng của 2 nhóm bệnh nhân nghiên cứu 93
Bảng 4.18 Liên quan giữa nồng độ RMP tối đa trong huyết tƣơng với giới tính ở nhóm
bệnh nhân lao phổi mới 99
Bảng 4.19 Liên quan giữa nồng độ RMP tối đa trong huyết tƣơng với giới tính ở nhóm
bệnh nhân lao phổi tái điều trị 99
Bảng 4.20 Đặc điểm chung của các nhóm bệnh nhân nghiên cứu 101
Bảng 4.21 Số lƣợng bạch cầu chung và các loại bạch cầu ở các nhóm nghiên cứu 102
Bảng 4.22 Số lƣợng tế bào bạch cầu momo ở các nhóm nghiên cứu 104
Bảng 4.23 Số lƣợng trung bình của tế bào lympho T chung (CD3
+
) 106
Bảng 4.24 Số lƣợng trung bình của tế bào lympho T giúp đỡ (T
h

Hình 2.1 Cấu trúc vách tế bào của vi khuẩn lao 8
Hình 2.2 Vi khuẩn lao nhuộm bằng phƣơng pháp Ziehl-Neelsen 9
Hình 2.3 Khuẩn lạc của vi khuẩn lao trên môi trƣờng nuôi cấy Lowenstein Jensen 9
Hình 2.4 Vi khuẩn lao chụp phóng đại x7.500 qua KHV điện tử quét (SEM-JSM 5550)
10
Hình 2.5 Đƣờng lây truyền của vi khuẩn lao 10
Hình 2.6 Quá trình nhiễm lao 11
Hình 2.7 Bản đồ nhiễm sắc thể của vi khuẩn lao 12
Hình 2.8 Các loại đột biến điểm 14
Hình 2.9 Kiểu đột biến thay thế base 14
Hình 2.10 Các dạng ảnh hƣởng của đột biến điểm 15
Hình 2.11 Các cơ chế kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn 16
Hình 2.12 Sự hình thành u hạt (granuloma) và hoại tử bã đậu (caseum) trong nhiễm lao
17
Hình 2.13 Vi trí gắn kết của vi khuẩn lao và các tế bào thực bào 18
Hình 2.14 Vai trò của IFN-γ và TNF-α 20
Hình 2.15 Sự chết lập trình và hoại tử của các đại thực bào nhiễm vi khuẩn lao 21
Hình 2.16 Cơ chế miễn dịch tự nhiên trong nhiễm lao 22
Hình 2.17 Vai trò của CD4 và CD8 của miễn dịch thích nghi trong nhiễm vi khuẩn lao26
Hình 2.18 Quá trình nhiễm lao và các đáp ứng miễn dịch trong nhiễm lao 27
Hình 2.19 Cơ chế tác dụng của các thuốc chống lao hạng 1 trên vi khuẩn lao 30
Hình 2.20 Cơ chế tác dụng của các thuốc chống lao hàng 2 trên vi khuẩn lao 31
Hình 2.21 Công thức hóa học của RMP 32
Hình 2.22 Sự gắn kết của RMP vào vị trí hoạt động tổng hợp RNA polymerase 32
Hình 2.23 Các nƣớc có lao phổi kháng thuốc cao ở những bệnh nhân tái điều trị 37
Hình 3.1 Sơ đồ nghiên cứu tổng quát 40
Hình 4.1 Tỷ lệ kháng thuốc chung của vi khuẩn lao 61
Hình 4.2 Tỷ lệ mắc lao phổi đa kháng thuốc ở bệnh nhân nghiên cứu 62
Hình 4.3 Tỷ lệ mắc lao phổi đơn kháng thuốc 64
Hình 4.4 Tỷ lệ các loại lao phổi kháng thuốc kết hợp 66

CD cluster differentiation: cụm biệt hóa
CMI cell mediated immunity: miễn dịch qua trung gian tế bào
CTLs cytotoxic T lymphocytes: lympho T gây độc tế bào
CR complement receptor: thụ thể của bổ thể
CTCLQG chƣơng trình chống lao quốc gia
DC dendritic cell: tế bào tua
DC-SIGN Dendritic Cell-Specific Intercellular adhesion molecule-3-
Grabbing Non-integrin
DOTS Directly Observed Treatment, Short-course: phác đồ điều trị
ngắn ngày có kiểm soát
EMB ethambutol
FDC fixed dose combination: sự kết hợp liều thuốc cố định
FMH functional mutant homozygotes: đồng hợp tử đột biến chức
năng
GM-CSF granulocyte-macrophage-colony stimulating factor: yếu tố
kích thích đại thực bào - bạch cầu hạt
GKO gene knoch out
HLA human leukocyte antigen system: hệ thống kháng nguyên
bạch cầu ở ngƣời- hệ HLA
HNP1-3 human neutrophile peptides 1-3
HLPC high-performance liquid chromatography: sắc ký lỏng hiệu
năng cao
ICAM Intercellular Adhesion Molecule: phân tử dính nội bào
IFN interferon
IL interleukin
iNOS2 inducible nitric oxide synthase 2 xiii


KN kháng nguyên
KSĐ kháng sinh đồ
KTC khoảng tin cậy
RANTES regulated on activation normal T cell expressed and secreted
RNI reactive nitrogen intermediate: chất trung gian nitơ hoạt hóa
ROI reactive oxygen intermediate: chất trung gian oxy hoạt hóa
RMP rifampicin xiv

RHZ thuốc kháng lao hỗn hợp 3 thành phần RMP-INH-PZA
SD Standard Deviation: độ lệch chuẩn
SM streptomycin
SP-TB sensitive positive tuberculosis: bệnh lao còn nhạy thuốc
TB tế bào
TCYTTG tổ chức y tế thế giới
TCR T cell receptor: thụ thể tế bào lympho T
TLR toll like receptor
TNF tumor necrosis factor: yếu tố gây hoại tử khối u
VDR vitamine D receptor: thụ thể vitamin D
VK vi khuẩn
WHO world heath organization: tổ chức y tế thế giới
XDR-TB extensively drug-tuberculosis: bệnh lao cực kháng
ZN Ziehl - Neelson
(-) âm tính
(+) dƣơng tính 1

đƣợc tiêu diệt hết, thƣờng sẽ biến đổi, nhằm kháng với các thuốc chống lao bằng
nhiều cách, trong đó có việc thay đổi cấu trúc một số gen dẫn đến thất bại trong
điều trị (Faustini et al, 2006). Hiện nay, phác đồ điều trị bệnh lao đƣợc WHO đƣa
ra bao gồm 5 loại thuốc kết hợp với nhau đó là isoniazid (INH), rifampicin
(RMP), pyrazinamid (PZA), streptomycin (SM) và ethambutol (EMB). Với các
thuốc chống lao này, việc chữa khỏi bệnh lao có thể đạt đƣợc trên 95%; thêm vào
đó, việc kết hợp các thuốc trong phác đồ điều trị đã đem lại kết quả rất lớn trong 2

việc giải quyết vấn đề khẩn cấp về tình hình lao kháng thuốc hiện nay (Iseman,
2002). Tuy nhiên, trên thực tế, theo WHO cảnh báo, vẫn còn những bệnh nhân
điều trị bằng thuốc chống lao nhƣng không đem lại hiệu quả, điều này sẽ dẫn đến
là làm tăng tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân lao, tăng gánh nặng bệnh tật cho cộng
đồng và xã hội. Tại sao lại xảy ra điều đó? Để trả lời câu hỏi này là vấn đề lớn
cho xã hội, đặc biệt cho ngành y tế và trên cơ sở đó, việc nghiên cứu tìm hiểu các
yếu tố có khả năng ảnh hƣởng đến tính kháng thuốc của vi khuẩn lao là rất cần
thiết, nhằm có thể đề xuất biện pháp can thiệp đạt kết quả cao, giúp cho việc điều
trị bệnh nhân lao ngày càng có hiệu quả.
1.2 Giả thuyết khoa học, cách tiếp cận và mục tiêu của luận án
Việt Nam đứng thứ 12 trong 22 quốc gia có tỷ lệ bệnh lao xuất hiện cao,
cũng là một trong 14/27 nƣớc có bệnh lao phổi đa kháng thuốc cao trên thế giới.
Theo nhận định của Raja (2011), thuốc chống lao giống nhƣ con dao hai lƣỡi,
thuốc có tác dụng diệt vi khuẩn, mặt khác thuốc cũng là nguyên nhân gây kháng
thuốc (Raja et al, 2011). Có nhiều nghiên cứu cho thấy vi khuẩn lao có khả năng
chống lại với các thuốc dùng để điều trị bệnh lao bằng cách thay đổi kiểu gen hoặc
làm bất hoạt hệ thống bảo vệ cơ thể của túc chủ thông qua cơ chế trốn thoát hiện tƣợng
thực bào hoặc làm giảm số lƣợng và chức năng các tế bào tham gia đáp ứng miễn dịch
chống vi khuẩn lao, khi nồng độ thuốc chống lao không đạt nồng độ chuẩn trong huyết

(Ormerod, 2005)
Việt Nam đã thực hiện các kỹ thuật nêu trên trong việc phát hiện nhanh
bệnh lao kháng thuốc (Đinh Ngọc Sỹ, 2011), trong đó, có phát hiện lao phổi đề
kháng thuốc RMP. Bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành phố Cần Thơ là đơn vị đã
và đang sử dụng một máy Gene-Xpert có khả năng phát hiện lao phổi đề kháng
với thuốc RMP chỉ trong vòng 3 giờ bằng kỹ thuật nhận dạng các đột biến gây
kháng RMP. Tuy nhiên, hiện nay chƣa có công trình nghiên cứu nào để đánh giá
về việc phát hiện kiểu gen kháng thuốc RMP của vi khuẩn lao tại thành phố Cần
Thơ.
Mặt khác, nồng độ thuốc chống lao RMP không đạt chuẩn trong huyết
tƣơng có thể là điều kiện thuận lợi gây ra những kiểu gen đột biến kháng thuốc
khác nhau của vi khuẩn lao, điều này lại ít đƣợc các bác sĩ điều trị quan tâm.
Ngoài ra, theo WHO cảnh báo, lao kháng thuốc cũng đã xuất hiện với mức độ khá
cao trên những bệnh nhân mắc hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
(HIV/AIDS); ở những bệnh nhân này, có sự giảm thiểu về số lƣợng và chất lƣợng
tế bào lympho T giúp đỡ, là tế bào miễn dịch đóng vai trò chính trong điều hòa
đáp ứng miễn dịch của cơ thể, dẫn đến tình trạng cơ thể trở nên đáp ứng kém với
thuốc chống lao và tạo điều kiện thuận lợi cho tính kháng thuốc của vi khuẩn lao
phát triển. Đây là cơ sở cho việc đặt vấn đề nghiên cứu về số lƣợng các tế bào
miễn dịch nhƣ là một yếu tố ảnh hƣởng đến sự kháng thuốc của vi khuẩn lao ở
bệnh nhân lao kháng thuốc. Từ các giả thuyết nghiên cứu trên, đề tài đƣợc thực
hiện nhằm các mục tiêu sau:
a. Xác định tỷ lệ kháng thuốc ở bệnh nhân lao phổi tái trị tại thành phố
Cần Thơ.
b. Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hƣởng đến tính kháng thuốc của vi khuẩn
lao qua việc xác định (i) Các kiểu gen đột biến kháng thuốc rifampicin của
vi khuẩn lao. (ii) Nồng độ thuốc chống lao rifampicin trong huyết tƣơng 4

khuẩn lao kháng thuốc.
Những kết quả này có thể làm tiền đề cho các nghiên cứu tiếp sau để khẳng
định sự ảnh hƣởng của các yếu tố nêu trên, góp phần cung cấp thêm thông tin
trong việc đánh giá, tiên lƣợng bệnh nhân lao phổi đa kháng thuốc trong tƣơng
lai.
5

1.4 Kết cấu của luận án
Luận án dài 115 trang, nội dung chính của luận án gồm 5 chƣơng: (i)
chƣơng 1: Giới thiệu (5 trang với 4 tiểu mục); (ii) chƣơng 2: Lƣợc khảo tài liệu
(34 trang với 6 tiểu mục); (iii) chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu (20 trang có 2
tiểu mục); (iv) chƣơng 4: Kết quả và thảo luận (54 trang với 2 tiểu mục); (v)
chƣơng 5: Kết luận và đề nghị (2 trang với 2 tiểu mục).
Số bảng và hình trong nội dung chính gồm: 30 bảng và 37 hình, bài viết sử
dụng 113 tài liệu tham khảo, bao gồm 18 tài liệu tham khảo tiếng Việt và 95 tài
liệu tham khảo tiếng Anh.
Hypopcrates, đã xác định bệnh lao là do ổ loét trong phổi, ngực hoặc họng đi kèm
ho, sốt nhẹ và khạc ra mủ, ông cũng mô tả đây là một bệnh của tình trạng suy
dinh dƣỡng (Pease, 1940 trích dẫn của Juan Carlos Palomino, 2007).
Tại Châu Âu, do việc bùng nổ dân số và sự phát triển quá nhanh của các
thành phố lớn, đã khiến châu lục này trở thành trung tâm của dịch bệnh lao có lẽ
từ đầu thế kỷ thứ 17 và tiếp tục cho đến 200 năm sau đó, bệnh lao đƣợc biết đến
nhƣ “Great White Plague” là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tử vong và cái chết do
bệnh lao là điều không thể tránh khỏi. Ở Châu Âu và Bắc Mỹ, những đặc điểm
phổ biến của các thành phố lớn lúc bấy giờ nhƣ mật độ dân cƣ đông đúc, điều
kiện vệ sinh thiếu thốn, chính là những nguyên nhân tạo ra dịch bệnh lao tại hai
châu lục trên, dịch bệnh này tiếp tục âm ỉ lan rộng ra những châu lục khác do xu
hƣớng thực dân hóa và phong trào thám hiểm để khám phá các vùng đất mới của
ngƣời Châu Âu. Những ngƣời Châu Âu di cƣ đã mang bệnh lao cùng với họ tới
những vùng đất mà họ mới đến (Juan Carlos Palomino, 2007). Có khoảng một
phần tƣ dân số Châu Âu đã chết vì bệnh lao, nghiên cứu ở một bệnh viện tại Paris
đã ghi nhận, trong số 696 thi hài đƣợc khám nghiệm đã có đến 250 thi hài chết do
mắc phải bệnh lao (Dubos, R and J. Dubos, 1952 trích dẫn của Smith Issar, 2003).
Trƣớc khi Columbus phát hiện ra Châu Mỹ, có rất ít ngƣời dân địa phƣơng
mắc bệnh lao. Mãi cho đến năm 1880, bệnh lao bùng phát chủ yếu trong số những 7

cƣ dân địa phƣơng, sau khi họ trở về từ vùng đất dành riêng cho ngƣời da đỏ hoặc
bị ép buộc sống trong những trại giam hoặc trại lính tập trung. Đến năm 1886, tốc
độ tử vong do bệnh lao đã tăng lên một cách đáng kể với tần suất 9000 ngƣời trên
100.000 dân (Bates, 1993 trích dẫn của Juan Carlos Palomino, 2007).
Đối với lục địa Châu Phi, bệnh lao gần nhƣ rất ít xuất hiện tại những nơi mà
ngƣời dân sống trong những vùng xa xôi hẻo lánh, nhƣng họ đã bị phơi nhiễm lao
khi tiếp xúc với những dân cƣ đến từ Châu Âu và những ngƣời dân Châu Phi bị

các vi khuẩn khác, lớp sáp đã đƣợc phân tích có nhiều yếu tố gây bệnh, có yếu tố
chỉ mang tính kháng nguyên, cùng với các thành phần khác nhƣ protein,
polysaccharide…vi khuẩn có nhiều yếu tố sợi ở vách và chất nguyên sinh là
những yếu tố gây bệnh (Đoàn Thị Nguyện, 2009)

Hình 2.1 Cấu trúc vách tế bào của vi khuẩn lao
Nguồn http://www.hindawi.com/journals/cdi/2011/405310/fig1/
Cấu trúc vách tế bào của vi khuẩn lao với những thành phần chủ yếu bao
gồm: (i) Lớp lipid bên ngoài, (ii) Lớp acide mycolic, (iii) Lớp polysaccharide
(arabinogalactan), (iv) Lớp peptidoglycan, (v) Lớp lipoarabinomannan (LAM),
(vi) Lớp phosphatidylinositol mannoside (PIM), (vii) Lớp màng plasma.
2.2.3 Một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn lao
Vi khuẩn lao là loại sinh sản chậm, vi khuẩn “nằm vùng” ở nơi tổn thƣơng
rất lâu (Persister). Ở điều kiện tự nhiên, vi khuẩn tồn tại 3–4 tháng. Trong phòng
thí nghiệm, có thể bảo quản vi khuẩn trong nhiều năm. Trong đàm của bệnh nhân
lao ở phòng tối, ẩm sau 3 tháng, vi khuẩn này vẫn tồn tại và còn giữ đƣợc độc lực.
Dƣới ánh nắng mặt trời, vi khuẩn bị chết sau 1 giờ 30 phút. Ở 42
0
C, vi khuẩn
ngừng phát triển và ở nhiệt độ 80
0
C, vi khuẩn chết sau 10 phút; Với cồn 90
0
, vi
khuẩn tồn tại đƣợc ba phút, trong acid phenic 5%, vi khuẩn sống đƣợc một phút.
Vi khuẩn lao cần đủ oxy, điều này giải thích tại sao lao phổi là thể hay gặp nhiều
nhất (Trần Văn Sáng, 2007).
2.2.3.1 Đặc điểm nhuộm và soi dƣới kính hiển vi của vi khuẩn lao
Nhuộm bằng phƣơng pháp Ziehl-Neelsen, vi khuẩn lao bắt màu đỏ, không
có vỏ, không có lông, không có nha bào, trong bệnh phẩm, trực khuẩn lao thƣờng
10 Hình 2.4 Vi khuẩn lao chụp phóng đại x7.500 qua KHV điện tử quét (SEM-JSM 5550)
(chụp tại phòng Thí nghiệm Chuyên sâu - Đại học Cần Thơ)
2.2.3.3 Đặc điểm lây truyền và gây bệnh của vi khuẩn lao
Trực khuẩn lao lây truyền từ ngƣời này sang ngƣời khác, qua những giọt
nƣớc bọt bắn ra từ ngƣời đang mắc bệnh lao và ngƣời lành hít phải những giọt
nƣớc bọt này. Có hai kiểu tổn thƣơng chủ yếu ở phổi: tổn thƣơng dạng bài tiết (sự
đáp ứng của viêm cấp) và tổn thƣơng dạng hạt. Tuy nhiên, chỉ khoảng 10% số
ngƣời nhiễm lao trở thành bệnh nhân lao (Trần Văn Sáng, 2007), (Flynn et al,
2011).

Hình 2.5 Đƣờng lây truyền của vi khuẩn lao
Nguồn: http://www.cdc.gov/contact/
Vi khuẩn lao M. tuberculosis là một vi khuẩn hiếu khí bắt buộc, là tác nhân
gây bệnh nội bào, vị trí ƣa thích của loài vi khuẩn này là mô phổi, một tổ chức rất
giàu oxy. Vi khuẩn đi vào cơ thể qua đƣờng hô hấp, sau đó lan rộng từ vị trí
nhiễm trùng đầu tiên ở phổi đến hạch bạch huyết hoặc máu để đến các nơi khác
trong cơ thể, vùng đỉnh phổi và các nốt hạch là nơi cƣ trú ƣa thích của vi khuẩn
này (Raja, 2004). 11 Hình 2.6 Quá trình nhiễm lao
Nguồn http://www.annualreviews.org/


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status