Nghiên cưu một số yếu tố ảnh hưởng đến độ ổn định của rifampicin trong viên nén rifampicin, isoniazid và piraazinamid - Pdf 30

r" ^
m
BỘ Y TÊ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
NGUYỄN TỨ SƠN
NGHIÊN CỨU MỘT số YẾU Tố ẢNH HƯỞNG ĐẾN
ĐỘ ỔN ĐỊNH CỦA RIFAMPICIN TRONG VIÊN
NÉN RIFAMPICIN, ISONIAZID VÀ PIRAZINAMID
KHOÁ LUẨN TỐT NGHIÊP Dược sĩ KHO Á 2001-2006
Giáo viên hướng dẫn: PGS .TS . Phạm Ngọc Bùng
ThS. Võ Quốc Ánh
Nơi thực hiện : Bộ môn Vật lý - Hoá lý và phòng TN
trung tâm ĐH Dược Hà Nội
Thời gian thực ^ừ-2(2005 đến 5/2006


:: \
; /, '3 /
\^"'-4ũúơ.cny
/

HÀ NỘI-5/2006
■ ' < l í . c C
LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất tớ i:
PGS .TS . Phạm Ngọc Bùng ( Chủ nhiệm bộ môn Vật lý-Hoá lý )
ThS. Võ Quốc Ánh ( Giảng viên bộ môn Vật lý-Hoá lý)
Hai người thầy kính mến đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi
hoàn thành khoá luận này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo, cán bộ của bộ
môn Vật lý-Hoá lý, Bào chế, Phòng thí nghiệm trung tâm trường đại học Dược


6
1.3. Tính chất lý hoá và các yếu tố ảnh hưởng đến độ ổn định của
RMP.

1

!

.

1.3.1. Tính chất lý hoá 7
1.3.2. Độ ổn định của RMP và các yếu tố ảnh hưởng

7
1.4. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ phản ứng và phương pháp lão
hoá cấp tốc
1.5. Độ ổn định của thuốc và phương pháp thực nghiệm

12
1.5.1. Khái niệm về độ ổn định của thuốc 12
1.5.2. Một số quy định trong nghiên cứu độ ổn định của thuốc

13
PHẦN 2: THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ
15
2.1. Nguyên vật liệu và phương pháp nghiên cứu

15
2.1.1. Nguyên liệu và thiết b ị

Bệnh lao gắn liền với sự phát triển xã hội loài người và có xu hướng ngày
càng lan rộng trong cộng đồng. Hiện nay trên thế giới có 2,2 tỷ người nhiễm
vi khuẩn lao, và mỗi năm ước tính có khoảng 2 triệu người chết do bệnh lao.
Trong đó, 75% bệnh nhân lao ở độ tuổi lao động, có khoảng 95% bệnh nhân
lao và 98% ca tử vong do bệnh lao gặp ở các nước thu nhập vừa và thấp, 80%
số bệnh nhân lao thuộc 22 nước được WHO xếp vào danh sách những nước
chịu ảnh hưởng của bệnh lao cao nhất (trong đó có Việt Nam). Những con số
đó khẳng định sự lan rộng và phát triển bệnh lao một tình trạng khẩn cấp
mang tính toàn cầu, một thảm hoạ của y tế công cộng.[2]
Phác đồ điều trị lao hiện nay có sự phối hợp các thuốc để tăng hiệu quả
điều trị và tránh hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn lao. Việc phải dùng
nhiều loại thuốc một lúc trong thời gian dài gây nhiều bất tiện cho bệnh nhân,
Dạng chế phẩm phối hợp các dược chất được sản xuất nhằm khắc phục khó
khăn này. Tuy nhiên, khi phối hợp các thuốc điều trị lao(RMP, INH,
PZA,ETH) trong một dạng bào chế đã có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự ổn
định của RMP, dẫn đến sinh khả dụng các thuốc phối hợp thấp và không ổn
định [17]. Để góp phần tìm biện pháp nâng cao độ ổn định của RMP trong
dạng thuốc phối hợp RMP, INH, PZA, chúng tôi thực hiện đề tài:“ Nghiên cứu
một số yếu tố ảnh hưởng đến độ ổn định của Rifampicin trong viên nén
Rifampicin, Isoniazid, Pyrazinamid ” với các mục tiêu sau:
1- Đánh giá được ảnh hưởng của INH và PZA đến độ ổn định của
RMP trong môi trường pHl và pH 6,8, và viên nén 3 thành phần.
2 - Xác định được động học phân huỷ của RMP và dự tính được tuổi thọ
của viên 3 thành phần bào chế thử nghiệm.
PHẦNl: TỔNG QUAN
1.1-VÀI NÉT VỂ BỆNH LAO VÀ VÂN ĐỂ sử DỤNG THUỐC CHỐNG
LAO.
1.1.1“ Vài nét về bệnh lao.
Bệnh lao là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao gây ra, có thể biểu
hiện cấp hay mạn tính. Hay gặp nhất là lao phổi (80-85%), ngoài ra có thể gặp

liều, và chuẩn hoá phác đồ điều trị cũng như dễ dàng cho việc quản lý chương
trình chống lao người ta đã kết hợp 2, 3 hoặc 4 loại dược chất trong một dạng
bào chế.
Thuốc được bào chế dạng viên phối hợp kết hợp 2, 3, 4 dược chất có nhiều
ưu điểm cho việc điều trị. Tuy nhiên khi phối hợp nhiều loại dược chất trong
cùng một đơn vị bào chế làm tăng nguy cơ tương tác, làm giảm sinh khả dụng
của thuốc. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về SKD của RMP trong các chế
phẩm kết hợp, cho thấy SKD của RMP trong một số thuốc phối hợp không ổn
định[6,10,26,28].
Trong nước, Lê Thị Luyến và cộng sự [6] là những người đầu tiên quan
tâm đến SKD của RMP trong thuốc chống lao phối hợp tại Việt Nam. Nghiên
cứu cho thấy SKD của thuốc chống lao phối họfp 2, và 3 thành phần đang sử
dụng tại Việt Nam thấp hơn so với viên chuẩn đofn lẻ, thể hiện ở tốc độ hấp
thu RMP trong viên hỗn hợp chậm hơn. Tmax (2thành phần) = 2,5 giờ, Tmax
(3 thành phần) = 3 giờ và Tmax (viên đcfn lẻ) = 1 giờ. Nồng độ Cmax RMP
trong huyết tương trong thuốc 2 và 3 thành phần thấp Cmax (3 thành phần) =
5,59 ± 1,86 |ig/ml), Cmax (2 thành phần) = 6,48 ± 1,85 |Lig/ml trong khi đó
Cmax (viên đơn lẻ) = 10,44 ± 2,01 |ig/ml, đều này dễ dẫn đến tình trạng vi
khuẩn sẽ kháng RMP, và tỷ lệ tái phát gia tăng.
Nghiên cứu về tưoỉng đương sinh học các chế phẩm chứa RMP trên thị
trường, tác giả G. Pillai và cộng sự [16], sau khi so sánh kết quả các thông số
động học cho thấy không có sự tương đương sinh học giữa các chế phẩm phối
hợp và các chế phẩm đơn thành phần chứa RMP. Có sự tương tác giữa các
dược chất làm giảm khả năng hấp thu của RMP trong các chế phẩm đa thành
phần. Do đó, năm 1994 tổ chức y tế thế giới và hiệp hội chống lao và bệnh
phổi quốc tế đã khuyến cáo: ” Chỉ sử dụng các chế phẩm phối hợp trong điều
trị lao khi đã chứng minh được sự đảm bảo về sinh khả dụng và tương đương
sinh học của RMP trong các chế phẩm này ”.[33]
Tác giả s. Singh và cộng sự [28] đã chỉ ra yếu tố chính gây ra SKD thấp và
không ổn định của RMP trong dạng thuốc phối hợp là sự tăng phân hủy RMP

M=823.0
Tên khoa học: (12Z, 14E, 24E)-(2S, 16S, 17S, 18R, 19R, 20R, 21S, 22R,
23S)- 5, 6, 9, 17, 19 -pentahyroxy - 23 - methoxy - 2,4,12,16,18,20,22
heptamethyl - 8 - [ N- (4-methyl-l-piperazinyl) formimidoyl ]- 1, 11- dioxo-
2, 7-[ epoxy (1, 11, 13- pentadecatrieno) imino] 1, 2- dihydronaphtho [2, 1- b]
furan- 2 1- yl acetat.
RMP là một kháng sinh bán tổng hợp từ Rifamycin B. Rifamycin được
chiết xuất từ Streptomices mediteranei.
1.2.2 Dược động học[4]
Thuốc được hấp thu tốt qua đường tiêu hoá. Sau khi 2-4h thuốc đạt nồng
độ tối đa trong máu. Trong máu thuốc gắn vào protein huyết tương khoảng 75-
80%. RMP thải trừ chủ yếu qua gan và thận. Ngoài ra nó còn thải trừ qua nước
bọt, đờm, nước mắt, làm cho các dịch này có màu đỏ da cam. Thời gian bán
thải của thuốc khoảng từ 1,5 đến 5 giờ. Khi chức năng gan giảm thì tj/2 của
thuốc kéo dài. Ngược lại do sự cảm ứng hệ enzym oxy hoá thuốc ở gan, sau
khi điều trị khoảng 14 ngày thời gian bán thải của thuốc bị rút ngắn lại. Thuốc
có chu kỳ gan -ruột. RMP làm tăng chuyển hoá một số thuốc qua tác dụng
gây cảm ứng cytocrom P450 như: thuốc tránh thai, phong bế p - adrenergic,
chẹn kênh canxi, diazepam, digitoxin, quinidin,
1.2.3 Tác dụng dược lý và cơ chế tác dụng.[4]
RMP gắn vào chuỗi p của ARN- polymerase phụ thuộc AND của vi
khuẩn làm ngăn cản tạo thành chuỗi ban đầu trong quá trình tổng hợp ARN.
Thuốc không chỉ tác dụng tiêu diệt trực khuẩn lao, phong mà còn có tác dụng
tiêu diệt các vi khuẩn Gram (-), E.coli, trực khuẩn mủ xanh, Nesserie
meningitidis, Heamophilus influenzae. RMP diệt vi khuẩn cả trong và ngoài tế
bào. trong môi trường acid thuốc tác dụng mạnh gấp 5 lần.
1.2.4 Tác dụng không mong muốn[4]
RMP gây độc với gan nhất là với người có tiền sử bệnh gan, nghiện rượu
và người cao tuổi. Tác này tăng lên khi dùng phối hợp với INH. Ngoài ra RMP
còn có tác dụng không mong muốn khác như: Rối loạn tạo máu, rối loạn tiêu

(môi trường pH dạ dày). Sở dĩ như vậy là do tại môi trường này RMP hoà tan
tốt [7] nhưng lại bị phân huỷ khá nhanh, đặc biệt là khi có mặt INH [26].
RMP không bền trong môi trưòmg acid và kiềm. Trong môi trường trung
tính tốc độ phân huỷ RMP chậm hơn trong môi trường acid và kiềm [18]. Đã
có nhiều nghiên cứu khẳng định sự phân huỷ RMP trong môi trường acid. Các
nghiên cứu này còn cho thấy sự ảnh hưởng của các dược chất khác trong công
thức đến độ ổn định của RMP[25,26,28]
Shishoo và các cộng sự [26] khi nghiên cứu độ ổn định của RMP trong
môi trường hoà tan bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao đã thấy
sự phân huỷ RMP trong môi trường HCl 0,1N, ở 37°c khi có mặt INH cao
gấp 2 lần RMP đơn thành phần. Sau 45 phút, RMP đơn thành phần bị phân
huỷ 12.4% RMP, khi có mặt INH thì RMP bị phân huỷ là 21,5%. Các tác giả
đã xác định động học của quá trình phân hủy RMP khi có mặt INH là phản
ứng bậc 1 với hằng số tốc độ là k = 4,6.10'^ (phúr‘).
Cũng trong một nghiên cứu về sự ổn định của RMP, s. Singh cùng cộng
sự [28] cũng chứng minh RMP rất dễ bị phân huỷ trong môi trường acid. Khi
chỉ có đơn thành phần RMP trong môi trường HCl 0,1N, 37°c sau 50 phút
RMP bị phân huỷ khoảng 17,8 - 24,4%. Khi có mặt đồng thời RMP và INH
thì sau 15 phút RMP bị phân huỷ 8,5%, và tăng lên 50% sau 3 giờ. INH bị
phân huỷ 1,8% sau 15 phút và 10,3% sau 3 giờ. Nghiên cứu này cho thấy PZA
gần như không ảnh hưởng đến sự phân huỷ RMP trong môi trường acid, chỉ có
INH ảnh hưởng đến sự phân huỷ RMP.
Về sản phẩm phân huỷ của RMP trong môi trưòỉng hoà tan, trong môi
trưòỉng acid RMP bị thuỷ phân thành 3- formyl rifamycin và 1- amino - 4-
methyl piperazine [18,27]. Trong môi trường pH 8,2 và 20-22°C RMP bị oxy
hoá tạo thành rifampicin quinon. Nếu ở môi trường pH 8,2 nhưng khi tăng
nhiệt độ lên 60-70°C thì RMP bị phân huỷ cho các sản phẩm dạng 25-
desacetyl rifamycin. Sự có mặt INH trong môi trường acid làm tăng tốc độ
phân huỷ RMP thành 3-formyl rifamycin [18].
Khi nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến độ hoà tan của RMP trong 2

tương ứng.
Tuy nhiên, những nghiên cứu trên mới chỉ đánh giá độ ổn định của RMP
trong viên phối hợp khi có tá dược, chưa có nghiên cứu nào công bố về tương
tác dược chất- dược chất ở trạng thái rắn không có tá dược. Cũng như chưa có
công bố nào về động học phân huỷ RMP trong viên phối hợp.
Ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm ảnh hưcfng nhiều đến độ ổn định của RMP
trong viên phối hợp. R. Panchanula [11] đã nghiên cứu các sản phẩm phối hợp
trong nhiệt độ phòng (20 - 35°C), không khống chế độ ẩm trong thời gian 16 -
38 tháng kết quả cho thấy hàm lượng RMP trong thuốc vẫn nằm trong giới
hạn quy định của dược điển, và không thấy những biến đổi vật lý của thuốc.
Tác giả cho rằng sự không ổn định của thuốc không phải là nguyên nhân gây
ra sinh khả dụng thay đổi của các chế phẩm phối hợp.
Khi bảo quản viên nén 4 thành phần khi tiếp xúc với nhiệt và độ ẩm trong
điều kiện 40®c, độ ẩm 75% thì thấy RMP bị phân huỷ rõ rệt [17]. Khi so sánh
các mẫu viên phối hợp 4 thành phần được bao gói khác nhau, s Singh và cộng
sự [29] thấy rằng ở điều kiện thường không quan sát thấy sự thay đổi vật lý
hay hoá học nào. Tuy nhiên trong điều kiện 40°c, độ ẩm 75% thì các viên tiếp
xúc với ánh sáng và độ ẩm cho thấy biến đổi rõ về vật lý. Biểu hiện là viên bị
chảy nước hay nứt viên, đồng thời hàm lượng dược chất giảm. Còn các mẫu
được bao gói bằng vỉ nhôm kín thì ít bị ảnh hưởng.
Như vậy, thuốc chống lao dạng phối hợp khi bảo quản cần tránh ánh sáng
và độ ẩm, những yếu tố có thể ảnh hưởng đến hàm lượng dược chất trong viên.
1.4. ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ ĐÊN T ố c ĐỘ PHẢN ỨNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP LÃO HOÁ CÂP T ố c Dự ĐOÁN TUỔl THỌ CỦA
THUỐC [1,5,22]
Nhiệt độ có ảnh hưởng tới tốc độ của các phản ứng hoá học. Người ta
thấy rằng khi nhiệt độ tăng lên 10°c, tốc độ (v) và tưoỉng ứng hằng số tốc độ
(k) của phản ứng tăng lên từ 2 đến 4 lần. Để đặc trưng cho ảnh hưởng này
người ta thường sử dụng đại lượng hệ số nhiệt độ y,0 , còn gọi là hệ số
Vant'Hoff:

Dạng tích phân phương trình Arrhénius là:
Ink = - —. - + c
R T
Trong thực nghiệm xác định hằng số tốc độ của phản ứng ở một vài
nhiệt độ, sau đó lập đồ thị (Ink - 1/T). Năng lượng hoạt hoá E được xác định
dựa và độ dốc của đường biểu diễn(lnk - 1/T). Cũng có thể xác định đơn giản
bằng cách chỉ xác định hằng số tốc độ kjị và k-p2 ở 2 nhiệt độ Ti vàT2.
Ta có phưcmg trình sau:
E = I n ^
Từ giá trị E tính được theo phương trình trên tính hằng số k của nhiệt độ
bảo quản. Dựa vào động học của phản ứng xảy ra, có thể tính được tuổi thọ
của thuốc nghiên cứu ở nhiệt độ bảo quản. Đây là cơ sở của phưofng pháp lão
hoá cấp tốc nghiên cứu tuổi thọ của thuốc.Nguyên tắc của phương pháp là
nâng nhiệt độ bảo quản thuốc để làm tăng tốc độ phân huỷ thuốc, rút ngắn
thời gian nghiên cứu dự báo tuổi thọ của thuốc. Điều kiện lão hoá cấp tốc phải
đảm bảo không làm thay đổi cơ chế phân huỷ thuốc.
1.5. ĐỘ ỔN ĐỊNH CỦA THUỐC VÀ PHƯƠNG PHÁP THỬ NGHIỆM
1.5.1- Khái niệm về độ ổn định của thuốc :
Độ ổn định của thuốc là khả năng của thuốc (nguyên liệu hoặc thành
phẩm) bảo quản trong điều kiện xác định giữ được những đặc tính vốn có về
mặt vật lý, hoá học, vi sinh, tác dụng dược lý và độc tính trong giới hạn quy
định của tiêu chuẩn chất lượng thuốc. [1]
Thông thường, trong quá trình nghiên cứu các thuốc cần phải được thử
độ ổn định. Phương pháp thử là bảo quản ở các điều kiện khác nhau, nghiên
cứu sự thay đổi về tính chất cơ lý và hoá học của thuốc trong quá trình bảo
quản nhằm mục đích chứng minh hay dự đoán tuổi thọ của thuốc.
1.5.2- Một số quy định trong nghiên cứu độ ổn định của thuốc[l,12,14]
trong hướng dẫn về độ ổn định của ICH, WHO cũng như cục quản lý
dược một số nước (Mỹ, úc, ASEAN) đã nếu ra một số quy định chung trong
việc nghiên cứu độ ổn định của thuốc như sau:

±5%RH để cung cấp thêm tư liệu trong hồ sơ duyệt cấp số đăng ký.
Sự biến đổi “có ý nghĩa” được quy định như sau:
+ Giảm đi 5% hàm lượng dược chất so với ban đầu hoặc không đạt yêu
cầu về hàm lượng.
+ Sản phẩm phân huỷ vượt quá giới hạn quy định.
+ Không đáp ứng yêu cầu của các chỉ tiêu đề ra trong tiêu chuản như:
hình thức cảm quan, mùi vị, màu sắc, độ trong, độ đồng nhất, các chỉ tiêu vật
lý, hoá lý như độ rã, độ hoà tan, điểm chảy, pH
PHẦN 2
THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QỦA
2.1- NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u .
2.1.1- Nguyên liệu và thiết bị
* Nguyên liệu, hoá chất: Các nguyên liệu, hoá chất được sử dụng trong
đề tài có nguồn gốc và tiêu chuẩn như bảng sau:
Nguyên liệu
Nguồn gốc
Tiêu chuẩn
RMP
Trung quốc
BP2001
Rifampicin quinon
Viện kiểm nghiệm
Tạp chuẩn
3- formyl rifamycin
Viện kiểm nghiệm
Tạp chuẩn
INH
Trung quốc
BP2001
PZA

Yêu cầu phải có sự tuyến tính giữa nồng độ và diện tích píc trong
khoảng khảo sát. Các píc thu được phải gọn đẹp.
+Nguyên tắc định lượng: Theo nguyên tắc định lượng viên nén 3 thành phần
RMP, INH, PZA bằng phương pháp HPLC theo USP 24. Lập đường chuẩn
RMP trong các lần định lượng, tính toán kết quả dựa vào đường hồi quy nồng
độ RMP theo diện tích pic.
Rifampicin dùng để lập đường chuẩn có hàm lượng 99,7% theo kết quả kiểm
nghiệm của Viện kiểm nghiệm - Bộ y tế
+ Chuẩn bị mẫu thử:
Pha dung môi hoà tan bột viên : Acetonitril: Methanol tỷ lệ 1 : 1 (dm A)
Pha dung môi pha loãng với các thành phần : Nước, acetonitril, K2HPO4,
KH2PO4, acid citric với tỷ lệ lần lượt là 640 : 250 : 77 : 23 ; 10 (dm B)
Cân 5 viên, tính khối lượng trung bình viên, nghiền viên trong cối rồi cân
chính xác một lượng bột viên tương ứng với khối lượng RMP là khoảng 100
mg. Hòa tan lượng bột viên bằng dm A, rồi chuyển vào bình định mức 25 ml,
thêm dm A đến vạch, lắc 10 phút cho tan hết dược chất (lắc siêu âm nếu cần).
Hút chính xác 1 ml dung dịch trên cho vào bình định mức 25 ml, thêm dm B
đến vạch, lọc qua màng 0,45. Chạy sắc ký với điều kiện sắc ký như trên.
2.1.2.2. Nghiên cứu động học phân huỷ RMP trong môi trường pH 1 và
pH6,8
+ Phương pháp nghiên cứu động học phân huỷ RMP trong môi trường
pHl và pH6,8 .
Cân RMP hoà tan trong acetonitril rồi chuyển vào bình định mức 100,0
ml. điều chỉnh pH sao cho đạt pH 1 và pH 6,8, nồng độ RMP là 0,16mg/ml.
Lọc qua màng 0,45, rồi tiến hành định lượng bằng HPLC theo nguyên tắc định
lượng viên nén mục 2.1.2.1, với mẫu thử là dung dịch tại thời điểm đo. Định
lượng RMP tại các thời điểm 20, 40, 60, 80, 100 phút. Các mẫu được đặt
trong bể điều nhiệt ở 37°c trong suốt quá trình nghiên cứu. Các mẫu được làm
3 lần, lấy kết quả trung bình.
+ Phương pháp nghiên cứu động học phân huỷ RMP trong môi trường

trộn đồng lượng.
+ Bột viên RHZ:(viên chứa RMP, INH, PZA theo tỷ lệ 150 : 75 : 400).
Bột viên được bào chế tưcfng tự như viên 2 thành phần ở trên, có thêm thành
phần PZA. Trộn dược chất theo nguyên tắc trộn đồng lượng.
Các mẫu viên được dập với các mẫu bột đã chuẩn bị ở trên đồng khối
lượng và lực nén trung bình, không chứa các loại tá dược viên nén.
Các mẫu viên được nghiên cứu trong các điều kiện như nhau là;
+ Điều kiện 1; Nhiệt độ phòng thí nghiệm(25-35°C). Độ ẩm : 75% ± 5%.
+ Điều kiện 2: Nhiệt độ 40°c± 2°c, Độ ẩm : 75%± 5%.
+ Điều kiện 3: Nhiệt độ 50°c± 2°c, Độ ẩm : 75%± 5%.
+ Điều kiện 4: Nhiệt độ 60°c± 2°c, Độ ẩm : 75% ± 5%.
Các mẫu viên được bao gói bằng 2 lần túi polyme và đặt trong các bình
thuỷ tinh kín(chứa dung dịch NaCl bão hoà đảm bảo độ ẩm tương đối
15% ±5%.) trước khi đặt vào các tủ ấm, tủ vi khí hậu.
Sau các khoảng thời gian nhất định, các mẫu được định lượng xác định
hàm lượng RMP bằng phương pháp HPLC theo mục định lượng viên nén 3
thành phần 2.1.2.1 Xác định động học từ các số liệu thực nghiệm.
2.1.2.4 - Phương pháp thực nghiệm dự đoán tuổi thọ của thuốc.
+ Bảo quản mẫu: Mẫu thuốc được bảo quản trong các điều kiện như thí
nghiệm đánh giá tương tác dược chất mục 2.1.2.3.
+ Xác định động học phân huỷ RMP: Sau các khoảng thời gian, định
lượng RMP trong các mẫu viên bằng phưcmg pháp HPLC theo như định lượng
viên nén RMP phần 2.1.2.1. Dựa vào các giá trị hàm lượng RMP định lượng
được tính các hằng số tốc độ phản ứng K tương ứng tại mỗi nhiệt độ.
+ Xác định bậc phản ứng phân huỷ RMP theo như mục 2.1.2.2.
+ Xác định năng lượng hoạt hoá: theo công thức
e = ^ i„ £ ì
?;-r, ẳ:,
+ Xác định phương trình động học khi bảo quản ở các nhiệt độ bảo quản
Từ năng lượng hoạt hoá E ta tính được hằng số tốc độ K ở nhiệt độ T bất

Bảng 2.1: Khảo xát độ lặp lại của phương pháp HPLC định lượng RMP.
TT
Hàm lưọmg RMP
(mg)
Hàm lượng RMP
(%)
Số liệu thống kê
1
157,30
104,87 t(0,95; 4)= 2,776
'l'B = 105,43%
SD= 1,08%
s = 0,54%
8 (%) = 1,42%
2
157,00 104,67
3
159,30 106,20
4 156,70 104,47
5
160,40
106,93


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status