Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến độ ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mắt cloramphenicol 0,4 - Pdf 30

BỘ Y TÊ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI
KOEURNSOKOL
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TÔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
Đ ộ ỔN ĐỊNH CỦA DƯNG DỊCH THUỐC NHỎ
• • •
MẮT CLORAMPHENICOL 0,4%
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược sĩ ĐẠI HỌC KHOA 1999-2004
■ ■ ■ ■ ■
Người hướng dẫn
Nơi thực hiện
Thời gian thực hiện
: TS. Nguyễn Đăng Hoà
DS. Đinh Thuỳ Dương
: Bộ môn bào chế
: 3/2004- 5/2004
HÀ NỘI, 5-2004
1
LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành khoá luận tốt nghiệp, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành tới
TS. Nguyễn Đăng Hoà
DS. Đinh Thuỳ Dương
Là những thầy - cô đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian học tập và
hoàn thành khoá luận
Em xin cảm ơn tất cả các thầy cô giáo, các cô kỹ thuật viên của Bộ môn Bào
chế Trường Đại Học Dược Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp đỡ chúng em tiến hành
thực nghiệm.
Em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của các anh các chị
và các bạn Việt Nam đến khi hoàn thành khoá luận này.
Hà Nội, tháng 5 năm 2004

1.2.1. Khái niệm 10
1.2.2. Nghiên cứu đánh giá độ ổn định và tuổi thọ của thuốc

10
1.2.3. Một số quy định trong nghiên cứu độ ổn định của thuốc

12
1.3 . Vài nét về cloramphenicol
13
1.3.1. Cấu trúc hoá học: 13
1.3.2. Tính chất 14
1.3.3. Độ ổn định 14
1.3.4. Các phương pháp định lượng cloramphenicol trong chế phẩm

15
1.3.5. Tác dụng dược lý 16
1.3.6. Chỉ định 16
1.3.7. Chống chỉ định và thận trọng khi dùng 17
1.3.8. Tương tác thuốc 18
1.3.9. Tác dụng có hại 18
1.3.10. Các dạng bào chế có chứa cloramphenicol [35]
19
PHẦN 2 - THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ

20
2.1. hoá chất- thiết bị 20
2.1.1. Hoá chất và dung môi 20
2.2. phương pháp thực nghiệm 21
2.2.1. Trình tự pha chế các mẫu thuốc nhỏ mắt cloramphenicol 0,4%


1
PHẨN 1: TỔNG QUAN
1.1. ĐẠI CƯƠNG VỂ THUỐC NHỎ MẮT
1.1.1. Định nghĩa
Thuốc nhỏ mắt là những chế phẩm lỏng, có thể là dung dịch hoặc hỗn
dịch vô khuẩn có một hoặc nhiều dược chất, được nhỏ vào túi cùng kết
mạc với mục đích chuẩn đoán hoặc điều trị bệnh mắt. Thuốc nhỏ mắt có
thể được bào chế dưới dạng bột vô khuẩn và được pha chế với chất lỏng
vô khuẩn thích hợp ngay trước khi dùng [4], [1].
1.1.2. Ảnh hưởng các thành phần trong công thức đến độ ổn định của
dung dịch thuốc nhỏ mắt
1.1.2.1. ảnh hưởng của dược chất và dung môi
♦> Ảnh hưởng của dược chất
■ Dược chất dùng pha dung dịch thuốc nhỏ mắt phải có độ tinh khiết
cao.Sự không tinh khiết của dược chất do hai nguyên nhân (1) tạp
chất có lẫn với dược chất, (2) tạp được tạo ra trong qua trình sản
xuất và bảo quản và (3) các gốc tự do. Các ion kim loại nặng hay
gặp trong dược chất và được nhắc đến nhiều nhất vì chúng là tác
nhân xúc tác phản ứng oxy hoá dược chất dễ bị oxy hoá . Ví dụ:
sulíacetamid, dexamethason, natri phosphat [3], [36].
■ Một số tính chất vật lý của dược chất
• Dạng thù hình: dược chất tồn taị ở nhiều dạng thù hình khác nhau có chỉ
số độ ổn định và độ tan khác nhau [19]. Do vậy chúng ta phải chọn dược
chất có dạng thù hình thích hợp để đạt được độ ổn định cao nhất. Ví dụ:
dạng vô định hình dễ tan hơn dạng kết tinh, dạng khan dễ tan hơn dạng
ngậm nước [8], [1].
2
• Dược chất và muối của chúng: dược chất thường ở dạng muối liên
hợp, có một số dược chất tồn tại ở nhiều dạng muối liên hợp khác
nhau, mỗi một dạng muối có độ ổn định, độ tan khác nhau. Ví dụ

❖ Ảnh hưởng của dung môi
Dung môi dung trong dung dịch thuốc nhỏ mắt thường là nước cất, nhưng
nước cất là dung môi gây thuỷ phân nhiều dược chất trong thuốc nhỏ mắt,
để giảm thiểu thuỷ phân dược chất người ta dung hỗn hợp dung môi như
nước Cất-PEG 300, nước Cất-PG [5], [27]. Vì dụ dùng PEG 300, và PG để
hạn chế sự thuỷ phân của pilocarpin trong dung dịch thuốc nhỏ mắt [12].
Dầu thực vật cũng có thể được dung để pha chế thuốc nhỏ mắt. Dung môi
có ảnh hưởng trực tiếp đến độ ổn định của dược chất. Ví dụ nước cất có thể
không thích hợp cho những dược chất dễ bị thuỷ phân như tetracyclin, các
penicillin, và các polyme như PEG 400 do tính chất riêng của các polyme
có thể gây tương kỵ với nhiều dược chất [26].
1.1.2.2. Ảnh hưởng của chất thêm vào thành phần thuốc nhỏ mắt
❖ Ảnh hưởng của chất sát khuẩn
Đối với dung dịch thuốc nhỏ mắt được pha chế với mục đích dùng
nhiều lần, để hạn chế sự phát triển của vi khuẩn nhiễm vào trong quá
trình sử dụng người ta phải dùng chất sát khuẩn [1], [31], [10]. Có
một số trường hợp không thể dùng chất sát khuẩn cho dung dịch
thuốc nhỏ mắt [11].
Chất sát khuẩn dùng cho thuốc nhỏ mắt có ảnh hưởng đáng kể đến
độ ổn định của thuốc, chúng có thể gây tương kỵ với các thành phần
khác trong dung dịch thuốc vì thế phải nghiên cứu chọn chất sát
khuẩn thích hợp. Chất sát khuẩn hay được dùng là:
• Thimerosal tương kỵ với nhiều kim loại, tác nhân oxy hoá mạnh,
acid mạnh, base mạnh, dung dich NaCl, lecithin, phenyl thuỷ ngân,
4
các amin bấc bốn, thioglycolat, và các protein. Sự có mặt của natri
metasulfit, EDTA, có thể làm giảm hoạt tính kháng khuẩn của
thimerosal [11], [26].
• Các phenyl thuỷ ngân (phenyl thuỷ ngân nitrat, phenyl thuỷ ngân
acetat) khi có mặt natri thiosulfat, EDTA, natri metabisulfit có thể

b) Ảnh hưởng của pH của dung dịch
Dung dịch thuốc nhỏ mắt phải có pH gần với giá trị pH sinh lý của
nước mắt (pH=7.4) để làm giảm kích ứng mắt, tuy nhiên dung dịch
có pH từ 3.5 đến 10.5 có thể được dùng mà không gây khó chịu cho
người dùng, nhưng cũng phải chọn pH thích hợp để làm tăng độ ổn
định của thuốc cho từng dựơc chất [31], [3]. Ví dụ (1) dung dịch
norfloxacin ở pH=5.5 ổn định hơn dung dịch pH=5.0 và pH=4.5 [5],
(2) ofloxacin 0.3% ổn định nhất ở pH=6.0 và 6.4 [7], (3)
cloramphenicol bị phân huỷ nhanh ở pH kiềm [1], furosemid bị thuỷ
phân ở môi trường pH thấp [8].
c) Ảnh hưởng của nồng độ đệm
Nồng độ đệm cũng có ảnh hưởng đáng kể đến độ ổn định của thuốc, khi
nồng độ đệm càng cao dung lượng đệm cũng tăng lên nhưng có thể dẫn tới
tăng phản ứng tương tác thuốc [37]. Vì vậy chúng ta phải chọn nồng độ đệm
thích hợp để làm giảm lực ion hoá trong dung dịch và tăng độ ổn định của
dược chất. Ví dụ (1) dung dịch thuốc nhỏ mắt ofloxacin 0.3%, dược chất
khá bền ở nồng độ đêm acetat 0.05M [7], (2) norfloxacin khá bền ở đệm
acetat 0.05M [5].
♦> Ảnh hưởng của chất đẳng trương
Vì hàm lượng của dược chất dùng trong dung dịch thuốc nhỏ mắt
rất thấp nên thường là dung dịch nhược trương so với nước mắt. Khi
6
không có chất gây đẳng trương dẫn tới gây kích ứng mắt. Chất thêm
vào để đẳng trương hay dùng là NaCl, KC1, manitol, acid
boric Viêc lựa chọn chất đẳng trương phải không được gây tương
kỵ với các thành phần khác trong công thức thuốc và phải tính toán
hàm lượng đưa vào để không làm tăng lực ion trong dung dịch thuốc
[34] . Ví dụ người ta dùng acid boric để đẳng trương dung dich
thuốc nhỏ mắt có dược chất là ZnS04 mà không dùng NaCl để đẳng
trương để tránh tạo ra ZnCl2 kích ứng mắt [2].

dài hơn rõ rệt so với dung dịch có methylcellulose, và polyvinyl alcol [12].
❖ Ảnh hưởng của các chất hoạt động bê mặt
Người ta dùng chất diện hoạt để làm tăng sinh khả dụng của thuốc nhỏ mắt
và làm tăng độ tan của dược chất. Để pha chế hỗn dịnh thuốc nhỏ mắt
người ta dùng nó để gây thấm các tiểu phân dược chất [1], [10], [11]. Chất
diện hoạt hay dược dùng trong dung dịch thuốc nhỏ mắt như benzalkonium
clorid, benzethonium clorid, dioctyl natri sulfosuccinat, và đặc biệt hơn là
polysorbat 80 chúng thường có tương kỵ với một số dược chất vậy phải
lựa chọn chất thích hợp khi thiết kế công thức để làm sao hạn chế được các
tương tác có thể sẩy ra giữa chất diện hoạt và các thành phần khác trong
công thức. Ví dụ polyoxyethylen stearat không ổn định trong dung dịch
kiềm nóng, bị đổi mầu hoặc kết tủa khi có mặt các salicylat, dẫn chất
phenol [22]
1.1.3. Ảnh hưởng của bao bì đựng
Đây là một thành phần không thể thiếu trong chế phẩm thuốc nhỏ mắt. Nó
tiếp xúc trực tiếp với dung dịch thuốc nhỏ mắt, do vậy nó có ảnh hưởng
đáng kể đến độ ổn định của thuốc. Bao bì đựng có thể nhả ra các tạp chất lạ
8
vào trong dung dịch thuốc hoặc hấp phụ một số thành phần trong dung dịch
làm mất vai trò của chúng trong công thức như thimerosal, methylparaben
[26]. Bao bì có thể làm biến chất dược chất có thể quan sát được như vẩn
đục, đổi mầu Bao bì polyethylen không thể ngăn cản được ánh sáng do
vậy phải tránh ánh sáng đối với dược chất nhậy cảm với ánh sáng .
1.1.4. Ảnh hưởng của quy trình bào chế
> Hoà tan: Trình tự hoà tan các thành phần có ảnh hưởng rất lớn đến độ ổn
định của thuốc. Ví dụ hoà tan dược chất trước khi hoà tan các thành phần
khác có thể gây ra khả năng phân hủy thuốc cao hơn việc hoà tan dược chất
sau các thành phần khác đặc biệt là các đệm và chất chống oxy hoá.
> Tiết khuẩn
• Bằng nhiệt: Thường không thích hợp với một số dược chất không bền với

từ đó tính toán dự báo tuổi thọ của thuốc, và định lượng thiết kế công thức
thuốc, dùng một vùng khí hậu chung cho các nước (40°c±5°c,
75%±5%RH) trong thời gian 6 tháng . Với thuốc yêu cầu bảo quản ở tủ
lạnh thì điều kiện thử nghiệm cấp tốc là (25° c± 2° c, 60%± 5%), thời gian
thử là 6 tháng với 2 lô [3].
• Thử nghiệm khắc nghiệt thường dùng các yếu tố tác động phân huỷ thuốc
cao hơn so với thử nghiệm lão hoá cấp tốc [3].
Hai phương pháp thử nghiệm trên có thể không xẩy ra trong thực tế
nhưng có ý nghĩa cho biết các đặc tính độ ổn định của thuốc. Đối khi điều
kiện đó có thể sẩy ra trong quá trình vận chuyển và phân phối thuốc [3].
10
• Thử nghiệm dài hạn bảo quản thuốc trong điều kiện thực, thử nghiệm dài
hạn có ý nghĩa xác định chính xác tuổi thọ, thời hạn sử dụng của thuốc.
Thuốc phải bảo quản tủ lạnh (5° c± 3 °C), và thuốc phải bảo quản tủ đá (-20
°c ±5 °C) thời gian 12 tháng, dùng hai lô để thử nghiệm [3].
Để làm thực nghiệm theo dõi độ ổn định của thuốc, điều kiện bảo
quản còn phải thích hợp với những vùng khí hậu khác nhau:
> Vùng khí hậu I :vùng ôn đới 21°c, 45%RH, các nước thuộc vùng khí
hậu này như vương quốc Anh, bắc Âu, Canada, Nga
> Vùng khí hậu II : vùng cận nhiệt đới 25°c, 60%RH, các nước thuộc
vùng khí hậu này là Mỹ, Nhật bản, các nước nam  u
> Vùng khí hậu III: vùng sa mạc 30°c, 35%RH, gồm có các nước như
Iraq, Iran, Sudan
> Vùng khí hậu IV: vùng nhiệt đới 30°c, 70%RH, gồm có các nước như
Brazil, Ghana, Indonesia, Philippin
Các số liệu nhiệt độ, độ ẩm của các vùng khí hậu trên là số liệu qui ước dựa
trên độ ẩm và nhiệt độ động học trung bình tính theo phương trình
arrhenius [3], [35], sai số của phép thử với nhiệt độ là ±2°c, độ ẩm
là±5%RH.
■ Nghiên cứu thiết kế công thức: để thiết kế một công thức thuốc mới

đến độ an toàn, và độ ổn định của thuốc [3].
• Các chi tiêu cần đánh giá đối với từng dạng bào chế khi nghiên cứu độ
ổn định của thuốc: các dạng bào chế gồm có dạng viên nén, nang thuốc,
dung dịch uống, hỗn dịch uống, nhũ tương uống, bột, cốm pha hỗn dịch,
thuốc phun mù, thuốc nhỏ mắt, thuốc tiêm, thuốc tiêm đông khô, thuốc
đạn, thuốc mỡ có quy định cụ thể [3],[4], [35].
1.3. VÀI NÉT VỂ CLORAMPHENICOL
1.3.1. Cấu trúc hoá học:
Cloramphenicol là một kháng sinh được chiết xuất từ chủng xạ khuẩn
Streptomyces venezuelae, hiện nay nó được tổng hợp ra. Trong nguyên
liệu có chứa khoảng từ 98.0% đến 102.0% của C| |H 12C12N20 5 tính theo
chất chuẩn [13], có công thức cấu tạo :
C1
Tên khoa học
2,2-Dichloro-N- [(1 R,2R)-2-Hydroxy-1 -Hydroxymethyl-2-(4-
Nitrophenyl)ethyl] acetamide [13]
13
1.3.2. Tính chất
• Dạng kết tinh hình kim, hình đĩa, hay dạng bột kết tinh mầu trắng,
trắng xám hay trắng vàng rất ít tan trong nước, tan tốt trong alcol và
propylen glycol, ít tan trong ether [29], [15], [13].
• Dung dịch trong ethanol là dạng hữu tuyền [D], còn dung dịch trong
ethyl acetat là dạng tả tuyền [L]; [29], [13], [15].
• Cloramphenicol tan tốt ở pH kiềm nhưng nó cũng bị thuỷ phân rất
mạnh [1].
• Nhiệt độ nóng chảy 149 - 153°c.
• Dung dịch 2,5% trong nước có pH từ 4,5 đến 7,5 [29], [15].
1.3.3. Độ ổn định
1.3.3.1. Các phản ứng hoá học hay gặp của cloramphenicol trong
dung dich nước

bằng các phương pháp sau:
> Phương pháp đo nitrit với chỉ thị đo điện thế của cặp điện cực calomel-
platin.
> Xác định clorid.
> Phương pháp đo độ hấp thụ quang phổ ƯV.
> Sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC với các loại detector phù hợp [35].
> Phương pháp đlửn di mao quan vùng (CZE) [16].
> Phương pháp ELISA.
15
Trong số các phương pháp định lượng đã kể trên thì phương pháp HPLC là
phương pháp có tính chọn lọc cao hay được dùng để theo dõi độ ổn định
các dược chất trong các chế phẩm.
1.3.5. Tác dụng dược lý
Chloramphenicol có phổ kháng khuẩn rộng, cả trên gram (+) lẫn vi khuẩn
gram (-) và có tác dụng với Rickettsia, chlamydia (psittacosis), và
Mycoplasma. Đặc biệt có tác dụng với H. influenzae, Strep, pneumoniae,
Sal. typhi và loại Neisseria.
> Cơ chế tác dụng của cloramphenicol là thông qua việc ức chế tổng hợp
protein bằng cách gắn vào Ribosom 50S. Có bằng chứng cho thấy nó còn ức
chế tổng hợp protein ở người một cách nhanh chóng gây ra suy giảm chức
năng tuỷ sống.
Chủng có thể kháng lại cloramphenicol một cách tự nhiên và gặp phải
gồm có P. aeruginosa, Staphylococcus, và Interobacteria và đặc biệt là
Shigella, Salmonela, và Escherichia [38], [4], [9]
1.3.6. Chỉ định
Cloramphenicol dùng để điều trị bệnh nhiễm khuẩn nặng do chủng vi
khuẩn nhậy cảm với nó.
a) Điều trị bệnh thương hàn cấp gây ra do chủng s. ty phi, không dùng cho
dạng mãn tính, cloramphenicol không phải là thuốc lý tưởng nhất điều trị
bệnh thương hàn do nó gây ra nhiều tác dụng phụ và rất dễ gây tái phát,

1.3.8. Tương tác thuốc
Cloramphenicol ức chế enzym microsom gan và có thể cạnh tranh với
chuyển hoá của affentanil, clorpropamid, phénobarbital, phenytoin,
tolbutamid, warfarin và các thuốc chuyển hoá thông qua hệ thống microsom.
• Cloramphenicol kéo dài thời gian prothrombin với bệnh nhân dùng
thuốc chống đông.
• Cloramphenicol có thể gây chậm đáp ứng thuốc đối với bệnh nhân điều
trị thiếu máu.
• Trên in vitro, cloramphenicol ức chế hoạt tính kháng khuẩn của
penicillin, và các aminoglycosid. Ở in vivo thì ngược lại.
• Có bằng chứng về việc tăng ức chế dịch não tuỷ do dùng
cloramphenicol.
1.3.9. Tác dụng có hại
• Hệ tạo máu: thường nặng hoặc tử vong như là thiếu máu bất sản, chứng
giảm bạch cầu hạt
• Tiêu hoá: buồn nôn, nôn, ỉa chảy
• Hệ thần kinh TW: Đau đầu, trầm cảm nhẹ, mê sảng
• Thị lực và hệ thần kinh thực vật: Thường xảy ra sau một thời gian dùng
thuốc lâu dài.
• Mẫn cảm: mẩn ngứa, ban đỏ
• Hội chứng xám: có thể xảy ra ở trẻ sơ sinh.
• Có nhiều tranh cãi về sự liên quan giữa cloramphenicol với bệnh ung thư
bạch cầu cấp nhưng qua nghiên cứu thì kết quả ngược lại [33].
18
1.3.10. Các dạng bào chê có chứa cloramphenicol [35]
- Cloramphenicol viên nang
- Kem cloramphenicol
- Cloramphenicol thuốc mỡ tra mắt
- Cloramphenicol dung dịch thuốc nhỏ mắt
- Dung dịch uống cloramphenicol

3
Acid acetic,
methanol
Merck
Hoá chất dùng
cho HPLC
4
Thimerosal
Trung quốc
NF 19
5
Nước cất
tại chỗ
DĐVN III
6
Lo nhưa 5ml
Viêt Nam
Trong quá trình thực nghiệm các thiết bị đã được sử dụng gồm có
• Máy đo pH Mettler-Toledo.
• Máy đo quang phổ tử ngoại Helios Ỵ.
• Máy sắc ký lỏng hiệu năng cao : Thermo Finigan với hệ thống
bơm cao áp bốn bơm p 4000, hệ thống bơm mẫu tự động và ổn định
nhiệt độ cột AS 3000, detector UV 6000 LP. Cột HYPURITY C l8,
kích thước cột 150 X 4,6 mm, kích thước hạt 5|j.m. Hệ thống điều
hành với phần mềm Chrom Quest Vesion 2.51.
• Cân phân tích Satorius-BP 121S
• Màng lọc cellulose acetat với kích thước lỗ xốp 0,45 |j,m, và 0,22|im
20

Trích đoạn Sự liên quan giữa nồng độ cloramphenicol và diện tích pic
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status