Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến độ ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mắt Norfloxacin - Pdf 31

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Dược HÀ NỘI

CHU THỊ HẰNG

NGHIÊN CỨU MỘT số YẾU TỐ ẢNH HƯỎNG


ĐẾN ĐỘ■ ỔN ĐịNH
■ CỦA
DUNG DỊCH THUỐC NHỎ MAT NORFLOXACIN


KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Dược s ĩ ĐẠI HỌC KHOÁ 1997 -2002

Người hướng dẫn: TS Nguyễn Đăng Hoà
TS Nguyễn Văn Long
Nơi thực hiện:

Bộ Môn Bào Chế

Thòi gian thực hiện: 3/2002 - 5/200


LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn chân thành, em xin gửi lời cảm ơn đến : TS. Nguyễn
Đăng Hoà, TS. Nguyễn Văn Long, TS. Chu ihị I.ộc là những người
lliầy dã lận lình giúp ilữ em Irong suôi lliời gian học lập và Ihực lìiện
khoá luận.
Em cung xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo, các cô kỹ

Trang 1

PHẦN 1 : TỔNG QUAN

2

1.1

Đại cương về thuốc nhỏ mắt

2

/././.

Khái niệm

2

1.1.2.

Thanh phần

2

1.1.3.

Một số yếu tô ảnh hưởng đến độ ổn định cửa dung dịch

4


1.2.4.

Đuọc động học

1.2.5.

Chỉ định , liêu dùng, cáchdừng

11

1.2.6.

Chông chí định

12

1.2.7.

Tương tác thuốc

12

1.2.8.

Tác dụng khống mong muôn

12

1.2.9.



14

2.1.3.

Vỉ khuẩn kiểm định

14

2.2.

Phương pháp nghiên cứu

15

2.2.1.

Trình tự pha chế dung dịch thuốc nhỏ mắt Nor 0,3%

15

2.2.2.

Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của pH và chất tăng

16

độ nhớt đến độ tan của Nor trong dung dịch thuốc nhỏ
mắt 0,3%
2.2.3.


23

ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mắt Nor 0,3%
2.3.3.

Kết quả nghiên cứu thử tác dụng trên ỉn vitro của một số

37

công thức thuốc nhỏ mắt Nor 0.3%



PHẦN 3 : KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
3.1.

Kết luận

3.2.

Ý kiến đề xuất

39
39

/

TÀI LIỆU THAM KHẢO




PIIẦN 1 : TỔNG QUAN
1.1. ĐẠI CƯƠNG VỂ THUỐC NHỎ MẮT
1.1.1. Khái niệm
Thuốc nhỏ mắt là những chế vô khuẩn, có thể là dung dịch hay hỗn dịch có
chứa một hay nhiều dược chất, được nhỏ vào túi cùng kết mạc với mục đích chẩn
đoán hay điều trị bệnh ở mắt. Thuốc nhỏ mát cũng có thể được bào chế dưới dạng
bột vô khuẩn và được pha với chất lỏng vô khuẩn ngay trước khi dùng [6].
1.1.2. Thành phần
Một chế phẩm thuốc nhỏ mắt có độ ổn định cao trong quá trình bảo quản,
an toàn và có hiệu lực điều trị tốt, nhất thiết phải có bốn thành phẩn: Dược chất,
dung môi, các chất thêm vào trong công thức, bao bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc.
Thực chất của việc xây dựng một công thức thuốc nhỏ mắt là: Căn cứ trên
đặc tính của dược chất mà chọn dung môi, các thành phần khác và bao bì phù hợp
với dược chất để chế phẩm thuốc đạt yêu cầu chất lượng nêu trên.
1.1.2.1. Dược chất
Dược chất dùng pha thuốc nhỏ mắt phải có độ tinh khiết cao và nếu có thể
giống như dược chất pha thuốc tiêm, dược chất dùng cho thuốc nhỏ mắt gồm một
số nhóm: Kháng sinh, thuốc chống viêm, thuốc gây tê bề mặt, thuốc giãn đổng tử,
thuốc điều trị bệnh glaucom... [6].
1.1.2.2. Dung môi
Phần lớn các thuốc nhỏ mắt được pha với dung môi là nước cất. Nước cất
phải đạt yêu cầu kiểm định ghi trong dược điển về chuyên luận nước cất và phải
vô khuẩn. Ngoài ra, các hỗn hợp dung môi: Nước cất - PG hoặc nước cất - PEG
300 với tí lệ 70:30 cũng được dùng để pha chế thuốc nhỏ mắt nhằm tăng cường

2



Các chất làm tăng độ nhớt hay dùng cho thuốc nhỏ mắt là : Methyl
cellulose, hydroxypropylmethylcellulose (HPMC), alcol polyvinic (PVA)... Trong
đó, HPMC và PVA hay được dùng nhất với nồng độ tương ứng: 0,5% và 1,4%
[6].

Các chất diện hoạt:
Các chất diện hoạt thêm vào thuốc nhỏ mắt có tác dụng làm mất tính
nguyên vẹn của biểu mô giác mạc đồng thời giúp thuốc phân tán nhanh hơn vào
màng nước mắt, tiếp xúc tốt hơn với giác mạc, do đó làm dược chất được hấp thu
tốt hơn. Tuy nhiên, các chất diện hoạt đều có độc tính nhất định đối với mắt: Kích
ứng mắt, tổn thương giác mạc. Do đó, chỉ nên thêm chất diện hoạt vào thành phần
của thuốc nhỏ mắt với nồng độ thấp đủ để thực hiện chức năng mong muốn [6].
Các chất diện hoạt hay dùng cho thuốc nhỏ mắt là: Polysorbat 20, 80.
Ngoài ra, còn dùng benzalkonium clorid là chất vừa có tính hoạt động bề mặt vừa
là chất sát khuẩn [6].
1.1.2.4. Bao bì đựng thuốc nhỏ mắt
Bao bì đựng thuốc nhỏ mắt nhất thiết phải được kiểm tra chất lượng và phải
đạt yêu cầu giống như bao bì đựng thuốc tiêm mới được dùng để đóng thuốc. Bao
1bì đựng thuốc nhỏ mắt có thể là bao bì thuỷ linh, chất dẻo, cao su [6]. Hiện nay,
chất dẻo là polyethylen có tỷ trọng nhẹ hay được dùng. Tuy nhiên, chất dẻo này
không ngăn được ánh sáng truyền qua, do đó với những dược chất nhạy cảm với
ánh sáng thì phải đặt thêm lớp áo cản ánh sáng bên ngoài hoặc đặt lọ trong hộp
cát lông cứng có khả năng Iránh ánh sáng [10].
1.1.3. Một sô'yếu tố ảnh hưởng đến độ ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mắt
1.13.1. Khái niệm độ ổn định

4


Độ ổn định của thuốc là khả năng của thuốc (nguyên liệu hay thành phẩm)

ứng thuỷ phân hay oxy hoá dược chất [6].
+ Không chỉ pH mà dung lượng đệm phải đủ để duy trì được pH tại giá trị
mà thuốc ổn định. Vì pH của dung dịch có thể bị thay đổi do tác dụng kiềm hoá
của bao bì thuỷ tinh hoặc aciđ hoá của C02 từ không khí thấm qua bao bì chất
dẻo vào trong thuốc [16].
- Bao bì đựng thuốc nhỏ mắt có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của
thuốc, vì có thể xảy ra tương tác giữa các thành phần có trong thuốc với các thành
phần nhả ra từ bao bì trong quá trình bảo quản chế phẩm thuốc [6].
- Kỹ thuật bào chế cũng ảnh hưởng đến độ ổn định của thuốc nhỏ mắt, đặc
biệt là trình tự hoà tan. Ví dụ : Cloramphenicol sẽ bị phân huỷ nếu hoà tan vào
dung dịch natri borat (pH kiềm) ở nhiệt độ trên 60° c, nhưng nó lại bền vững nếu
hoà tan vào dung dịch đệm borat có pH khoảng 7. Kỹ thuật tiệt khuẩn chế phẩm
cũng ảnh hưởng đến độ ổn định của chế phẩm: Lọc loại khuẩn dược chất bền
vững hơn khi tiệt khuẩn bằng nồi hấp ở nhiệt độ 121° c [61.
1.1.3.3. tìiều kiện bảo quản
Các điều kiện khi bảo quản chế phẩm thuốc nhỏ mắt nlìir: Nhiệt độ, độ ẩm,
ánh sáng ... đều có tác động trực tiếp đến độ ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mắt
[21]. Do vậy, phải căn cứ vào từng chế phẩm cụ thể mà quy định điều kiện bảo
quản ihích hợp đổ đảm bảo tuổi thọ của lliiiốc.
1.1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến SKD của thuốc nhỏ mắt
1.1.4.1. Sinh khả dụng của thuốc nhỏ mắt
Các chế phẩm thuốc nhỏ mắi có thể được dùng với mục đích gây lác dụng
điều trị ngay trên bề mặt của mắt hoặc gây tác dụng điều trị ở các khoang bên
trong mắt. Trong trường hợp thứ hai dược chất phải được hấp thu qua giác mạc,

6


dược chất được hấp thu càng nhiều thì SKD càng cao. Nói chung SKD của thuốc
nhỏ mắt rất thấp, điển hình chỉ đạt khoảng 1% lượng dược chất có trong liều

với giác mạc lâu hơn, khả năng dược chất được hấp thu sẽ cao hơn [6].
p ỉl - dung lượng đệm:
+ Trước hết, pH ảnh hưởng tới sức chịu đựng của mắt. Nếu giá trị pH cỉia
‘ thuốc nhỏ mắt mà khác biệt quá lớn so với giá trị pH sinh lý là 7,4 sẽ gây kích
ứng mạnh khi nhỏ vào mắt.
+ pH có ảnh hưởng đến tính thấm của dược chất qua màng giác mạc: Phần
lớn dược chất dùng pha thuốc nhỏ mắt là muối của base yếu. Khi hoà tan thành
dung dịch, các dược chất này vừa có thể tồn lại ở dạng ion hoá (dạng muối), vừa
có thể tồn tại ở dạng không ion hoá (dụng base). Dạng không ion hơá dễ tan trong
lipid, do đó dễ thấm qua biểu mô giác mạc và được hấp thu tốt hơn dạng ion hoá
[6]. Tuy nhiên, các base yếu này lại tan tốt và có độ ổn định cao ở môi trường pH
acid [15]. Do đó, nên chọn giá trị pH thích hợp mà ở pH đó thuốc có độ ổn định
cao nhất và nếu cần có thể dùng hệ đệm để duy trì pH ở khoảng đó. Tuy nhiên,
dung lượng đệm phải chọn ở mức thấp nhất có thể, để nước mắt có thể nhanh
chóng đưa pH trở về pH sinh lý, để không hoặc ít kích ứng mắt, đồng thời cũng
nhanh chóng chuyển dược chất sang dạng không ion hoá (dạng base), dễ thâm
qua giác mạc [10].
Dung lượng đệm còn có ý nghĩa hơn là giá trị pH thực sự của dung dịch
thuốc đối với sự kích ứng [16].
Các chất khác: Các chất đẳng trương, các chất diện hoạt cũng ảnh hưởng đến
SKD của thuốc nhỏ mắt. Nếu dung dịch thuốc quá nhược trương hoặc quá ưu
trương đều có khả năng gây kích ứng mắt khi nhỏ, do đó làm giảm SKD của
thuốc [6].

8


1.2. VÀI NÉT VỂ NORFLOXACIN
1.2.1. Công thức hoá học [4]
Norĩloxacin là một kháng sinh tổng hợp nhóm quinolon thế hệ II có:


5.5

6

6.5

7

7.5

8

Hình 1: Đồ thị độ lan của noríloxacin theo pH của môi trường hoà tan

9


- Dung dịch norfloxacin trong nước có hấp phụ cực đại ở 278 nm [21].
1.2.3. Tác dụng dược lý
- Noríloxacin là một kháng sinh tổng hợp có phổ kháng khuẩn rộng: Có tác
dụng với hầu hết các vi khuẩn Gr(-) hiếu khí: Vi khuẩn đường ruột, trực khuẩn
mủ xanh ... và có tác dụng trên nhiều vi khuẩn Gr(+) hiếu khí: Cầu khuẩn tiết và
không tiết p lactamase, vi khuẩn kháng methicilin. Nói chung, tác dụng của
noríloxacin trên vi khuẩn Gr(+) kém hơn trên vi khuẩn Gr(-).
- Hầu hết vi khuẩn kỵ khí kháng norlloxacin .
- Noríloxacin không có tác dụng chống nấm, virus [13].
Cơ chế tác dụng: Noríloxacin có thể tác dụng theo một trong hai cơ chế sau:
- Úc chế men ADN gyrase: Mộl trong những men tham gia vào quá trình
tổng hợp acitl nhân của vi khuẩn.

5-10% dưới dạng chuyển hoá, 30% qua phân [13].
- T|/2= 2,3 - 4 giờ và có thể kéo dài ở người suy giảm chức năng thận.
- Độ thanh thải ClNor = 234 - 296 ml/phút [13].

1.2.5.

Chỉ định - liều dùng - cách dùng
- Nhiễm khuẩn đường niệu do các vi khuẩn nhạy cảm với thuốc gây ra:

Uống 400mg/lần X2 lán/ngày. Trường hợp không có biến chứng : Uống 3 ngày,
trường hợp có biến chứng: Uống 10-21 ngày [4].
- Bệnh lậu hoặc viêm niệu đạo do lậu: Uống liều đơn 800mg [4], [13].
- Nhiễm khuẩn đường ruột: Uống 400mg/lần X2 lần/ngày X5 ngày [4].
Cách dùng: Uống 1 giờ trước khi ăn hoặc 2 giờ sau khi ăn; nên uống với
nhiều nước.

11


- Điều trị viêm kết mạc gây ra bởi vi khuẩn nhạy cảm : Nhỏ mắt dung dich
0,3%, 1-2 giọt/lần X 4 lần/ngày X7 ngày [11].

1.2.6. Chống chỉ định
- Phụ nữ có thai 3 tháng đầu, tháng cuối, phụ nữ đang cho con bú. Người bị
động kinh hoặc tiền sử co giật. Người bị dị ứng với quinolon [4].
- Người thiếu men G6PD. Trẻ em dưới 17 tuổi. Người có tiền sử bệnh gân
do quinolon [3].
- Thận trọng với người suy gan, thận nặng và khi dùng cùng thuốc kháng
vitamin K [7].
1.2.7. Tương tác thuốc

tiêm truyền. Do đó, không tiêm tĩnh mạch, tiêm truyền [7].
Khi nhỏ mắt có thể gặp tác dụng phụ: Kích ứng mắt, đỏ mắt, rát mắt, vị
đắng sau khi nhỏ, nhạy cảm ánh sáng [11].
1.2.9. Phương pháp định lượng
Người ta có thể định lượng norfloxacin trong các chế phẩm bằng nhiều
phương pháp khác nhau :
- Phương pháp môi tnrờng khan: Định lượng bằng acid percloric trong môi
trường acid acetic khan [21].
- Phương pháp HPLC: Pha động: Phosphoric acid: acetonitril = 85: 15 với
cột chứa chất Ll, có kích thước 3,9 mm X 30 cm với detector ƯV đặt ở bước sóng
278 nm [21].
1.2.10. Một số dạng thuốc chứa norỷĩoxacin
- Viên nén 200mg, 400mg, viên nang 400mg. [8]
- Dung dịch thuốc nhỏ mắt 0,3%: Biệt dược Chibroxin: Đệm acetat với chất
bảo quản benzalkonium clorid phối hợp với natri edetat, dung dịch có pH khoảng
5,2; có áp suất thẩm thấu 285 mosm/1 [13].

13


PHẦN 2 : THỰC iNGHIỆM VÀ KẾT QUẢ.
2.1. HOÁ CHẤT, THIẾT BỊ
2.1.1. Hoá chất, dung môi
- Noríloxacin (Trung Quốc) đạt tiêu chuẩn BP 1995.
- Acid boric, acid citric, thimerosal, PEG 400, PG... là các hoá
chất dược dụng.
- Natri dihydro phosphat, dinatri hydro phosphat... là các hoá
chất tinh khiết.
- Acid acetic, acetonitril loại tinh khiết dùng cho HPLC.
2.1.2. Thiết bị, máy móc


Natri edetat

50 mg

Natri acetat 0,1M và acid hydrocloric 0,1M vđ pH = 5,2
Natri clorid vđ

đẳng trương

Nước cất

100 ml



Tất cả các CT thuốc nhỏ mắt norAoxacin 0,3% được pha chế theo trình
tự các bước như ghi trong sơ đồ dưới đây:
Pha hệ đệm và điều chỉnh pH để hoà tan dược chất


Hoà tan natri edetat, natri clorid, benzalkonium clorid....
,
J
Hoà
tan noríloxacin

...... ........1 ......................
Điều chỉnh thể tích vừa đủ theo công thức
.......... ................... 1 ................. "

+ Mẫu trắng: Nước cất.
+ Tính kết quả theo công thức sau:

16


Trong đó:

Ct là nồng độ của mẫu đem định lượng
Cch là nồng độ của mẫu chuẩn
Dt là mật độ quang của mẫu thử
Dch là mật độ quang của mẫu chuẩn
a là hệ số pha loãng

- Đánh giá ảnh hưởng của chất làm tăng độ nhớt đến khả năng
duy trì độ tan của norfloxacin khi đưa pH của các dung dịch này về 7.4
(xấp xỉ pH nước mắt) bằng cách thêm natri hidroxid (xác định bằna pH
mét). Lọc các dung dịch qua màng 0,45|im. Định lượng lại hàm lượng
noríloxacin trong dịch lọc bằng phưong pháp nêu trên và so sánh với
hàm lượng noríloxacin trong dung dịch khi chưa điều chỉnh pH về 7,4.
Từ đó đánh giá được khả năng duy trì độ tan của dược chất.
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến độ
ổn định của dung dịch thuốc nhỏ mắt norýĩoxacin 0,3%
2.2.3.1. Ảnh hưởng của ánh sáng
Pha dung dịch thuốc nhỏ mắt noríloxacin 0,3% có thành phần
như CT*, sau đó chia làm 4 nhóm và để ở các điều kiện sau:
- Treo ngoài cửa sổ, có bọc giấy tránh ánh sáng
- Treo ngoài cửa sổ, không bọc giấy ttánh ánh sáng
- Để ở trong phòng, có bọc giấy tránh ánh sáng
- Để ở trong phòng, không bọc giấy tránh ánh sáng


M M IM 1 1
0

2

1

/

4


V.__

i H!
6

Minutes

8



Hình 2: sắc ký đồ tách noríloxacin bằng HPLC

18

I


19


Pha dung dịch thuốc nhỏ mắt noríloxacin 0,3% có thành phần
như CT* nhưng có thêm các chất làm tăng độ nhớt khác nhau với nồng
độ khác nhau: PVA 0,25%, PVA 0,5%, HPMC 0,2%, HPMC 0,1%.
2.2.3.5. Ảnh hưởng của chất sát khuẩn
Pha dung dịch thuốc nhỏ mắt noríloxacin 0,3% có thành phần
như CT* nhưng thay đổi chất sát khuẩn là benzalkonium clorid 0,01%
hoặc thimerosal 0,01%.
2.2.3.6. Ảnh hưởng của chất chống oxy hoá
Pha dung dịch thuốc nhỏ mắt noríloxacin 0,3% có thành phần
như CT* nhưng có thêm chất chống oxy hoá natri metabisulíit với
nồng độ 0,3%.
Các mẫu thuốc nghiên cứu ở mục 2 2 3 2 , 2.2.3.3, 2.2.3.4,
2.2.3.5, sau khi pha chế sẽ được bảo quản ở các điều kiện:
- Treo ngoài cửa sổ
- Để ở điều kiện phòng
- Để ờ 50°c (trong tủ vi khí hậu)
Sau 2 tuần (đối với các mẫu thuốc treo ngoài cửa sổ) và 2 tháng
(với các mẫu khác), tiến hành đánh giá độ ổn định của thuốc như đã
nêu ở mục 2.2.3.1.
2.2.4. Phương pháp thử in vitro của một số công thức thuốc nhỏ mất
norfloxacỉn 0,3% trên vi khuẩn gây bệnh
Để đánh giá hoạt tính của các công thức thuốc khác nhau, chúng
tôi tiến hành xác định nồng độ ức chế tối thiểu trên 2 chủng vi khuẩn
kiểm định là: Staphylococcus aureus ATCC 12228 và Pseudomonas

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status