BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
DƯƠNG THỊ LOAN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN TÍNH KHÁNG THUỐC CỦA
VI KHUẨN MYCOBACTERIUM TUBERCULOSIS
TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Chuyên ngành: VI SINH VẬT HỌC
Mã số: 62 42 01 07 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VI SINH VẬT HỌC Cần Thơ 2015 Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. TRẦN NHÂN DŨNG
2. PGS.TS. TRẦN NGỌC DUNG
Phản biện 1:
Phản biện 2:
vi khuẩn lao. Ngoài ra, cũng theo WHO lao kháng thuốc đã xuất hiện
với mức độ khá cao trên những bệnh nhân mắc hội chứng suy giảm
miễn dịch mắc phải (HIV/AIDS); ở những bệnh nhân này, có sự
giảm thiểu về số lượng và chất lượng tế bào lympho T giúp đỡ (Th:
T helper) là tế bào miễn dịch đóng vai trò chính trong việc điều hòa
đáp ứng miễn dịch của cơ thể, dẫn đến tình trạng cơ thể chống lại với
vi khuẩn lao không hiệu quả và tạo điều kiện thuận lợi cho tính
kháng thuốc của vi khuẩn lao phát triển. Từ các giả thuyết nghiên
cứu trên, đề tài được thực hiện nhằm các mục tiêu sau:
2
- Xác định tỷ lệ kháng thuốc ở bệnh nhân lao phổi tái trị tại
thành phố Cần Thơ.
- Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến tính kháng thuốc của
vi khuẩn lao qua việc khảo sát (i) Các kiểu gen đột biến kháng thuốc
RMP của vi khuẩn lao. (ii) Nồng độ thuốc chống lao RMP trong
huyết tương của bệnh nhân lao phổi tái điều trị (so sánh với bệnh
nhân lao phổi mới). (iii) Số lượng các tế bào miễn dịch trong máu
bệnh nhân lao phổi đa kháng thuốc (so sánh với bệnh nhân lao phổi
mới và nhóm đối chứng).
Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã cung cấp những số liệu cụ thể góp phần làm rõ
tình hình dịch tễ bệnh lao kháng thuốc, đặc biệt là dịch tễ học phân
tử của lao phổi đa kháng thuốc tại TP Cần Thơ. Ngoài ra, đề tài cũng
cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho những giả thuyết về sinh
bệnh học kháng thuốc của vi khuẩn lao với kết quả cho thấy tỷ lệ
kháng thuốc của vi khuẩn lao ở bệnh nhân tái trị tại TP Cần Thơ cao
hơn so với kết quả đã được chương trình chống lao Quốc gia công
bố.
Kết quả nghiên cứu cũng cung cấp số liệu về tần suất và kiểu
Bulgaria, Trung Quốc, Cộng hòa dân chủ Công Gô, Estonia,
Ethiopia, Georgia, Ấn Độ, Indonesia, Kazakhstan, Kyrgyzstan,
Latvia, Lithuania, Miến Điện, Nigeria, Pakistan, Philippines, Cộng
hòa Moldova, Liên bang Nga, Nam Phi, Tajikistan, Ukraine,
Uzbekistan và Việt Nam (WHO, 2009).
Tỷ lệ kháng thuốc trong các trường hợp đã được điều trị: + Tỷ
lệ kháng thuốc chống lao chung: Thủ đô Baku thuộc Azerbaijan, có
tỉ lệ 84,4% (95% CLs, 76,9-92,4) và Tashkent, Uzbekistan chiếm
85,9% (95% CLs, 76,6-92,5). Việt Nam là 1 trong số 16 quốc gia
4
thuộc nhóm có tỉ lệ kháng chung trên 50% ở nhóm bệnh nhân lao
phổi tái điều trị. +Tỷ lệ mắc lao đa kháng: Thủ đô Baku thuộc
Azerbaijan có tỉ lệ 55,8% (95% CLs, 49,7-62,4) và Tashkent,
Uzbekistan chiếm 60,0% (95% CLs, 48,8-70,5), Estonia 52,1% (95%
CLs, 39,9-55,8), Việt Nam thuộc trong nhóm này với tỉ lệ 19%
(WHO, 2008).
2.2. Cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn lao
Theo WHO, hiện nay tình trạng vi khuẩn lao kháng thuốc
đang là mối lo ngại trên toàn cầu, vi khuẩn lao kháng lại các thuốc
chống lao theo nhiều cơ chế khác nhau:
Cơ chế kháng thuốc chung là một đặc tính của một loài
nguyên vẹn hoặc do đột biến gen mắc phải hoặc do vận chuyển gen.
Gen kháng thuốc mã hoá thông tin, từ đó vi sinh vật sử dụng để
chống lại hiệu lực ức chế đặc hiệu của kháng sinh theo các cơ chế
sau đây: Làm giảm tính thấm của màng bào tương, làm thay đổi đích
tác động của kháng sinh (thay đổi cấu trúc của phân tử mà kháng
sinh tác động), tạo ra các bơm (efflux) có tác dụng bơm tích cực
kháng sinh ra khỏi tế bào, tạo ra enzym (do gen đề kháng tạo ra) có
thể làm biến đổi hoặc phá huỷ cấu trúc hoá học của phân tử kháng
thì các kháng thể đã gắn sẵn chất màu huỳnh quang trong thuốc thử
sẽ gắn kết đặc hiệu với các kháng nguyên đặc hiệu tế bào có trên bề
mặt tế bào bạch cầu. Trong quá trình tiếp nhận, các tế bào này đi qua
nguồn sáng phát ra và phân tán các tia laser. Các tế bào đã được gắn
kết đặc hiệu này sẽ phát quang, những tín hiệu phân tán và phát
huỳnh quang được phát hiện bởi một bộ phận đọc và nhận biết thông
tin về kích thước của các tế bào, tính phức tạp trong tế bào và cường
độ huỳnh quang phát ra tương ứng.
6
Chương 3. Nội dung nghiên cứu
3.1 Xác định tỷ lệ kháng thuốc ở bệnh nhân lao phổi tái trị tại
thành phố Cần Thơ
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu: bệnh nhân đã được chẩn đoán xác định
đang mắc lao phổi tái điều trị tại bệnh viện Lao và Bệnh phổi thành
phố Cần Thơ và mẫu đàm của bệnh nhân.
3.1.2 Phương pháp nghiên cứu
-Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang.
-Cỡ mẫu, cách chọn mẫu
+Áp dụng công thức tính cỡ mẫu Trong đó:
Z: hệ số tin cậy với α=0,05 thì Z
0,975
=1,96
p: tỷ lệ lao đa kháng thuốc là 19% (Theo WHO tỷ lệ lao đa
kháng thuốc ở nhóm bệnh nhân lao phổi tái trị của Việt Nam
là 19%).
40 chủng vi khuẩn lao đa kháng thuốc (kháng với 2 thuốc RMP và
INH) được chọn từ 42 chủng vi khuẩn lao đã được nuôi cấy và có kết
quả kháng sinh đồ với 5 loại thuốc chống lao hàng 1 cùng với 2
chủng vi khuẩn lao còn nhạy với thuốc RMP.
3.2.1.3 Cách tiến hành nghiên cứu: - Thu nhận mẫu đàm, nuôi cấy
trên môi trường lỏng - Định danh vi khuẩn lao - Nuôi cấy trên môi
trường đặc - Thực hiện kháng sinh đồ - Tách chiết ADN từ vi khuẩn
lao - Dùng ADN đã tách chiết để làm khuôn cho phản ứng PCR có
chiều dài 411bp, nhằm khuếch đại đoạn ADN có chứa 81bp của gen
rpoB hay còn gọi là vùng kháng rifampicin (RRDR: rifampicin
resistance determining region) với cặp mồi đặc hiệu: rpoB-F: TAC
8
GGT CGG CGA GCT GAT CC; rpoB-R: TAC GGC GTT TCG
ATG AAC C. - Phản ứng PCR được thực hiện với các thành phần
PCR mix và các chu kỳ nhiệt được cài đặt theo Yuen L. K. W. et al,
(1999) - Tinh sạch sản phẩm PCR - sử dụng mồi xuôi để giải trình tự
và mẫu được gửi cho công ty Macrogen của Hàn quốc thực hiện giải
trình tự.
3.2.1.4 Phương pháp xử lý số liệu: sử dụng phần mềm Mega 5.0 và
BioEdit: 7.0.5.3 để phân tích và so sánh với dữ liệu trên ngân hàng
gen: GeneBank database (accession no. L27989) (Yuen L. K. W. et
al. 1999).
3.2.2 Nồng độ thuốc chống lao RMP trong huyết tương của bệnh
nhân lao phổi tái trị (so sánh với nhóm bệnh nhân lao phổi mới)
3.2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: là những bệnh nhân lao phổi tái điều
trị và lao phổi mới mắc, được quản lý và theo dõi điều trị tại Bệnh
viện Lao và Bệnh phổi Cần Thơ.
3.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang với cỡ mẫu bao gồm 75
được chống đông đem nhuộm với kháng thể đặc hiệu trong vòng 24
giờ, phân tích bằng máy đếm dòng chảy tế bào (flow-cytometer)
trong vòng 6 giờ tiếp theo.
3.2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm BD
FACSCanto và phần mềm thống kê SPSS 18.0 để xử lý số liệu
Chương 4. Kết quả và thảo luận
4.1 Tỷ lệ kháng thuốc ở bệnh nhân lao phổi tái trị tại thành phố Cần
Thơ
4.1.1 Tỷ lệ kháng thuốc chung của vi khuẩn lao
Tỷ lệ bệnh nhân mắc lao phổi kháng thuốc chung tại thành phố
Cần Thơ là 63,8% (157/246 bệnh nhân).
10
4.1.2 Tỷ lệ các loại kháng thuốc của vi khuẩn lao
a. Tỷ lệ lao phổi đa kháng thuốc ở bệnh nhân nghiên cứu: kết
quả nghiên cứu cho thấy có 57/246 bệnh nhân mắc lao phổi đa kháng
thuốc (MDR-TB), chiếm tỷ lệ là 23,2%.
b. Tỷ lệ kháng đơn thuốc ở bệnh nhân nghiên cứu: kết quả về các
loại kháng đơn thuốc của vi khuẩn lao, lần lượt như sau: kháng với
thuốc streptomycin chiếm tỷ lệ 52,4% (129/246), kế đến là isoniazid
chiếm 47,2% (116/246), Kháng rifampicin chiếm 25,2% (62/246);
Kháng ethambutol chiếm 11,8% (29/246), Kháng pyrazinamid là
9,8% (24/246 bệnh nhân).
c. Tỷ lệ kháng thuốc chống lao kết hợp: kết quả cho thấy chiếm
cao nhất là tỷ lệ bệnh nhân kháng chỉ 1 loại thuốc 21,5% (53/246);
kế đó lần lượt là kháng kết hợp 2 loại thuốc 17,1% (42/246); kháng
kết hợp 3 loại thuốc là 13,4% (33/246); kháng kết hợp 4 loại thuốc là
8,5% (21/246) và kháng cả 5 loại thuốc chống lao là 3,3% (8/246).
4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tính kháng thuốc của vi khuẩn lao
nghiên cứu
TTG
Glutamine Leucine
Glutamine Leucine
2 5
516 GAC GTC
GCC
Aspartic acid Valine
Aspartic acid Alanine
2
2
5
5
517 CAG AAG Glutamine Glycine 1 2,5
518 AAC ACC Asparagine Threonine 1 2,5
519 AAC AGC Asparagine Serine 1 2,5
522 TCG GCC Serine Alanine 1 2,5
523 GGG GTG Glycine Valine 7 17,5
531 TCG TTG
TGT
AAC
Serine Leucine
Serine Cysteine
Serine Asparagine
8
2
1
20,0
5
2,5
532 GCG CCG Alanine Proline 1 2,5
AAT – Asp; codon 520 thay đổi từ CCG - Pro CCC – Pro; codon
521 thay đổi từ CTG - Leu TTG – leu; codon 523 thay đổi từ
GGG - Gly GGT – Gly và codon 532 thay đổi từ GCG - Ala
GCC - Ala.
Nghiên cứu của chúng tôi còn ghi nhận có 25% (10/40)
chủng vi khuẩn lao, tuy đã xác định có hiện tượng kháng thuốc
rifampicin từ kết quả kháng sinh đồ, nhưng không thấy có đột biến
xảy ra tại vùng RRDR (81bp) của gen rpoB.
4.2.1.4 Tần suất đột biến và số codon có đột biến ở các chủng vi
khuẩn lao phổi đa kháng thuốc tại thành phố Cần Thơ
-Tần suất và kiểu đột biến tại 1 codon của vi khuẩn: có 15/40
chủng vi khuẩn đột biến chỉ xảy ra ở 1 codon, chiếm 37,5%; trong
đó, ở các codon 507, 512, 516, 523, 532, 533, mỗi codon có 1 chủng
vi khuẩn có đột biến (2,5%). Tại codon 512 có 1/40 chủng vi khuẩn
(2,5%) mang đột biến thay thế nucleotid nhưng không gây thay đổi
13
acid amin; trong khi tại codon 531, có 8/40 (20%) chủng vi khuẩn
mang đột biến với hai kiểu thay thế nucleotid dẫn đến thay đổi 2 loại
acid amin, đó là TCG - Ser TTG - Leu (15%) và TCG – Ser
TGT – Cys (5%) và codon 533 đột biến với hai kiểu thay thế base
dẫn đến thay đổi acid amin là CTG - Leu CGG – Arg (1 chủng
VK, 2,5%) và CTG - Leu CCG – Pro (1 chủng VK, 2,5%).
-Tần suất và kiểu đột biến tại 2 codon của vi khuẩn: kết quả
nghiên cứu cho thấy có 4/40 chủng vi khuẩn lao có đột biến xảy ra
trên 2 codon với tần suất 2,5% (1/40); kiểu đột biến của vi khuẩn cụ
thể là:
+ Tại codon 516 : Asp Val và codon 533 : Leu Arg
+ Tại codon 512: Ser Ser và codon 513: Gln Gln
+ Tại codon 531 : Ser Leu và codon 533 : Leu Pro
b + 0 + + + 0 0 + 0 + + 0 0
c 0 0 0 + + 0 0 0 0 0 + 0 +
d
*
0 0 0 + + 0 0 0 0 0 + 0 +
d
**
0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 + 0 0
d
***
0 0 0 0 + 0 0 0 0 0 + 0 0
d
****
0 0 0 0 + 0 0 0 0 0 + 0 +
e + 0 + + + 0 + 0 + 0 + 0 +
f 0 0 + 0 + 0 0 0 + 0 + 0 +
g 0 0 0 + + 0 + 0 + 0 + 0 0
h 0 0 + + + 0 0 0 0 0 + 0 +
I 0 0 0 0 + 0 0 0 0 0 + 0 0
j 0 0 + + 0 del del 0 + 0 + 0 0
k 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 + 0 +
l 0 0 0 0 + 0 0 0 0 0 + 0 0
m 0 0 + 0 + 0 0 0 + 0 + 0 +
n 0 0 0 0 + 0 0 0 + 0 + 0 +
1.Cần Thơ (n=40); a. Úc (n=33) (Yuen et al, 1999); b.Brazil (n=82) (Valim
et al, 2000); c. Brazil và Pháp (n=32) (Miranda et al, 2001); d
biến xảy ra tại codon 531 chiếm tỷ lệ 100%.
Tóm lại, kết quả giải trình tự tìm đột biến gen rpoB trên 40
chủng vi khuẩn lao đa kháng thuốc của bệnh nhân tại thành phố Cần
Thơ đã cho thấy có sự khác biệt rất lớn về tần suất đột biến, về vị trí
của các codon bị đột biến và về các kiểu đột biến xảy ra trên vùng
RRDR chứa 81bp của gen rpoB giữa các nghiên cứu từ các nơi khác
nhau ở trong và ngoài nước.
Điều này gợi ý rằng kiểu đột biến gen kháng thuốc thay đổi
theo vùng địa lý, vì vậy cần có các nghiên cứu cụ thể cho từng vùng
miền, để có cái nhìn đúng đắn hơn về vi khuẩn lao kháng thuốc tại
địa phương, cũng như có cơ sở khoa học cho việc xây dựng các
phương pháp chẩn đoán nhanh lao phổi kháng thuốc RMP cho từng
vùng miền cụ thể.
4.2.2 Sự giảm nồng độ thuốc chống lao RMP trong huyết
tương của bệnh nhân lao phổi tái trị so sánh với nhóm bệnh
nhân lao phổi mới
16
4.2.2.1 Liều điều trị RMP của bệnh nhân nghiên cứu
- Nhóm bệnh nhân lao phổi mới (n=40), liều điều trị thuốc
RMP trung bình của bệnh nhân tính theo cân nặng là
9,510,99mg/kg. - Nhóm bệnh nhân lao phổi tái trị (n=35), liều điều
trị thuốc RMP trung bình của bệnh nhân tính theo cân nặng là
9,420,82mg/kg. Tất cả các bệnh nhân của 2 nhóm đều được dùng
liều điều trị RMP nằm trong giới hạn khuyến cáo của Chương trình
chống lao Quốc gia.
4.2.2.2 Nồng độ thuốc RMP trung bình huyết tương ở thời điểm
2 và 3 giờ sau uống thuốc của 2 nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Bảng 4.20 Nồng độ RMP trung bình huyết tương ở cả 2 thời điểm
Nồng độ
0,00–21,38 0,00–47,99 0,00–15,88 0,00–18,06
p 0,345 0,015
Tại Bảng 4.20 kết quả nghiên cứu cho thấy: - Nhóm bệnh
nhân lao phổi mới: ở thời điểm 2 giờ sau uống thuốc nồng độ RMP
trung bình trong huyết tương là 3,41±4,46µg/ml, thấp hơn so với ở
thời điểm 3 giờ là 4,94±8,7µg/ml với p >0,05, (Z = -0,927; p =
0,345). Bảng 4.20 cũng cho thấy ở nhóm bệnh nhân mắc lao phổi tái
trị, nồng độ RMP trung bình ở thời điểm 2 giờ là rất thấp
(2,673,32µg/ml), ở thời điểm 3 giờ là 4,235,21µg/ml, sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê với p <0,05 (Z = - 2,424, p = 0,015).
17
4.2.2.5 Nồng độ RMP tối đa trong huyết tương (Cmax) ở 2 nhóm
bệnh nhân nghiên cứu
Bảng 4.21 Nồng độ RMP tối đa trong huyết tương ở 2 nhóm bệnh
nhân nghiên cứu
- Từ kết quả nồng độ thuốc RMP của 2 thời điểm là 2 giờ và
3 giờ chúng tôi lấy giá trị cao nhất để xác định nồng độ thuốc tối đa
trong huyết tương (gọi là Cmax) đây là chỉ số rất quan trọng với
thuốc RMP trong thực hành điều trị. RMP là thuốc chống lao thuộc
nhóm kháng sinh diệt khuẩn phụ thuộc nồng độ, vì vậy chỉ cần uống
1 lần trong ngày và Cmax cần đạt phạm vi điều trị là từ 8-24 µg/ml,
nếu nồng độ thấp hơn 6µg/ml thì nguy cơ tái phát bệnh lao có thể
xảy ra (Peloquin C.A., 2002). -Trong nhóm lao phổi mới, nồng độ
thuốc RMP tối đa trong huyết tương (Cmax) là 5,958,6g/ml; thấp
hơn so với nồng độ khuyến cáo (8-24g/ml). -Trong nhóm lao phổi
tái trị, Cmax RMP cũng được đánh giá và kết quả bảng 4.21 cho thấy
giá trị Cmax RMP trung bình là 4,46±5,09g/ml, rất thấp so với
nồng độ RMP ở phạm vi điều trị.
(tb/mm
3
)
Số lượng trung bình p
Bệnh nhân lao phổi
mới (n=31)
Bệnh nhân
lao phổi
đa kháng
(n=32)
Nhóm đối
chứng
(n=33)
BC chung 9.129±3.116 9.709±2.341
b
7.621±2.351
b
b=0,005
Lympho 3.251±999
a,c
2.056±692
a
2.545±771
c
a=0,0001
(3.251±999 tế bào/mm
3
), thấp ở nhóm lao phổi đa kháng thuốc
(2.056±692 tế bào/mm
3
) so với nhóm chứng người bình thường
(2.545±771 tế bào/mm
3
) có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
- Số lượng bạch cầu mono: cao nhất ở nhóm lao phổi đa kháng
thuốc (793±269 tế bào/mm
3
), thấp nhất ở nhóm lao phổi mới
(590±225 tế bào/mm
3
) so với nhóm người chứng bình thường
(603±281 tế bào/mm
3
), có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
4.2.3.2 Số lượng tế bào lympho T chung (CD3
+
) và các dưới
nhóm lympho Th (CD4
+
), Tc (CD8
+
) của nhóm nghiên cứu:
- Số lượng tế bào lympho T chung (dấu ấn CD3
+
)
599±260
b
499±490
1.701±619
b926±421
b
687±360
a=0,045
b=0,001
b=0,002
p>0,05
Chú thích: a: giữa nhóm lao phổi mới và nhóm lao phổi đa kháng; b: giữa
nhóm lao phổi đa kháng và nhóm đối chứng.
Số lượng tế bào lympho T chung trung bình thấp ở nhóm lao
phổi mới (1.530±651 tế bào/µl) và thấp nhất ở nhóm lao phổi đa
kháng thuốc (1.138±617 tế bào/µl) so với nhóm đối chứng
(1.701±619 tế bào/µl). So sánh giữa các nhóm cho thấy có sự khác
biệt (p<0,05).
- Số lượng tế bào dưới nhóm T giúp đỡ (T
h
– dấu ấn CD4
+
): ở
nhóm lao phổi đa kháng thuốc có số lượng T
)
Bảng 4.31 Số lượng trung bình của tế bào diệt tự nhiên (NK)
Tế bào
(tế
bào/µl)
Số lượng trung bình
p
Nhóm lao phổi
mới (n=31)
Nhóm lao phổi đa
kháng (n=32)
Nhóm đối
chứng (n=33)
Tế bào
NK
487±230
a
343±188
a
419±184 a=0,017
Chú thích: a: giữa lao phổi mới và lao phổi đa kháng thuốc.
Tại Bảng 4.31 cho thấy số lượng tế bào NK trung bình cao
nhất ở nhóm lao phổi mới và thấp nhất ở nhóm lao phổi đa kháng so
với nhóm đối chứng (p<0,05).
4.2.3.4 Mối liên quan giữa số lượng một số tế bào miễn dịch với
tình trạng kháng thuốc của bệnh nhân lao phổi nghiên cứu:
nhằm chứng minh sự ảnh hưởng của sự giảm số lượng các tế bào
miễn dich đến tình trạng kháng thuốc, chúng tôi sử dụng phép phân
trạng kháng thuốc (r= 0,34; p=0,001) có nghĩa tăng số lượng mono
trong máu ngoại vi thì làm tăng tình trạng kháng thuốc.
Tương quan giữa số lượng một số tế bào miễn dịch này với
mức độ hoạt động của bệnh cho thấy chúng có thể là những dấu ấn
góp phần vào tiên lượng bệnh. Phối hợp sử dụng phép phân tích
tương quan đa biến hồi quy logistic để tìm tương quan giữa số lượng
của một số tế bào miễn dịch với tình trạng kháng thuốc của bệnh lao
phổi đa kháng thuốc
Bảng 4.33 Phân tích tương quan đa biến giữa số lượng một số bạch
cầu trong máu ngoại vi với tình trạng kháng thuốc
Yếu tố tương quan F p
1. T
h
(CD4
+
) 10,384 0,002
2. T
h
(CD4
+
), T
c
(CD8
+
) 5,982 0,004
3. T
h
(CD4
+
), T
- Trong mô hình có 4 yếu tố phối hợp T CD4
+
, T CD8
+
, NK
và mono, số lượng tế bào T CD4
+
, T CD8
+
và NK càng giảm cùng
với tăng số lượng mono càng làm tăng tình trạng kháng thuốc của
bệnh lao phổi, sự tương quan rất chặt chẽ với p=0,0001.
- Kết quả phân tích đa biến hồi quy logistic ở Bảng 4.33 cho
thấy, số lượng tế bào T CD4
+
càng giảm trong máu ngoại vi là yếu tố
tiên đoán độc lập nguy cơ kháng thuốc (p<0,05), đồng thời, khi giảm
tế bào T CD8
+
, đặc biệt giảm tế bào NK và tăng tế bào mono trong
máu ngoại vi thì càng làm tăng nguy cơ tình trạng kháng thuốc (rất
có ý nghĩa thống kê với p=0,001 và 0,0001).
Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ ra rằng, giảm số lượng tế
bào T
h
CD4
+
, giảm số lượng tế bào diệt tự nhiên (NK) và tăng số lượng
bạch cầu mono trong máu ngoại vi, thật sự là các yếu tố nguy cơ cho tình
trạng lao phổi đa kháng thuốc. Đặc biệt, kết quả trong nghiên cứu này
5.1 Kết luận
5.1.1 Tỷ lệ các loại lao phổi kháng thuốc tại TP Cần Thơ
Nghiên cứu 246 chủng vi khuẩn lao ở bệnh nhân lao phổi tái
điều trị tại TP Cần Thơ, chúng tôi thu được kết quả: tỷ lệ vi khuẩn
lao phổi kháng thuốc chung là 63,82%, tỷ lệ lao phổi đa kháng thuốc
là 23,17%, tỷ lệ kháng đơn thuốc gồm tỷ lệ kháng với SM là 52,44%,
kháng INH là 47,15%, kháng RMP là 25,2%, kháng EMB là 11,9%,
kháng PZA là 9,76%, tỷ lệ mức độ kháng kết hợp 1 loại thuốc là
21,54%, kháng 2 loại thuốc là 17,07%, kháng 3 loại thuốc là 13,14%,
kháng 4 loại thuốc là 8,54%, kháng 5 loại thuốc là 3,25%.
5.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính kháng thuốc của vi khuẩn
lao tại thành phố Cần Thơ
a. Tỷ lệ và các kiểu đột biến gây kháng thuốc của vi khuẩn
lao tại Cần Thơ qua kết quả giải trình tự gen rpoB của 40 chủng vi
khuẩn lao đa kháng thuốc cho thấy: + Tỷ lệ đột biến kháng thuốc ở
vi khuẩn lao là 75% (30/40 chủng), và 10/40 chủng vi khuẩn lao
kháng RMP nhưng không xảy ra đột biến kiểu gen trên vùng RRDR,