tiểu luận kinh tế lượng phân tích tác động của tăng trưởng kinh tế đến mức độ ô nhiễm môi trường - Pdf 64

Trường đại học Ngoại Thương
Khoa Kinh Tế Quốc Tế
*********

TIỂU LUẬN KINH TẾ LƯỢNG 1
Lớp tín chỉ: KTE218(2-1819).2
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thu Giang

Đề tài: Phân tích tác động của tăng trưởng kinh tế
đến mức độ ô nhiễm môi trường
Sinh viên thực hiện:
Hoàng Vân Anh

1714410011

Nguyễn Thị Ánh Dương

1714410049

Nông Thị Hồng Hạnh

1714410084

Nguyễn Thúy Hằng

1714410080

Trịnh Thị Thu Thúy

1714410223


thời kiểm nghiệm lại những kết quả thu được, và loại bỏ biến oil ra
khỏi mô hình vì không có ý nghĩa giải thích cho biến ô nhiễm không
khí. Từ đó kết quả chạy mô hình thu được có mức ý nghĩa 1%-10%
Kết quả thu được từ việc phân tích chạy mô hình cho thấy, tốc
độ tăng trưởng kinh tế có tác động cùng chiều với mức độ ô nhiễm
không khí. Cụ thể, khi tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng 1% thì mức
độ ô nhiễm không khí giảm 0.0191 đơn vị. Kết quả thu được khá bất
ngờ vì trái với những nhận định ban đầu: khi kinh tế ngày càng tăng
trưởng sẽ làm giảm mức độ ô nhiễm môi trường. Nhưng có thể thấy,
kết quả mô hình phần nào giải thích được lý thuyết đường cong
Kuznet

3


NỘI DUNG
Cơ sở lý luận
1. Các lý thuyết kinh tế liên quan
1.1.
Lý thuyết đường cong Kuznet
Đường cong Kuznets (EKC) thường được sử dụng để biểu thị mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường. Nó dựa
trên giả thuyết mối quan hệ chữ U ngược giữa sản lượng của nền
kinh tế tính trên đầu người và thước đo của chất lượng môi trường:
khi GDP bình quân đầu người tăng thì dẫn đến môi trường bị suy
thoái; tuy nhiên, khi đạt đến một điểm nào đó, thì tăng GDP bình
quân đầu người lại làm giảm suy thoái môi trường
Một vài nhận xét về đường cong Kuznets:
- Ở mức thu nhập thấp, việc giảm nhẹ ô nhiễm khó có thể thực
hiện được bởi các cá nhân thường có xu hướng sử dụng khoản


5


hưởng đến môi trường thông qua các yếu tố trực tiếp như quy mô
dân số, mức độ giàu có trên đầu người và trình độ công nghệ.
Tuy nhiên, do giới hạn của mô hình IPAT, các biến trong mô
hình thay đổi tuyến tính theo tỷ lệ. Năm 1994, York và cộng sự đề
xuất các tác động ngẫu nhiên theo hồi quy về mô hình dân số, sự
giàu có và công nghệ (STIRPAT) dựa trên IPAT. Mô hình STIRPAT bảo
tồn cấu trúc nhân của mô hình IPAT, lấy dân số, sự giàu có và công
nghệ làm yếu tố chính ảnh hưởng đến môi trường. Phương trình mô
hình STIRPAT như sau:
I = a*Pb*Ac*Td*e
Trong đó:

I đại diện cho tác động đến môi trường
P có nghĩa là quy mô dân số
A có nghĩa là sự giàu có
T đại diện cho các yếu tố kỹ thuật
e là lỗi mô hình.
Từ đó chúng ta có thể đánh giá được tác động của quy mô dân
số, sự giàu có và yếu tố kĩ thuật đến môi trường.
1.3.
Phương pháp ước lượng OLS
Xét mô hình hồi quy tổng thể:
Y i= + X i + u i
Mô hình hồi quy mẫu:
= + Xi +
Mục tiêu của phương pháp là tìm ra các ước lượng và sao cho

Không có sự tương quan giữa Ui và Xi



các sai số Ui có phân phối chuẩn

2. tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1. Nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước

Từ rất lâu rồi vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu về những tác động
ảnh hưởng đến chất lượng môi trường đã được các nhà nghiên cứu
và những nhà hoạch định chính sách rất quan tâm và chú trọng, đặc
biệt là tác động của tăng trưởng kinh tế lên chất lượng môi trường,
khi nhà hoạch định chính sách phải cân nhắc lựa chọn giữa nền kinh
tế tăng lên không ngừng với chất lượng môi trường.
Trong đó phải kể đến nghiên cứu của Tommy Chowdhury về
mối quan hệ giữa chỉ số hiệu suất môi trường và tốc độ tăng trưởng
GDP từ các nước BRICS. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê
mô tả để phân tích nguồn dữ liệu thứ cấp về mối quan hệ EPI và GDP
trong giai đoạn 2008-2016. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ngoại trừ
năm 2010 thì những năm còn lại sự tác động giữa chỉ số hiệu suất
môi trường và tốc độ tăng trưởng GDP là mối quan hệ ngược chiều,
với dữ liệu như sau:
Average GDP growth rate
5.42
7.18
3.46
3.54
2.06


logCO2 it =βit + β2log(INCit) +β3log(CO2it)2 + β4log(ENCit) +β5FDIit + eit
Trong đó:

quốc gia thứ i với i = 1,…, N;
năm t với t = 1,…, T;
eit là nhiễu trắng.

Nghiên cứu sử dụng 5 kỹ thuật ước lượng: Mô hình hồi quy Pool
OLS; mô hình tác động cố định (FEM) và tác động ngẫu nhiên (REM)

8


đối với dữ liệu bảng; phương pháp FGLS và phương pháp ước lượng
GMM.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ U ngược giữa
môi trường và tăng trưởng kinh tế thuộc khu vực này, đồng thời chỉ
ra tác động thuận chiều của năng lượng đến lượng khí thải CO2 thước đo chất lượng môi trường.
2.2. Giả thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu đưa ra bằng chứng về tác động của tăng trưởng
kinh tế đến môi trường tại 27 nước trên thế giới giai đoạn 20102014. Sử dụng phương pháp kinh tế lượng, bài viết chỉ ra mối quan
hệ ngược chiều giữa tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường.
Đồng thời sử dụng thêm các biến: dân số, diện tích, chỉ số phát triển
con người, lượng tiêu thụ dầu để giải thích chính xác hơn về tác
động trên.
II.
Mô hinh kinh tế lượng
1 Viết phương trình kinh tế lượng
pollu= β0 + β1log(gdp) + β2square + β3popu + β4log(oii)l + β5hdi +u

Cách
biến

đo Đơn vị Nguồn
biến
liệu

số Kỳ
vọng
tác
động

Phơi
mg/m^ Brauer, M.
nhiễm
3
et
al.
được tính
2016, for
bằng
the Global
trọng số
Burden of
trung
Disease
bình hàng
Study
năm của
2016.

và dịch vụ
cuối
cùng
được sản xuất
ra trong phạm
vi một lãnh
thổ nhất định
(thường

quốc
gia)
trong một thời
kỳ nhất định
(thường

một năm).

GDP (Y) là Nghìn
tổng của tỷ US$
tiêu dùng
(C), đầu
tư (I), chi
tiêu chính
phủ
(G)

cán
cân
thương
mại (xuất

Cùng
Bank
chiều
national
accounts
data, and
OECD
National
Accounts
data files.

The World
Bank Data

10


hợp,
định
nghĩa của các
vùng nước nội
địa bao gồm
các sông và
hồ lớn.
Dân
số

popu Tổng dân số Tổng
dựa trên định
nghĩa thực tế

dụng
năng
lượng
trên
GDP
GDP
không
đổi.
PPP GDP là
tổng
sản
phẩm
quốc
nội
được
chuyển
đổi
sang đô la
quốc tế không
đổi năm 2011
bằng tỷ lệ

Triệu
người

sản xuất kg/100
bản
địa 0$ GDP
cộng với
nhập


ngang giá sức
mua. Một đô
la quốc tế có
sức
mua
tương đương
với GDP như
một đô la Mỹ
có ở Hoa Kỳ.
Chỉ
hdi
số pt
con
ngườ
i

Chỉ số phát
triển
con
người (HDI) là
một chỉ số
tổng
hợp
thống kê về
tuổi thọ, giáo
dục và chỉ số
thu nhập bình
quân
đầu


thước đo
ba
khía
cạnh
chính của
sự
phát
triển của
con
người:
một cuộc
sống lâu
dài

khỏe
mạnh,
tiếp cận
kiến thức

chất
lượng
cuộc
sống. HDI
là giá trị
trung
bình hình
học của
các chỉ số
chuẩn

triển con người của mỗi quốc gia với chỉ số nhỏ nhất là 0.47, nhưng
cũng có những quốc gia có chỉ số phát triển con người là 1 và trung
bình chỉ số phát triển con người chung của các quốc gia đó là 0.80.

- Bảng giá trị:
pollu

gdp

square

popu

oil

hdi

min

5.16

290.67

0.72

4.37

61.86

0.47


13


I

Kết quả ước lượng và suy diễn thống kê
1. Bảng kết quả, so sánh các ước lượng và diễn giải kết
quả
1.1. Bảng kết quả chạy mô hình

p
gdp

-0
(0

log(gdp)
population
square

oil

14


log(oil)
Hdi
intercept


= -61.97 : Khi các biến còn lại được kiểm soát thì khi chỉ số phát
triển con người tăng lên 1 đơn vị thì mức độ ô nhiễm không khí giảm
đến 61.97 đơn vị
= 67.67: Khi tất cả các biến đều được kiểm soát thì mức độ ô nhiễm
không khí là 67.67
2. Kiểm định giả thuyết
2.1. Kiểm định hệ số góc
a. KIỂM ĐỊNH HỆ SỐ GÓC CỦA GDP
Kiểm định giả thuyết:
Ta có giá trị :
tgdp= ; df=123
t0.025(123)= 1.645
Ta có => bác bỏ giả thuyết H0 với mức ý nghĩa 5%
b. KIỂM ĐỊNH HỆ SỐ GÓC CỦA OIL
1.1.

-

-

-

-

-

15


Kiểm định giả thuyết:

mô hình mới có mức ý nghĩa cao hơn từ 0.1% đến 1%
b. Kiểm định đa cộng tuyến của mô hình hồi quy
- Trước khi bỏ biến oil ra khỏi mô hình:
pollu= β0 + β1log(gdp) + β2area + β3popu + β4log(oil) + β5hdi +u
log(gdp)

popu

square

log(oil)

hdi

2.669004

2.125393

1.808368

1.388581

2.057730

- Kiếm định đa cộng tuyến trường hợp bỏ đi biến oil
log(gdp)

popu

square

bài viết phù hợp với mô hình Stirpat.
Bên cạnh đó sau khi chạy mô hình có thể thấy chỉ số phát triển
con người quyết định rất lớn đến mức độ ô nhiễm của một quốc gia.
2.4. Ý nghĩa thống kê và ý nghĩa kinh tế của hệ số hồi quy
Sau khi bỏ biến oil ra khỏi mô hình thì:
Biến log(gdp) có ý nghĩa thổng kê mức 10% , nhưng chưa có nhiều ý
nghĩa về mặt kinh tế: khi tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng 1% thì
mức độ ô nhiễm không khí giảm 0.0191 đơn vị
Biến square có ý nghĩa thống kê ở mức 10% nhưng gần như không
có ý nghĩa về mặt kinh tế: khi diện tích tăng 1 nghìn m 2 thì mức độ ô
nhiễm không khí chỉ giảm 0.00042 đơn vị
Biến popu có ý nghĩa thống kê ở mức 1% nhưng cũng không có
nhiều ý nghĩa về mặt kinh tế: khi dân số tăng 1 triệu người thì mức
độ ô nhiễm không khí chỉ tăng lên 0.031 đơn vị
Biến hdi có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức 1% và cũng có nhiều ý
nghĩa vè mặt kinh tế: Khi chỉ số phát triển con người tăng lên 1 đơn
vị thì mức độ ô nhiễm không khí giảm 60.82 đơn vị
3. Cơ chế
- Trong giai đoạn nền kinh tế đang phát triển của một quốc gia,
các hoạt động sản xuất kinh doanh để phát triển kinh tế sẽ làm cho
nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm. Khi
chuyển sang giai đoạn phát triển, tăng trưởng kinh tế thúc đẩy quá
trình tìm kiếm và khai thác các nguồn năng lượng mới sạch hơn, an
toàn hơn cho môi trường làm cho chất lượng môi trường được cải
thiện.
- Dân số vào diện tích cùng có những tác động đến chất lượng
môi trường. Hiện nay, diện tích các quốc gia hầu như không thay đổi
trong khi dân số tăng lên nhanh chóng đã gây sức ép nặng nề tới
môi trường. Do đó, chất lượng môi trường ngày càng suy giảm. Ở
các quốc gia có diện tích nhỏ nhưng dân số lớn thì điều này càng thể

người là nhân tố quyết định đến sự ô nhiễm môi trường. Vì vậy,
muốn môi trường trở nên bớt ô nhiễm thì mỗi quốc gia cần đầu tư
phát triển con người, nâng cao nhận thức và ý thức của mỗi người.

18


KẾT LUẬN
Bài viết nghiên cứu về tác động của tăng trưởng kinh tế tới chất
lượng môi trường trong mối tương quan với các biến: mức độ ô
nhiễm không khí, diện tích, dân số, lượng dầu tiêu thụ và trình độ
phát triển con người cho 26 quốc gia thuộc nhiều khu vực khác nhau
trên thế giới. Bằng việc áp dụng phương pháp OLS và tham khảo
một số lý thuyết như lý thuyết đường cong Kuznet, mô hình STIRPAT,
chúng em tìm ra rằng có một mối quan hệ ngược giữa tốc độ tăng
trưởng kinh tế và mức độ ô nhiễm môi trường. Để có một nền kinh tế
phát triển bền vững, các quốc gia cũng cần có những chính sách phù
hợp để bảo vệ môi trường, sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo và
phát triển kinh tế xanh. Đồng thời, nâng cao nhận thức, ý thức của
mỗi người dân về môi trường sống cũng là một điều cần thiết để giữ
vững chất lượng môi trường đi đôi với phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, với cơ sở lý thuyết còn hạn chế nên bài viết chưa
thực sự được kiểm định đầy đủ các yếu tố sai sót trong mô hình như
kiểm định phương sai sai số thay đổi,.... Nhưng mong rằng với những
phân tích và kết quả của mô hình có thể thấy được tác động của các
yếu tố đến ô nhiễm môi trường để trong tương lai có những kế
hoạch, chính sách phù hợp nhằm bảo vệ môi trường trong quá trình
phát triển kinh tế.

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status