Eleven nhật bản – bài học và ứng dụng thƣơng mại điện tử vào kinh doanh bán lẻ - Pdf 64

Hoàng Thị Thảo Trang – MSV: 1512210231

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU............................................................................................................... 1
PHẦN NỘI DUNG........................................................................................................ 2
CHƢƠNG I – THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ - CƠ SỞ THỰC TẾ VÀ LÍ LUẬN.........2
I.

Định nghĩa Thƣơng mại điện tử....................................................................... 2

II. Các loại hình hoạt động chủ yếu trong thƣơng mại điện tử.............................. 4
CHƢƠNG II: SEVEN – ELEVEN – TẬP ĐOÀN BÁN LẺ LỚN NHẤT NHẬT
BẢN:.......................................................................................................................... 4
I.

HỒ SƠ 7-Eleven:.............................................................................................. 4
1. Khởi nguồn và hình thành:............................................................................ 4
2. Seven – Eleven và những con số:.................................................................. 5

II. Bí quyết thành công của 7 – Eleven và cuộc cách mạng thƣơng mại điện.......6
1. Thành công đến từ “tiện lợi” và “linh hoạt”.................................................. 6
2. Cuộc cách mạng Thƣơng mại điện tử của 7 - Eleven:.................................. 7
3. Ứng dụng thƣơng mại điện tử của 7 – Eleven để tối ƣu hàng lƣu kho:........8
III.

Thế mạnh để phát triển thƣơng mại điện tử tại Nhật Bản:............................9

1. Các phƣơng tiện thông tin đa dạng:.............................................................. 9
Mạng lời dịch vụ phân phối và thanh toán rộng khắp và hoạt động với
cƣờng độ cao:...................................................................................................... 9
2.

của các quốc gia, các khối kinh tế trong cuộc cạnh tranh mang tính khu vực hóa và
toàn cầu hóa ngành càng sâu sắc. Nhật Bản là một quốc gia có chỉ số kinh tế hang đầu
trên thế giới cũng nhƣ có sự ứng dụng mạnh mẽ của công nghệ thông tin trong mọi
lĩnh vực. Bên cạnh những ông lớn trong ngành thƣơng mại điện tử nhƣ Rakuten, hiện
nay, các doanh nghiệp bán lẻ của Nhật Bản cũng đã có sự vận dụng mạnh mẽ thƣơng
mại điện tử vào kinh doanh để đẩy mạnh và nâng cao sức mua.
Ở Việt Nam, thƣơng mại điện tử đã bắt đầu hình thành song vẫn còn ở giai
đoạn khởi động. Cùng tìm hiểu một trong những doanh nghiệp bán lẻ tiêu biểu của
Nhật Bản là 7 - Eleven để có những hiểu biết về phƣơng thức kinh doanh hiệu quả của
Nhật Bản cũng nhƣ rút ra bài học kinh nghiệm cho các vấn đề về thƣơng mại điện tử
có thể áp dụng vào thực tiễn sau này.
Để làm rõ vấn đề, chúng ta sẽ đi qua 3 chƣơng của tiểu luận 7 – Eleven Nhật Bản –

Bài học và ứng dụng Thƣơng mại điện tử vào kinh doanh bán lẻ :
CHƯƠNG I – THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ - CƠ SỞ THỰC TẾ VÀ LÍ LUẬN CHƯƠNG
II: SEVEN – ELEVEN – TẬP ĐOÀN BÁN LẺ LỚN NHẤT NHẬT BẢN CHƯƠNG III:
MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG
MẠI ĐIỆN TỬ TRONG GIAI ĐOẠN TIẾP THEO Ở VIỆT NAM

1


Hoàng Thị Thảo Trang – MSV: 1512210231

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I – THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ - CƠ SỞ THỰC TẾ VÀ LÍ LUẬN
I.

Định nghĩa Thƣơng mại điện tử.
Các định nghĩa về thƣơng mại điện tử rất đa dạng và có khá nhiều điểm khác


Hoàng Thị Thảo Trang – MSV: 1512210231

Hiểu theo cách thông thƣờng, định nghĩa này rất gần với những quan tâm của chính
phủ trong việc đƣa ra những sự lựa chọn mang tính chiến lƣợc để tạo môi trƣờng
thích hợp cho sự phát triển TMĐT. Mô hình thứ hai (mô hình IMBSA) có thể đƣợc
diễn tả theo cách thức sau: 1. I viết tắt của hạ tầng (Infrastructure) - điều kiện đầu tiên
cho sự phát triển TMĐT và sử dụng Internet là hạ tầng viễn thông - lớp đầu tiên của
mô hình này. 2. M viết tắt của thƣ tín (Messages) - Một trong những điều kiện cần
thiết đầu tiên là phát triển các công cụ nhằm tiêu chuẩn hóa và làm tƣơng thích các
thƣ tín điện tử - những thứ sẽ đƣợc trao đổi trong quá trình giao dịch TMĐT. Mặc dù
về cơ bản thƣ tín mang một “chức năng quốc tế” (thƣ tín cần đƣợc trao đổi trên phạm
vi toàn cầu) nhƣng chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc chấp thuận và phổ
biến. 3. B là các cơ sở pháp lý căn bản (Basic Rules) - những đạo luật cơ bản và mang
tính quốc tế, bao gồm những lĩnh vực liên quan tới TMĐT. Ví dụ nhƣ luật thƣơng mại
(WTO), luật sở hữu trí tuệ (WIPO), cũng nhƣ các qui định liên quan đến việc trao đổi
thƣ tín điện tử,... 4. S là các cơ sở pháp lý trong từng lĩnh vực (Sectoral Rules). Các
hoạt động trong mỗi lĩnh vực liên quan tới giao dịch TMĐT (nhƣ các hoạt động thuộc
ngân hàng, các mặt hàng cụ thể có thể mua bán qua mạng thông tin, hay thậm chí
những hoạt động cụ thể chịu ảnh hƣởng của TMĐT nhƣ giáo dục, y tế,...) cần phải
dựa trên một hệ thống pháp luật và qui định nhất quán, có thể đoán định. 5. A là các
ứng dụng (Applications). Khi các điều kiện trên đã đƣợc đảm bảo, sự thành công của
một chiến lƣợc TMĐT cần đƣợc đảm bảo rằng các doanh nghiệp tham gia TMĐT có
thể thực sự thu lợi từ môi trƣờng đã đƣợc tạo ra. Nhìn chung, khái niệm “thƣơng mại
điện tử” vẫn đang trong quá trình định hình. Các tổ chức, các doanh nghiệp, các cá
nhân, các chính phủ thƣờng đƣa ra định nghĩa về TMĐT căn cứ theo từng mục tiêu cụ
thể nhƣ: tiến hành TMĐT, đo lƣờng giá trị TMĐT hay xây dựng chiến lƣợc TMĐT,
ban hành chính sách phát triển TMĐT,... Từ những quan niệm khác nhau về thƣơng
mại điện tử, có thể hiểu khái niệm này với những đặc trƣng cơ bản sau:
Thƣơng mại điện tử là loại hình thƣơng mại hiện đại, đánh dấu bƣớc phát triển

Năm 1927, Joe C.Thompson, một trong những giám đốc sáng lập Ice Southland,
cho phép Jefferson, một nhân viên, bán trứng, sữa và bánh mỳ tại một trong những cửa
hàng của công ty ở thành phố Dallas. Khi đó, những cửa hàng tạp hóa nhỏ và những
gánh hàng rong khá phổ biến.
Tuy nhiên, Jefferson nhanh chóng nhận ra lợi thế của việc bán những sản phẩm
nhƣ bánh mỳ và sữa trong các cửa hàng tiện lợi. Nó giúp khách hàng không phải đi
những quãng đƣờng xa để tìm mua hàng hóa cơ bản. Cuối cùng, anh mua lại Công ty
Ice Southland và đổi tên thành Công ty Southland.
Năm 1928, Jenna Lira, một giám đốc điều hành, mang về một cột gỗ, là món quà
lƣu niệm từ bang Alaska, và đặt nó trƣớc cửa hàng. Món quà này thu hút sự chú ý của
rất nhiều khách hàng. Sau đó, doanh nghiệp quyết định đặt những cột gỗ tƣơng tự
trƣớc mỗi cửa hàng và đặt tên cửa hàng là Tote'm Store - nghĩa là khách đến mua hàng
và mang đi.
Southland liên tục phát triển cho đến khi Đại suy thoái xảy ra và đẩy doanh nghiệp
về phía bờ vực phá sản. Tuy nhiên, công ty vẫn tiếp tục hoạt động thông qua tái tổ
chức và tiếp quản.

4


Hoàng Thị Thảo Trang – MSV: 1512210231

WW Overton Jr., một nhân viên ngân hàng ở Dallas giúp Southland sống lại bằng cách
bán trái phiếu của công ty, đem lại quyền sở hữu dƣới sự kiểm soát của một ban giám
đốc.
b) 7-Eleven ra đời
Sau Chiến tranh thế giới thứ II, nhằm tận dụng trạng thái bùng nổ kinh tế, tên của
chuỗi cửa hàng đổi thành 7-Eleven. Cái tên này phản ánh thời gian mà cửa hàng hoạt
động, từ 7h sáng đến 23h đêm - điều chƣa từng có tại thời điểm đó.
Mãi đến năm 1968, doanh nghiệp mới thử nghiệm một cửa hàng mở cửa cả ngày

Năm 2007, 7-Eleven còn vƣợt McDonald’s trở thành chuỗi có số lƣợng cửa hàng
nhiều nhất thế giới. Thậm chí, tờ Huffington Post còn thống kê: Cứ khoảng hai tiếng, ở
một nơi nào đó trên thế giới, lại có một cửa hàng 7-Eleven mới mọc lên.
Ông chủ của chuỗi cửa hàng bán lẻ lớn thứ 2 thế giới hiện là Masatoshi Ito, một tỷ phú
ngƣời Nhật và đồng thời là nhà sáng lập kiêm chủ tịch của Seven & I Holdings. Tỷ
phú Ito sở hữu tài sản ròng ƣớc tính lên đến 4,1 tỷ USD, theo Forbes. Ông xếp thứ 9
trong danh sách “50 ngƣời giàu nhất Nhật Bản” năm 2015 và đứng thứ 512 danh sách
các tỷ phú của thế giới năm 2015 của Forbes.

II.

Bí quyết thành công của 7 – Eleven và cuộc cách mạng thƣơng mại
điện
1. Thành công đến từ “tiện lợi” và “linh hoạt”
Ở Indonesia, 7-Eleven giống nhƣ một quán cà phê quen thuộc với 65% khách hàng

dƣới độ tuổi 30. Các cửa hàng cung cấp wifi miễn phí, bàn ghế để ngồi cả bên trong và
bên ngoài, và thƣờng có cả “nhạc sống”. Giới trẻ tụ tập hàng đêm, sau những giờ học

và làm việc căng thẳng.
Với ngƣời Đài Loan, 7-Eleven thậm chí còn phổ biến hơn cả Starbucks với ngƣời
Texas. Tại Đài Bắc, có 4.400 địa điểm cho một thành phố 23 triệu ngƣời, với nhiều
phố thậm chí còn có trên hai cửa hàng.
Cuối cùng, để tạo sự khác biệt, 7-Eleven đã cho ra đời một món đồ uống riêng, đặc
trƣng của cửa hàng mình đó là nƣớc uống Slurpee - sau này trở thành biểu tƣợng của
chuỗi cửa hàng này.
Vào cuối những năm 1950, các cửa hàng này hay bán chai đồ uống soda lạnh,
nhƣng khi ấy máy làm soda bị hỏng, các chai soda này đƣợc đặt vào tủ lạnh để làm
lạnh và khi lấy ra, ngƣời ta thấy nƣớc trong chai sô da này có dạng xốp xốp, uống
nghe kêu lạo xạo, món đồ uống này trở nên rất đắt khách.

thức đi vào hoạt động. Seven- Eleven lắp đặt các thiết bị thông tin ở khắp các cửa
hàng. Hàng hóa đƣợc đặt thông qua các thiết bị thông tin này hoặc có thể thông qua
máy tính ở các hộ gia đình. Việc thanh toán và giao hàng có thể thực hiện ở ngay tại
các siêu thị hình thức thanh toán có thể bằng tiền mặt hoặc thẻ tín dụng, hoặc có thể
thông qua trang web bằng cách sử dụng thẻ tín dụng. Nhìn chung ngƣời Nhật Bản vẫn
còn tỏ ra e dè trong việc sử dụng thẻ tín dụng trên Internet nên phƣơng thức trả tiền tại
siêu thị đã thu hút đƣợc số đông ngƣời tiêu dùng ở Nhật Bản. Thêm vào đó, các khách
hàng có thể ghé qua siêu thị gần nhất và lấy hàng bất cứ lúc nào. Điều này cũng giúp
cho các siêu thị có thể giao hàng cho nhiều ngƣời một lúc mà không cần phải đem
hàng đến tận nhà cho khách hàng nhiều lần và không phải chờ đợi khách hàng khi họ
vắng nhà.
Seven – Eleven bắt đầu kinh doanh mặt hàng sách trên Internet vào cuối tháng 11/1999
trên cơ sở hợp tác với Softbank. Khách hàng có 3 sự lựa chọn sau trong việc thanh
toán tiền hàng:
1. Thanh toán tiền và nhận sách ở các siêu thị Seven – Eleven.

7


Hoàng Thị Thảo Trang – MSV: 1512210231

2. Thanh toán tại siêu thị và nhận sách qua dịch vụ giao nhận tại nhà.
3. Thanh toán bằng thẻ tín dụng và nhận sách qua dịch vụ giao nhận tại nhà.
Theo chủ tịch của tập đoàn Seven – Eleven thì có tới 93% khách hàng ở Nhật Bản
chọn cách đầu tiên là thanh toán và nhận hàng đã đặt ngay tại siêu thị của Seven –
Eleven.
3. Ứng dụng thƣơng mại điện tử của 7 – Eleven để tối ƣu hàng lƣu kho:
Seven – Eleven sử dụng công nghệ nhận biết qua tần số radio (RFID). Khi đóng
gói mỗi sản phẩm, ngƣời ta gắn thêm một con chip chứa đựng các thông tin về ngày
sản xuất, nơi sản xuất, số lô và ngày bán hàng. Chip và antenna nhỏ đƣợc gắn vào một

các nhà quản lý xác định lƣợng hàng cần thiết phù hợp với nhu cầu. Các thiết bị
không dây này có màn hình cảm ứng, ảnh sản phẩm, do đó dễ dàng sử dụng và có đội
chính xác cao.
7 – Eleven là một trong rất nhiều công ty đang sử dụng các thiết bị di động để quản
lý hàng lƣu kho tốt hơn, tăng hiệu quả kinh doanh, cải tiến dịch vụ khách hàng và
tăng lợi nhuận. Trên thực tế 7 – Eleven còn tiến xa hơn bằng cách sử dụng công nghệ
RFID.
Bên cạnh sự đầu tƣ và chất xám mà ngƣời Nhật bỏ ra để hoàn thiện kế hoạch
của mình, cũng phải xét đến các nhân tố khác đóng góp vào sự thành công của việc
áp dụng thƣơng mại điện tử vào kinh doanh trong môi trƣờng Nhật Bản.

III.

Thế mạnh để phát triển thƣơng mại điện tử tại Nhật Bản:
1. Các phƣơng tiện thông tin đa dạng:

Điện thoại di động, máy nhắn tin sử dụng đƣợc dịch vụ I-mode (một dịch vụ điện
thoại di động có thể kết nối Internet) có khả năng tạo ra một thị trƣờng thƣơng mại
điện tử mới đầy triển vọng. Nó tạo ra dịch vụ lƣu thông thông tin mới và tạo ra một
hình thức kinh doanh mới hoạt động cùng với các máy tính cá nhân và các cửa hang
thực sự. Trong lĩnh vực này, Nhật Bản có khả năng là nƣớc sẽ đi đầu về mặt kỹ thuật
và bí quyết kinh doanh.
Các Ki ốt đƣợc đặt ở trƣớc cửa các siêu thị (các conbini) cũng có nhiều tác dụng.
Khách hang không cần phải khởi động máy tính tại nhà mà có thể mua bán một cách
dễ dàng trên Internet tại các ki ốt đặt ngay trƣớc cửa các siêu thị. Hình thức này cũng
đã thu hút đƣợc một lƣợng ngƣời không có máy tính điện tử ở nhà tham gia vào
thƣơng mại điện tử. Đối với một số ngƣời Nhật Bản bận rộn thì sẽ rất thuận lợi khi họ
có thể mua bán hang hóa tại các ki ốt này.

2. Mạng lời dịch vụ phân phối và thanh toán rộng khắp và hoạt động với

Một trong số đó là phải xây dựng một khung pháp luật để điều chỉnh.
Trong dự thảo luật cơ bản về việc thành lập xã hội thông tin tiên tiến (luật cơ bản
IT – Information Technology) đƣợc ban hành 29/10/2000 và bắt đầu có hiệu lực từ
06/01/2001. Trong đó có quy định rằng “Việc thiết lập xã hội thông tin tiên tiến phải
nhằm mục đích xúc tiến thƣơng mại điện tử”. Dự thảo luật cũng đƣa ra những chính
sách và những biện pháp cần thiết để xúc tiến thƣơng mại điện tử cũng nhƣ xem lại
các quy định cũ, tạo lập những quy định mới nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và bảo
vệ ngƣời tiêu dung.

CHƯƠNG III: MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ PHƯƠNG
HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRONG GIAI ĐOẠN
TIẾP THEO Ở VIỆT NAM
I.

Một số vấn đề còn tồn tại trong thƣơng mại điện tử tại Việt Nam:

Chƣa hình thành đầy đủ về các mặt phát triển công nghệ thông tin, nguồn nhân lực
cũng nhƣ hạ tầng cơ sở kinh tế - xã hội – pháp lý.

10


Hoàng Thị Thảo Trang – MSV: 1512210231

3000 trên con số 50000 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong cả mƣớc mở
trang Web để giới thiêu hoạt động kinh doanh và mặt hàng của mình nhƣng đa phần
cũng chỉ giới thiệu về công ty chứ không phải là nơi tăng sức cạnh tranh, đẩy mạnh
hoạt động. Một số doanh nghiệp tiến hành kinh doanh nhƣng còn nhiều bất cập. Việc
bán hàng qua mạng chỉ chiếm khoảng 3% trong tổng số các giao dịch mua bán.
Phƣơng thức thanh toán chủ yếu là trả tiền mặt, hệ thống thanh toán điện tử - công cụ

1.1.

Nhận thức về thƣơng mại điện tử:

11


Hoàng Thị Thảo Trang – MSV: 1512210231

Nâng cao nhận thức của ngƣời dân về thƣơng mại điện tử phải đƣợc coi là một
trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.
Cùng với phát triển văn hóa, giáo dục, Chính phủ cần quan tâm triển khai các
chƣơng trình nâng cao nhận thức về thƣơng mại điện tử cho ngƣời dân, xây dựng và
tổ chức các chƣơng trình đào tạo cấp tốc đội ngũ chuyên gia tin học và thƣơng mại
điện tử.
Phổ biến rộng rãi kiến thức về thƣơng mại điện tử trên truyền thông.
Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng thƣơng mại điện tử.
1.2.

Đào tạo kỹ năng:

Nâng cao kỹ năng sử dụng máy tính, cần đào tạo đƣợc một đội ngũ những ngƣời
hoạt động trong lĩnh vực thƣơng mại điện tử có khả năng sử dụng máy tính thành thạo,
khả năng tiếp cần, và áp dụng đƣợc thƣơng mại điện tử trong hoạt động động kinh
doanh của cơ sở mình.

2. Về cơ sở hạ tầng:
2.1.

Hạ tầng pháp lý:


Hạ tầng đảm bảo an ninh, an toàn thông tin cho thƣơng mại điện tử:

Giải quyết đƣợc vấn đề đảm bảo an ninh và an toàn thông tin.
Xây dựng hạ tầng mật mã khóa công khai đáp ứng yêu cầu của thƣơng mại điện tử.
Kiểm tra, giám sát thƣờng xuyên các hoạt động của thƣơng mại điện tử để từ đó phát
hiện và xử lý những sai sót trong việc thực hiện các giao dịch thƣơng mại điện tử.
2.4.

Hạ tầng về tiêu chuẩn hóa thƣơng mại điện tử:

Các giao dịch trong thƣơng mại điện tử - tức là các giao dịch số hóa – có những
đặc thù riêng đòi hỏi phải có sự nhất quán cao trong thông tin và dữ liệu. Chính đặc
điểm này đã tạo nên sức mạnh của thƣơng mại điện tử nhƣng cũng đặt ra một yêu cầu
không thể thiếu là phải có đƣợc một hệ thống chuẩn hóa trong thƣơng mại điện tử một
đầy đủ, toàn diện.
2.5.

Hạ tầng cơ sở thanh toàn điện tử:

Việt Nam cần phải xây dựng các tiêu chuẩn cho hệ thống Thanh toán điện tử trong
thƣơng mại điện tử, có kế hoạch triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng Thanh toán điện tử
chung của hệ thống ngân hàng.
Song song với công tác xây dựng hạ tầng cho thanh toán điện tử cần phổ biến cho
ngƣời dân thấy rõ đƣợc lợi ích trong việc sử dụng các loại thẻ thanh toán.

3. Về an ninh quốc gia:
Trong thƣơng mại điện tử, an ninh quốc gia là một vấn đề lớn.
Nhà nƣớc cần đƣa ra một số quan điểm rõ ràng và thống nhất về vấn đề an ninh
quốc gia trong thƣơng mại điện tử để từ đó hƣớng dẫn, chỉ đạo các hoạt động trong


15


Hoàng Thị Thảo Trang – MSV: 1512210231

16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status